Trang chủ / Tài liệu / TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN LIÊN QUAN ĐẾN THỜI HIỆU KHỞI KIỆN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN LIÊN QUAN ĐẾN THỜI HIỆU KHỞI KIỆN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Thời hiệu khởi kiện trong tố tụng dân sự là chế định có ý nghĩa quan trọng, làm căn cứ xác định khoảng thời gian để chủ thể thực hiện quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự hoặc thực hiện các quyền tố tụng theo quy định của pháp luật. Thực tiễn áp dụng phát sinh nhiều vướng mắc liên quan đến việc xác định thời điểm bắt đầu, tạm ngừng, gián đoạn và kết thúc thời hiệu, phân biệt thời hiệu khởi kiện với thời hạn tố tụng, cũng như hậu quả pháp lý của việc hết thời hiệu đối với từng loại quan hệ tranh chấp. Việc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này đòi hỏi sự thống nhất trong việc xác định căn cứ tính thời hiệu và hậu quả pháp lý của thời hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các văn bản hướng dẫn, giải đáp nghiệp vụ và các nguồn tham khảo quan trọng của Tòa án liên quan đến thời hiệu khởi kiện trong tố tụng dân sự, qua đó tạo lập cơ sở tham chiếu thống nhất phục vụ hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và thực tiễn áp dụng pháp luật.

MỤC LỤC

1. Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành quy định của Nghị quyết 103/2015/QH13 về thi hành Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 104/2015/QH13 về thi hành Luật tố tụng hành chính

[…]

Điều 4. Áp dụng pháp luật về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu để giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, vụ án hành chính

Khi thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao độngvụ án hành chính thì cần lưu ý như sau:

1. Thời Điểm phát sinh tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 103/2015/QH13 là ngày khởi kiện, ngày yêu cầu. Việc xác định ngày khởi kiện, ngày yêu cầu được thực hiện theo quy định tại Khoản 2, 3 và 4 Điều 190 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13.

2. Thời Điểm phát sinh vụ án hành chính quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 104/2015/QH13 là ngày khởi kiện. Việc xác định ngày khởi kiện được thực hiện theo quy định tại Điều 120 Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13.

3. Quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu tại Điều 159 và Điểm h Khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 được áp dụng đến hết ngày 31-12-2016 để thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

4.Từ ngày 01-01-2017, Tòa án áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 và luật khác có liên quan về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu để thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

[…]


2. Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình 

I. VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỜI HIỆU

1. Việc áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu đối với các giao dịch dân sự

1.1. Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 1/7/1996 (ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực) mà các văn bản pháp luật trước đây có quy định về thời hiệu (thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự và thời hiệu khởi kiện) thì phải áp dụng các quy định về thời hiệu của các văn bản pháp luật đó để xác định thời hiệu còn hay hết, không phân biệt giao dịch dân sự đó được thực hiện xong trước ngày 1/7/1996 hay từ ngày 1/7/1996. Trong trường hợp từ ngày 1/7/1996 các bên tham gia giao dịch dân sự có thoả thuận bổ sung thì cần phân biệt như sau:

a) Trường hợp các bên đang tiếp tục thực hiện hợp đồng dân sự hoặc khi hết hạn thực hiện hợp đồng, có thoả thuận kéo dài thời hạn thực hiện hợp đồng đó thì việc xác định thời hiệu căn cứ vào thoả thuận của các bên và được thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm giao kết hợp đồng.

b) Trường hợp các bên đang tiếp tục thực hiện hợp đồng dân sự, có thoả thuận bổ sung mà thoả thuận đó là một phần không tách rời của hợp đồng dân sự đó thì việc xác định thời hiệu đối với hợp đồng nói chung (bao gồm cả thoả thuận mới) được thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm giao kết hợp đồng.

c) Trường hợp các bên đang tiếp tục thực hiện hợp đồng dân sự, có thoả thuận bổ sung mà thoả thuận đó như một hợp đồng mới thay thế hợp đồng cũ hoặc hoàn toàn độc lập với hợp đồng cũ, thì việc xác định thời hiệu đối với thoả thuận mới được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.

1.2. Đối với giao dịch dân sự được xác lập từ ngày 1/7/1996 đến trước ngày 1/1/2005 mà Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác không có quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu, thì kể từ ngày 1/1/2005 (ngày Bộ luật Tố tụng dân sự được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004 có hiệu lực) việc xác định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều 159 của Bộ luật Tố tụng dân sự; cụ thể như sau:

a) Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày 01/01/2005, nếu tranh chấp phát sinh trước ngày 01/01/2005 hoặc kể từ ngày phát sinh tranh chấp, nếu tranh chấp phát sinh từ ngày 01/01/2005.

b) Thời hiệu yêu cầu để Toà án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày 01/01/2005, nếu quyền yêu cầu phát sinh trước ngày 01/01/2005 hoặc kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, nếu yêu cầu phát sinh từ ngày 01/01/2005.

1.3. Đối với giao dịch dân sự được xác lập từ ngày 01/01/2005 mà Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác không có quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu, thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều 159 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.4. Về thời hạn yêu cầu Toà tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

a) Đối với giao dịch dân sự được giao kết trước ngày 01/7/1996 thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 15 của Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 bao gồm: nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội; một hoặc các bên không có quyền giao kết hợp đồng (chủ thể giao kết hợp đồng không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 3 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991), thì thời gian yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế. Trong mọi thời điểm một bên hoặc các bên đều có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu.

Trong trường hợp các bên vẫn thực hiện hợp đồng và phát sinh tranh chấp, cho nên một bên hoặc các bên khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết, nếu trong quá trình giải quyết Toà án xác định giao dịch dân sự đó là vô hiệu thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 15 của Pháp lệnh Hợp đồng dân sự, thì Toà án có quyền tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu và xử lý hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm giao dịch được xác lập.

b) Đối với giao dịch dân sự được giao kết trước ngày 01/7/1996 thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 15 của Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 bao gồm: hợp đồng dân sự vô hiệu do người chưa thành niên xác lập, thực hiện (do có vi phạm quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991); do một bên bị nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của hợp đồng; bị đe doạ hoặc bị lừa dối), thì thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại Điều 56 của Pháp lệnh Hợp đồng dân sự là ba năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập. Hết thời hạn ba năm mà không có yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, thì giao dịch dân sự đó được coi là có hiệu lực.

Trong trường hợp các bên vẫn thực hiện hợp đồng và phát sinh tranh chấp, cho nên một bên hoặc các bên khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết, nếu đã hết thời hạn ba năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập, thì họ không có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu vì lý do vi phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 15 của Pháp lệnh Hợp đồng dân sự. Trong trường hợp này Toà án tiến hành giải quyết tranh chấp giao dịch dân sự theo thủ tục chung.

c) Đối với giao dịch dân sự được giao kết từ ngày 01/7/1996 mà có yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, thì áp dụng các quy định tại Điều 145 của Bộ luật Dân sự về thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.

1.5. Đối với giao dịch dân sự về nhà ở thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991 và theo hướng dẫn tại Thông tư Liên tịch số 01/1999/TTLT ngày 25/01/1999 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao “hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Nghị quyết về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội” thì thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện.

2. Việc áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện liên quan đến thừa kế

2.1. Quyền thừa kế

“Quyền thừa kế” quy định tại khoản 1 Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, Điều 648 của Bộ luật Dân sự bao gồm quyền yêu cầu chia di sản thừa kế, quyền yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc quyền yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác.

2.2. Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a) Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1996, thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao “hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế”.

Khi xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/7/1991 và di sản là nhà ở thì thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện.

b) Đối với trường hợp thừa kế mở từ ngày 01/7/1996 thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được thực hiện theo quy định tại Điều 648 của Bộ luật Dân sự.

2.3. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản.

a) Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1996 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao “hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế”. Nếu nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản được phát sinh trước ngày 01/7/1991 có liên quan đến nhà ở thì thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện.

b) Đối với trường hợp thừa kế mở từ ngày 01/7/1996 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tải sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. Việc xác định thời hiệu khởi kiện phải căn cứ vào quy định tại các Điều 639, 640 và 418 của Bộ luật Dân sự và hướng dẫn tại các tiểu mục 1.2, 1.3, 1.4 mục 1 Phần I của Nghị quyết này.

2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1) Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2) Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3) Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo Ủy quyền… thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.

[…]


3. Thông tư liên tịch số 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/01/1999 của Toà án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Nghị quyết về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội

[…]

III. VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP CỤ THỂ

[…]

6. Giải quyết tranh chấp về thừa kế nhà ở giữa cá nhân với cá nhân.

Theo quy định tại Điều 9 của Nghị quyết số 58/1998 thì đối với trường hợp thừa kế nhà ở được mở trước ngày 1-7-1991 mà di sản thừa kế chưa được chia, nếu có yêu cầu chia, thì giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Khi thụ lý đơn yêu cầu chia di sản thừa kế loại này, Toà án cần chú ý đến việc tính thời hiệu theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế và hướng dẫn tại điểm c khoản 1 Mục III Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 10-8-1996 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng pháp luật theo Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự“.

[…]

IV. VIỆC TÍNH THỜI HIỆU THEO KHOẢN 2 ĐIỀU 17 CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 58/1998

Đối với tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991, thì việc tính thời hiệu trong từng trường hợp cụ thể như sau:

1. Trong trường hợp chưa khởi kiện mà pháp luật có quy định về thời hiệu khởi kiện, thì thời gian từ ngày 1-7-1996 đến ngày 1-1-1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện.

Ví dụ: Thừa kế được mở ngày 1-5-1990. Theo quy định tại Điều 648 Bộ luật dân sự, thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Áp dụng khoản 2 Điều 17 của Nghị quyết số 58/1998, thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế trong trường hợp cụ thể này đến ngày 1-11-2002, vì mười năm được tính như sau:

– Từ ngày 1-5-1990 đến ngày 1-7-1996 là sáu năm hai tháng.

– Từ ngày 1-7-1996 đến ngày 1-1-1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện.

– Từ 1-1-1999 đến ngày 1-11-2002 là ba năm mười tháng.

(Sáu năm hai tháng + ba năm mười tháng = mười năm).

2. Trong trường hợp đã được xét xử và bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, thì thời gian từ ngày 1-7-1996 đến ngày 1-1-1999 không tính vào thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Ví dụ: Bản án đã có hiệu lực pháp luật ngày 1-3-1995. Theo quy định tại khoản 1 Điều 73 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì “việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ được tiến hành trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Áp dụng khoản 2 Điều 17 của Nghị quyết số 58/1998, thì thời hạn kháng nghị trong trường hợp cụ thể này đến ngày 1-9-2000, vì ba năm được tính như sau:

– Từ ngày 1-3-1995 đến ngày 1-7-1996 là một năm bốn tháng.

– Từ ngày 1-7-1996 đến ngày 1-1-1999 không tính vào thời hạn kháng nghị.

– Từ ngày 1-1-1999 đến ngày 1-9-2000 là một năm tám tháng.

(Một năm bốn tháng+ một năm tám tháng = ba năm).

3. Việc tính thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được thực hiện tượng tự như hướng dẫn tại khoản 2 Mục này.

4. Đối với các vụ án đã thụ lý và đang giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm hoặc đang thụ lý để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm mà Toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết, thì tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.

[…]


4. Công văn số 1476/VKSTC-V9 ngày 23/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình 

[…]

Câu hỏi 14. Đối với các vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất (có yêu cầu áp dụng thời hiệu), thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/7/1991, tại thời điểm mở thừa kế trên đất vẫn còn nhà của người chết thì Tòa án có quan điểm áp dụng pháp luật xác định thời hiệu chia di sản thừa kế đối với quyền sử dụng đất và nhà đều là 32 năm 06 tháng (cộng thêm thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện là 02 năm 06 tháng từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999). Việc áp dụng pháp luật như vậy có đúng không?

Trả lời:

Vấn đề này đã được VKSND tối cao hướng dẫn tại Công văn số 1719/VKSTC-V14 ngày 03/5/2024 trả lời vướng mắc của VKSND thành phố Hải Phòng, cần xác định hai trường hợp như sau:

1. Trường hợp trước khi Tòa án ra bản án sơ thẩm không có đương sự nào yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu thì Tòa án sẽ chia di sản thừa kế đối với quyền sử dụng đất và/hoặc quyền sở hữu nhà theo quy định chung (trên cơ sở đương sự yêu cầu chia di sản nào thì giải quyết đối với di sản đó).

2. Trường hợp có đương sự yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu, căn cứ Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 17 Nghị quyết số 58, các hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao (Mục I Giải đáp số 01/GĐ ngày 05/01/2018 về một số vấn đề nghiệp vụ) và VKSND tối cao (Mục 1.2.1, Phần II Hướng dẫn số 24/HD-VKSTC ngày 12/5/2021 về một số nội dung cơ bản trong công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế), cụ thể: “Khi xác định thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/7/1991 và di sản là nhà ở thì thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp thừa kế không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia”, thì xử lý như sau:

(1) Trường hợp thứ nhất: Di sản của người chết để lại có nhà trên đất, tuy nhiên tại thời điểm tranh chấp nhà trên đất không còn, đương sự không yêu cầu chia thừa kế đối với nhà, thì chỉ áp dụng thời hiệu đối với quyền sử dụng đất (30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế hoặc từ ngày 10/9/1990 nếu thời điểm mở thừa kế trước ngày 10/9/1990). Nếu còn thời hiệu thì chia, không còn thời hiệu thì đình chỉ (không kéo dài thời hiệu thêm 02 năm 06 tháng để giải quyết đối với yêu cầu chia quyền sử dụng đất).

(2) Trường hợp thứ hai: Di sản của người chết để lại có nhiều thửa đất, trong đó có căn nhà được xây dựng trên một trong các thửa đất, tại thời điểm tranh chấp thì nhà không còn; cần phân biệt 2 tình huống:

– Nếu đương sự vẫn yêu cầu xác định giá trị nhà để chia thì đối với thửa đất có nhà trên đất, áp dụng thời hiệu khởi kiện như sau: Nếu thời hiệu 30 năm đối với quyền sử dụng đất đã hết thì phải đình chỉ yêu cầu chia đất, nếu thời hiệu 32 năm 06 tháng đối với nhà vẫn còn thì chia giá trị nhà. Các thửa đất khác không có nhà thì chỉ áp dụng thời hiệu đối với đất.

– Nếu các đương sự không yêu cầu chia nhà, chỉ yêu cầu chia đất thì áp dụng thời hiệu 30 năm đối với tất cả các thửa đất.

(3) Trường hợp thứ ba: Di sản của người chết để lại là quyền sử dụng đất và nhà trên đất, đương sự yêu cầu chia thừa kế cả nhà và quyền sử dụng đất nhưng di sản là đất đã hết thời hiệu, nhà vẫn còn thời hiệu thì: Quyền sử dụng đất hết thời hiệu 30 năm thì phải đình chỉ, nhà vẫn trong thời hiệu 32 năm 06 tháng thì chia giá trị nhà cho những người thừa kế. Như vậy, nếu đương sự không yêu cầu chia di sản thừa kế là nhà mà chỉ yêu cầu chia thừa kế là quyền sử dụng đất thì không được áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với nhà cho quyền sử dụng đất. Nhà không phải đối tượng tranh chấp thì không được áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với nhà. Đồng thời, nếu áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với nhà cho quyền sử dụng đất để kéo dài thời hiệu khởi kiện đối với quyền sử dụng đất thành 32 năm 06 tháng là trái quy định của pháp luật.

Nếu đương sự yêu cầu chia thừa kế cả nhà và quyền sử dụng đất nhưng thời hiệu khởi kiện đối với quyền sử dụng đất đã hết, thời hiệu khởi kiện đối với nhà vẫn còn thì phải đình chỉ đối với yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất, không lấy thời hiệu khởi kiện đối với nhà để áp dụng đối với quyền sử dụng đất.

Do vậy, cần lưu ý vấn đề thời hiệu khởi kiện chỉ đặt ra khi có yêu cầu chia di sản thừa kế, nếu không có yêu cầu thì không đặt ra vấn đề thời hiệu. Đương sự phải có yêu cầu chia nhà ở thì mới áp dụng thời hiệu 32 năm 06 tháng, đương sự không có yêu cầu chia nhà mà chỉ yêu cầu chia đất thì chỉ áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với đất, không được căn cứ vào việc tại thời điểm người có tài sản chết trên đất có nhà để áp dụng thời hiệu khởi kiện của nhà cho đất (xem mục 6 phần III Thông tư liên tịch số 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/01/1999 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991).

Câu hỏi 15. Di sản thừa kế của bố mẹ để lại là quyền sử dụng đất, trong đó có một phần quyền sử dụng đất đã hết thời hiệu khởi kiện mà vụ án có yêu cầu áp dụng thời hiệu, theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự thì phần di sản hết thời hiệu được giao cho người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì phần di sản hết thời hiệu có được xác định là tài sản chung của những người thừa kế để chia đều cho họ không?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản hết thời hiệu khởi kiện thì di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 Bộ luật Dân sự (đủ điều kiện được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật). Trường hợp không có người chiếm hữu đủ điều kiện nêu trên thì di sản thuộc về Nhà nước. Phần di sản hết thời hiệu khởi kiện không mặc nhiên được xác định là tài sản chung của các đồng thừa kế.

Trường hợp di sản chuyển thành tài sản chung của các đồng thừa kế được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình như sau: “Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thức thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết”. Như vậy, để di sản thừa kế của bố mẹ chuyển thành tài sản chung của các người con thì phải có văn bản thoả thuận, xác nhận của những người con về việc không tranh chấp về quyền, hàng thừa kế, xác nhận là đồng thừa kế và thừa nhận di sản chưa chia.

[…]


5. Công văn số 1083/VKSTC-V9 ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình

[…]

Câu 15. Theo khoản 2 Điều 184 BLTTDS năm 2015 thì: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc”.

– Quy định trên có áp dụng đối với tranh chấp về thừa kế tài sản không? (VKS Sơn La)

– Khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2015 quy định: Hết thời hiệu khởi kiện 30 năm thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Vậy khi nguyên đơn khởi kiện mà thời hiệu khởi kiện đã hết thì Tòa án có thụ lý giải quyết vụ án chia thừa kế không? (VKS Thanh Hóa)

Trả lời:

– Quy định tại khoản 2 Điều 184 BLTTDS được áp dụng đối với tất cả các vụ án.

– Khi nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế mà không có bên nào yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện thì Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục chung, cho dù Toà án biết rõ thời hiệu khởi kiện đã hết. Trường hợp có yêu cầu áp dụng thời hiệu theo khoản 2 Điều 184 BLTTDS mà Tòa án xét thấy thời hiệu khởi kiện đã hết thì đình chỉ việc giải quyết vụ án. Trường hợp các đương sự có yêu cầu Tòa án xác định người được hưởng di sản thì Toà án căn cứ khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2015 để xác định di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.

Ví dụ: Ông A chết ngày 01/01/1990, để lại di sản là thửa đất có diện tích 100m2 do con trai út đang quản lý, sử dụng. Ngày 01/01/2022, người con trai cả yêu cầu chia di sản thừa kế của ông A là QSD thửa đất trên. Trường hợp này, thời hiệu khởi kiện đã hết (ngày 10/9/2020 hết thời hiệu khởi kiện) nhưng không có ai yêu cầu áp dụng thời hiệu thì Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Trường hợp có yêu cầu áp dụng thời hiệu theo khoản 2 Điều 184 BLTTDS thì Toà án đình chỉ việc giải quyết vụ án. Trường hợp có đương sự yêu cầu Tòa án xác định người được hưởng di sản thì Tòa án xác định thửa đất trên thuộc về người con trai út.

[…]


6. Công văn số 5814/VKSTC-V14 ngày 25/12/2020 giải đáp vướng mắc về nhận thức, áp dụng pháp luật trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình

[…]

8. Trường hợp giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản có lãi mà một bên có yêu cầu áp dụng thời hiệu thì Tòa án giải quyết như thế nào?

Trả lời:

Khoản 2 Điều 184 BLTTDS quy định: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc”. Như vậy, nếu yêu cầu áp dụng thời hiệu thỏa mãn điều kiện tại khoản 2 Điều 184 thì yêu cầu này được chấp nhận. Đối với tranh chấp hợp đồng vay tài sản có lãi thì cần lưu ý:

– Đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi thì áp dụng thời hiệu. Thời hiệu đối với khoản tiền lãi được xác định như sau: căn cứ điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 thì “Giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này”. Tức là, hợp đồng vay tài sản được xác lập trước hay sau ngày BLDS 2015 có hiệu lực (01/01/2017) thì đối với khoản lãi đều áp dụng thời hiệu khởi kiện là “03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm” theo Điều 429 BLDS 2015.

– Đối với yêu cầu thanh toán nợ gốc thì không áp dụng thời hiệu vì đây là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu theo khoản 2 Điều 155 BLDS.

[…]


7. Hướng dẫn số 13/HD-VKSTC ngày 30/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về nội dung cơ bản trong kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất 

[…]

II. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CẦN LƯU Ý TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN TRANH CHẤP HĐCN, TC QSDĐ

1. Một số vấn đề về tố tụng

Các quy định chung về giao dịch, về hợp đồng trong Bộ luật dân sự (BLDS) và Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) cũng được áp dụng đối với HĐCN, TC QSDĐ. Bên cạnh đó, cần lưu ý một số vấn đề đặc thù riêng, thường có nhận thức, áp dụng không đúng, không thống nhất trong thực tiễn như sau:

1.1. Về thời hiệu khởi kiện

Đối với hợp đồng về quyền sử dụng (HĐVQSD) đất được xác lập từ ngày 01/07/2016 (ngày BLTTDS năm 2015 có hiệu lực): Theo quy định tại Điều 184 BLTTDS năm 2015, Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng được thực hiện theo quy định của BLDS (Điều 429) là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Tuy nhiên, cần lưu ý:

1.1.1. Đối với HĐVQSD đất được xác lập trước ngày 01/7/1996 (ngày BLDS năm 1995 có hiệu lực) mà các văn bản pháp luật trước đây có quy định về thời hiệu: Phải áp dụng các quy định về thời hiệu của các văn bản pháp luật đó để xác định thời hiệu còn hay hết, không phân biệt giao dịch dân sự đó được thực hiện xong trước ngày 01/7/1996 hay từ ngày 01/7/1996. Trường hợp từ ngày 01/7/1996, các bên tham gia giao dịch dân sự có thoả thuận bổ sung thì cần phân biệt như sau:

– Trường hợp các bên đang tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc khi hết hạn thực hiện hợp đồng, có thoả thuận kéo dài thời hạn thực hiện hợp đồng đó thì việc xác định thời hiệu căn cứ vào thoả thuận của các bên và được thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm giao kết hợp đồng.

– Trường hợp các bên đang tiếp tục thực hiện hợp đồng, có thoả thuận bổ sung mà thoả thuận đó là một phần không tách rời của hợp đồng đó thì việc xác định thời hiệu đối với hợp đồng nói chung (bao gồm cả thoả thuận mới) được thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm có thỏa thuận bổ sung.

– Trường hợp các bên đang tiếp tục thực hiện hợp đồng, có thoả thuận bổ sung mà thoả thuận đó như một hợp đồng mới thay thế hợp đồng cũ hoặc hoàn toàn độc lập với hợp đồng cũ, thì việc xác định thời hiệu đối với thoả thuận mới được thực hiện theo quy định của BLDS.

1.1.2. Đối với HĐVQSD đất được xác lập từ ngày 01/7/1996 đến trước ngày 01/01/2005 mà BLDS và các văn bản pháp luật khác không quy định thời hiệu khởi kiện: Kể từ ngày 01/01/2005 (ngày BLTTDS năm 2004 có hiệu lực), việc xác định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là 02 năm kể từ ngày 01/01/2005 nếu tranh chấp phát sinh trước ngày 01/01/2005 hoặc kể từ ngày phát sinh tranh chấp nếu tranh chấp phát sinh từ ngày 01/01/2005.

Theo Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán (HĐTP) Tòa án nhân dân tối cao, khi thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự cần lưu ý: Thời điểm phát sinh tranh chấp, yêu cầu về dân sự quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 103/2015/QH13 là ngày khởi kiện, ngày yêu cầu. Việc xác định ngày khởi kiện, ngày yêu cầu được thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 190 BLTTDS năm 2015. Từ ngày 01/01/2017, Tòa án áp dụng quy định của BLTTDS và BLDS năm 2015 và luật khác có liên quan về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu để thụ lý, giải quyết.

1.1.3. Đối với HĐVQSD đất được xác lập từ ngày 01/01/2005 mà BLDS và các văn bản pháp luật khác không quy định thời hiệu khởi kiện: Thời hiệu khởi kiện được thực hiện theo quy định tại Điều 159 BLTTDS năm 2004: Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm.

1.2. Về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố HĐVQSD đất vô hiệu

Đối với HĐVQSD đất được giao kết từ ngày 01/01/2017 đến nay mà có yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu (theo Điều 132 BLDS năm 2015), cần phân biệt:

– Hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện; hợp đồng được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; hợp đồng do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là 02 năm kể từ một trong các thời điểm sau:

+ Ngày người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết được hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

+ Ngày người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

+ Ngày người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;

+ Ngày người không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch.

– Hợp đồng, vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, hợp đồng giả tạo thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu không bị hạn chế. Điềm khác của BLDS năm 2015 và các BLDS trước đó là: BLDS năm 2015 quy định hợp đồng vi phạm điều cấm “của luật” còn ở các BLDS trước đó quy định hợp đồng vi phạm điều cấm của “pháp luật”. Vi phạm điều cấm của luật là vi phạm những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Hợp đồng có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì bị vô hiệu.

* Ngoài ra, cần lưu ý:

Thứ nhất, đối với HĐVQSD đất được giao kết trước ngày 01/7/1996 thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 15 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự (HĐDS) năm 1991, bao gồm:

Nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội; một hoặc các bên không có quyền giao kết hợp đồng (chủ thể giao kết hợp đồng không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 3 Pháp lệnh HĐDS năm 1991) thì thời gian yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.

Trường hợp các bên vẫn thực hiện hợp đồng và phát sinh tranh chấp, một bên hoặc các bên khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết, nếu trong quá trình giải quyết Toà án xác định giao dịch dân sự đó vô hiệu thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 15 Pháp lệnh HĐDS năm 1991, Toà án có quyền tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu và xử lý hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm giao dịch được xác lập.

Thứ hai, đối với HĐVQSD đất được giao kết trước ngày 01/7/1996 thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 15 Pháp lệnh HĐDS năm 1991 bao gồm: HĐDS vô hiệu do người chưa thành niên xác lập, thực hiện (do có vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 3 Pháp lệnh HĐDS năm 1991); do một bên bị nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của hợp đồng; bị đe dọa hoặc bị lừa dối thì thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại Điều 56 Pháp lệnh HĐDS năm 1991 là 03 năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập. Hết thời hạn 03 năm mà không có yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự đó có hiệu lực.

Trường hợp các bên vẫn thực hiện hợp đồng và phát sinh tranh chấp, một bên hoặc các bên khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết, nếu đã hết thời hạn 03 năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập, thì họ không có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu vì lý do vi phạm quy định khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 15 Pháp lệnh HĐDS năm 1991. Trong trường hợp này, Toà án tiến hành giải quyết tranh chấp theo thủ tục chung.

Thứ ba, đối với HĐVQSD đất được giao kết từ ngày 01/7/1996 đến trước ngày 01/01/2006 mà có yêu cầu Toà án tuyên bố vô hiệu thì áp dụng các quy định tại Điều 136 BLDS năm 2005 về thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.

Thứ tư, đối với HĐVQSD đất được giao kết từ ngày 01/01/2006 đến trước ngày 01/01/2017 mà có yêu cầu Toà án tuyên bố vô hiệu cần phân biệt:

– Giao dịch do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; giao dịch dân sự được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối, đe dọa; do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu là 02 năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập;

– Giao dịch do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; giao dịch giả tạo thì không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu.

[…]


8. Công văn số 443/VKSTC-V9 ngày 15/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc về nghiệp vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình

[…]

Câu 4. Về thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện

Ngày 01/01/2017, ông A vay của Ngân hàng 01 tỷ đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 12%/năm, ngày hết hạn hợp đồng là ngày 01/01/2018. Đến hạn hợp đồng ông A không trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận, nhưng Ngân hàng không khởi kiện. Ngày 01/4/2021, Ngân hàng mời ông A lên làm việc để thống nhất số tiền vốn, lãi còn nợ và đưa ra phương án trả nợ, tại buổi làm việc ông A thừa nhận còn nợ Ngân hàng 01 tỷ tiền nợ gốc và 200 triệu đồng tiền lãi, nhưng ông A vẫn không trả vốn và lãi mặc dù được Ngân hàng nhắc nhở nhiều lần. Ngày 01/7/2021, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông A trả nợ gốc và lãi. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, ông A yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện.

Trong trường hợp này, thời hiệu khởi kiện của Ngân hàng được tính từ ngày hết hạn hợp đồng là 01/01/2018 hay ngày ông A thừa nhận nợ 01/4/2021?

Trả lời:

– Đối với yêu cầu trả tiền nợ gốc thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện do đây là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu theo Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS).

– Đối với yêu cầu trả tiền lãi, thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (Điều 429 BLDS).

Trong vụ án trên, mặc dù ông A vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ 01/01/2018 nhưng Ngân hàng không có ý kiến gì. Đến 01/4/2021, Ngân hàng mời ông A lên làm việc để thống nhất số tiền vốn, lãi còn nợ và đưa ra phương án trả nợ. Do đó, có thể hiểu Ngân hàng đã đồng ý gia hạn nợ cho ông A, giữa Ngân hàng và ông A có thỏa thuận mới về thời hạn trả nợ. Do đó, thời hạn 03 năm được tính từ ngày ông A vi phạm nghĩa vụ trả nợ sau khi đã chốt lại nợ với Ngân hàng.

[…]


9. Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Toà án nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc trong xét xử

[…]

III. VỀ DÂN SỰ

[…]

2. Ông A vay của Ngân hàng 01 tỷ đồng, thời hạn vay 01 tháng kể từ ngày 02-01-2017, lãi suất 2% tháng. Sau thời hạn 01 tháng ông A không trả được nợ gốc và lãi. Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày 03-02-2017 đến ngày 03-02-2020, Ngân hàng không khởi kiện yêu cầu ông A trả nợ. Đến nay, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông A trả nợ thì ông A có được quyền yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc hay không?

Theo quy định Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.

Căn cứ quy định nêu trên thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đã hết. Tuy nhiên, theo quy định khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong trường hợp “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Do đó, Ngân hàng có thể khởi kiện ông A yêu cầu đòi lại tài sản (nợ gốc) và Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án mà không phụ thuộc vào việc các bên có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc hay không.

3. Đối với các loại hợp đồng dân sự như hợp đồng thuê nhà, thuê tài sản, hợp đồng vay tài sản của các cá nhân, tập thể với nhau (không phải là hợp đồng tín dụng) thì có áp dụng thời hiệu khởi kiện như quy định tại Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 không?

Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 155 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây:

…2. Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

3. Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai….”

Theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc”.

Do vậy, đối với các tranh chấp về quyền sở hữu, đòi lại tài sản thì Tòa án không áp dụng thời hiệu không phụ thuộc vào việc một bên hoặc các bên có hay không có yêu cầu áp dụng thời hiệu. Đối với các tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự như hợp đồng thuê nhà, thuê tài sản, hợp đồng vay tài sản giữa các cá nhân, tập thể với nhau (không phải là hợp đồng tín dụng) thì thời hiệu khởi kiện áp dụng theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[…]


10. Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Toà án nhân dân tối cao về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử

[…]

IV. DÂN SỰ

3. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán có phải giải thích cho đương sự quyền yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu hay không? (nhiều trường hợp do đương sự không hiểu biết và những người tiến hành tố tụng không giải thích trước khi Tòa tuyên án sơ thẩm dẫn đến đương sự mất quyền yêu cầu áp dụng thời hiệu).

Theo quy định tại Điều 48, Điều 210, Điều 239 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa có trách nhiệm phổ biến, giải thích về quyền và nghĩa vụ cho đương sự đối với những trường hợp mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, ví dụ quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định từ Điều 70 đến Điều 73; khoản 6 Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự…

Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định trách nhiệm của Thẩm phán về việc phổ biến và giải thích cho đương sự quyền yêu cầu áp dụng thời hiệu. Mặt khác, khoản 2 Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc…”.

Để bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán không giải thích cho đương sự quyền yêu cầu áp dụng thời hiệu.

[…]


11. Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Toà án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến vướng mắc trong xét xử

[…]

IV. Về kinh doanh, thương mại

[…]

8. Từ ngày 01-01-2017 (ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành), thời điểm tính thời hiệu khởi kiện đối với các vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 (có hiệu lực từ ngày 01-7-2011) được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự hay Luật Kinh doanh bảo hiểm?

Theo quy định tại Điều 184 và Điều 185 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01-01-2017) quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 03 nămkể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.

Theo quy định tại Điều 30 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 thì “Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là 03 năm kể từ thi điểm phát sinh tranh chấp”.

Điều 336 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam thì “Thời hiệu khởi kiện liên quan đến hợp đồng bảo him hàng hải là 02 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp”.

Như vậy, Luật Kinh doanh bảo hiểm và Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định khác nhau về thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện. Vì trên thực tế hai thời điểm này không đồng nhất: khi người yêu cầu biết sự kiện pháp lý xảy ra xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của họ nhưng họ chưa thực hiện quyền khởi kiện ngay mà sẽ thực hiện thỏa thuận, hòa giải, thống nhất cách giải quyết trong một thời gian nhất định. Khi không thống nhất được cách giải quyết thì mới phát sinh tranh chấp.

Trong trường hợp này, Tòa án phải ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành, tức là Luật Kinh doanh bảo hiểm để xác định thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là 03 năm kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp, thời hiệu khởi kiện liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hải là 02 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp. Quy định này không trái với các nguyên tắc cơ bản quy định tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (nguyên tắc bình đẳng; tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận; thiện chí, trung thực; không xâm phạm đến lợi ích chung và của người thứ ba; tự chịu trách nhiệm).

Ngoài ra, còn có các quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiện yêu cầu trong các luật chuyên ngành khác thì cũng áp dụng quy định của các luật chuyên ngành này mà không áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự khi xác định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu. Ví dụ: Bộ luật Hàng hải Việt Nam (có hiệu lực kể từ ngày 01.7.2017) có quy định về thời hiệu khởi kiện (Thời hiệu khởi kiện về hư hỏng, mt mát hàng hóa; thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng vận chuyển theo chuyến; thời hiệu khởi kiện về vận chuyển hành khách và hành lý; thời hiệu khởi kiện liên quan đến hợp đồng thuê tàu; thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng đại lý tàu biển, thời hiệu khởi kiện liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hải…) thì áp dụng quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam khi xác định thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp liên quan.

[…]


12. Công văn số 263/TANDTC-PC ngày 05/12/2018 của Toà án nhân dân tối cao xác định quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án tranh chấp về di sản thừa kế

Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh vướng mắc của các Tòa án nhân dân trong việc xác định quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án tranh chấp về di sản thừa kế, cụ thể như sau:

Trong vụ án tranh chấp thừa kế tài sản mà trước ngày 01-01-2017 đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, trong đó Tòa án quyết định tạm giao cho người thừa kế quản lý di sản do hết thời hiệu 10 năm yêu cầu chia di sản thừa kế. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế đối với tài sản đó vẫn còn. Vậy trong trường hợp này, người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó hay không?

Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án chỉ quyết định tạm giao cho người thừa kế quản lý di sản và không quyết định việc phân chia di sản vì lý do thời hiệu yêu cầu chia di sản đã hết. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu để yêu cầu chia di sản thừa kế đó vẫn còn thì phải xác định đây là trường hợp Tòa án chưa giải quyết việc phân chia di sản thừa kế. Do đó, Tòa án không áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-5-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xác định người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án và trả lại đơn khởi kiện. Trường hợp này, người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688, khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu Chánh án Tòa án nhân dân các cấp, thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao sau khi nhận được Công văn này cần tổ chức quán triệt và triển khai ngay tới các Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trong cơ quan, đơn vị mình. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc hoặc đề xuất, kiến nghị thì phản ánh về Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để có hướng dẫn kịp thời./.


13. Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Toà án nhân dân tối cao giải đáp vấn đề nghiệp vụ

I. VỀ DÂN SỰ

Trường hợp người để lại di sản thừa kế chết trước năm 1987 mà hiện nay Tòa án mới thụ lý, giải quyết tranh chấp thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được xác định như thế nào?

Kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30-6-2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính thì từ ngày 01-01-2017, Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế.

Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10-9-1990 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể là: thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10-9-1990.

Khi xác định thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 01-7-1991 và di sản là nhà ở thì thời gian từ ngày 01-7-1996 đến ngày 01-01-1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp thừa kế không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia; thời gian từ ngày 01-7-1996 đến ngày 01-9-2006 không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp thừa kế có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia.

[…]


14. Công văn số 152/TANDTC-PC ngày 19/7/2017 của Toà án nhân dân tối cao giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, xử lý nợ xấu

[…]

7. Về thời hiệu khởi kiện

Thứ nhất, thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ (Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Thứ hai, thời điểm phát sinh tranh chấp dân sự quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 103/2015/QH13 là ngày khởi kiện. Việc xác định ngày khởi kiện được thực hiện theo quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 190 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Quy định về thời hiệu khởi kiện tại Điều 159 và điểm h khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 được áp dụng đến hết ngày 31-12-2016 để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự.

Từ ngày 01-01-2017, Tòa án áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015 và luật khác có liên quan về thời hiệu khởi kiện để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự (Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30-6-2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính).

[…]


15. Công văn số 40/KHXX ngày 06/04/2007 của Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn thụ lý giải quyết tranh chấp về họ

Hụi, họ, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) được quy định tại Điều 479 Mục 4 “Hợp đồng vay tài sản” Chương XVIII “Hợp đồng dân sự thông dụng” của Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây viết tắt là BLDS).

Để thi hành Điều 479 của BLDS, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 về họ, hụi, biêu, phường (sau đây viết tắt là Nghị định số 144).

Theo quy định tại Điều 31 của Nghị định số 144, thì “trong trường hợp có tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ được giải quyết bằng thương lượng hòa giải hoặc theo yêu cầu của một hoặc nhiều người tham gia họ, tranh chấp đó được giải quyết tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự”; do đó, kể từ ngày Nghị định số 144 có hiệu lực thi hành (22/12/2006), nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ, thì Tòa án thụ lý giải quyết.

Tòa án nhân dân tối cao lưu ý một số điểm khi thụ lý giải quyết vụ án tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ như sau:

1. Về thời hiệu khởi kiện

1.1. Đối với họ được xác lập trước ngày Nghị định số 144 có hiệu lực thi hành thì căn cứ vào khoản 3 Điều 159 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 427 của BLDS, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết đối với các tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ là hai (02) năm, kể từ ngày Nghị định số 144 có hiệu lực thi hành.

1.2. Đối với họ được xác lập từ ngày Nghị định số 144 có hiệu lực thi hành thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ là hai (02) năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.

1.3. Thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện được thực hiện theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.2 mục 2 Phần IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.

[…]


16. Công văn số 56/1999/KHXX ngày 17/6/1999 của Toà án nhân dân tối cao về việc đính chính một số điểm trong TTLT số 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/01/1999

Do sơ suất khi chỉnh lý và in ấn Thông tư liên tịch số 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25-1-1999 “Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Nghị quyết về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1999 của Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội”, nên có một số chỗ chưa chính xác. Sau khi thống nhất với lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao thông báo việc sửa lại một số điểm của Thông tư này như sau:

1. Điểm 1 Mục IV Thông tư được sửa lại như sau:

Ví dụ: Thừa kế được mở ngày 01-5-1990. Theo quy định tại Điều 648 Bộ luật dân sự, thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Nhưng theo quy định tại Khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế thì đối với các việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh thì thời hiệu được tính từ ngày công bố Pháp lệnh, tức là ngày 10-9-1990. Áp dụng Khoản 2 Điều 17 của Nghị quyết số 58/1998, thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế trong trường hợp cụ thể này đến ngày 10-3-2003, vì mười năm này được tính như sau:

– Từ ngày 10-9-1990 đến ngày 01-7-1996 là 5 năm 9 tháng 20 ngày.

– Từ ngày 01-7-1996 đến ngày 01-01-1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện.

– Từ ngày 01-01-1999 đến ngày 10-3-2003 là 4 năm 2 tháng 10 ngày (5 năm 9 tháng 20 ngày + 4 năm 2 tháng 10 ngày = 10 năm).

2. Tại dấu “+” cuối cùng của Điểm b Khoản 1 Mục III,do sơ suất của khâu in ấn nên đã thiếu chữ “cho” giữa cụm từ bên thuê”, vì thế đoạn này được bổ sung thêm chữ “cho” như sau:

“+ Nếu lấy tổng diện tích ở của nhà ở cho thuê (kể cả diện tích ở được làm thêm) chia cho tổng số người trong hai hộ gia đình của bên cho thuê và bên thuê mà mức bình quân bằng hoặc trên 3m2/người nhưng dưới 6m2/người, thì Toà án cho bên cho thuê được lấy lại phần diện tích ở bằng tổng số người trong hộ gia đình của bên cho thuê nhân với mức bình quân này”.


17. Công văn số 40/KHXX ngày 06/7/1996 của Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động

A. VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN LAO ĐỘNG

[…]

2.Về quyền khởi kiện, khởi tố vụ án lao động.

Khác với việc khởi kiện vụ án dân sự, việc khởi kiện vụ án lao động có những đặc thù riêng; cụ thể là:

[…]

e. Theo quy định tại Điều 18 của Bộ luật lao động, thì tranh chấp lao động được giải quyết theo những nguyên tắc thương lượng trực tiếp và tự dàn xếp giữa hai bên tranh chấp tại nơi phát sinh tranh chấp; thông qua hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên, tôn trọng lợi ích của xã hội và tuân theo pháp luật. Xuất phát từ những nguyên tắc đó và theo quy định tại Điều 166 của Bộ Luật lao động và Điều 11 của Pháp lệnh, Toà án chỉ thụ lý giải quyết các tranh chấp lao động với những điều kiện sau đây:

– Nếu tranh chấp lao động cá nhân, thì trước khi khởi kiện tại Toà án, các bên phải đưa việc tranh chấp ra Hội đồng hoà giải cơ sở hoặc hoà giải viên lao động của cơ quan lao động cấp huyện hoà giải. Chỉ trong trường hợp hoà giải không thành, kèm theo đơn khởi kiện phải có biên bản hoà giải không thành của Hội đồng hoà giải cơ sở hoặc của hoà giải viên của cơ quan lao động cấp huyện lập thì toà án mới thụ lý giải quyết. Thời hạn khởi kiện đối với các tranh chấp này là sáu tháng, kể từ ngày hoà giải không thành (điểm b, khoản 1 Điều 32 của Pháp lệnh)

Đối với tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; tranh chấp về bồi thương thiệt hại cho người sử dụng lao động (theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 166 của Bộ luật lao động và các điểm a, b khoản 1 Điều 11 của Pháp lệnh), thì Toà án thụ lý giải quyết không đòi hỏi điều kiện nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở. Thời hạn khởi kiện đối với các tranh chấp này là 1 năm, kể từ ngày phát sinh tranh chấp (điểm a khoản 1 Điều 32 của Pháp lệnh). Quy định này không hạn chế quyền của các bên đưa tranh chấp ra Hội đồng hoà giải cơ sở hoặc hoà giải viên của cơ quan lao động cấp huyện hoà giải và ngược lại, việc họ đưa tranh chấp ra hoà giải đó cũng không hạn chế quyền của họ khởi kiện ra Toà án (nếu họ thấy khả năng hoà giải không thành) và vẫn trong thời hiệu khởi kiện 1 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp. Trong trường hợp họ đã tiến hành hoà giải tại cơ sở và đã có kết quả hoà giải thì Toà án chỉ thụ lý giải quyết nếu kết quả hoà giải không thành. Thời hạn khởi kiện trong trường hợp này là 6 tháng, kể từ ngày hoà giải không thành. Toà án không thụ lý vụ án nếu sự việc đã được hoà giải thành (có biên bản hoà giải thành) do hội đồng hoà giải cơ sở hoặc do hoà giải viên lao động thực hiện, vì hai bên có nghĩa vụ chấp hành các thoả thuận trong biên bản hoà giải thành theo quy định tại khoản 2 Điều 164 của Bộ luật lao động mà trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm d – Điều 34 của Pháp lệnh.

– Theo quy định tại Điều 172 của Bộ luật lao động và khoản 2 Điều 11 của Pháp lệnh, thì Toà án chỉ thụ lý giải quyêt các tranh chấp lao động tập thể, nếu đã được Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết mà một trong các bên hoặc cả hai bên không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động. Kèm theo đơn khởi kiện, bên khởi kiện phải nộp bản sao quyết định của Hội đồngtrọng tài lao động về việc giải quyêt tranh chấp lao động. Thời hạn khởi kiện là 3 tháng kể từ ngày cóquyết định của Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh.

Cần lưu ý là theo quy định tại khoản 2 Điều 172 của Bộ luật lao động nếu tập thể lao động không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động, thì họ có quyền chọn một trong hai biện pháp giải quyết tranh chấp lao động tập thể, đó là:

– Khởi kiện vụ án lao động yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp và không được đình công, trừ trường hợp họ rút đơn khởi kiện trước khi toà án ra quyết định giải quyết tranh chấp lao động đó.

– Thực hiện quyền đình công theo quy định của Pháp luật mà không có quyền khởi kiện vụ án lao động để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động tập thể.

Trong trường hợp Thủ tướng Chính phủ quyết định việc hoãn hoặc ngừng cuộc đình công theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật lao động, nếu tập thể lao động khởi kiện tại toà án, thì Toà án thụ lý giải quyết tranh chấp lao động theo quy định chung và giải thích để tập thể lao động đó biết là họ không có quyền đình công nữa.

3.Về thời hiệu khởi kiện.

Khi xem xét về thời hiệu khởi kiện được quy định tại khoản 1 Điều 32 của Pháp lệnh để quyết định thụ lý vụ án (Điều 35), trả lại đơn kiện (điểm c Điều 34), đình chỉ giải quyết vụ án (điểm d khoản 1 Điều 41), cần áp dụng theo các quy định tại các Điều từ 168 đến 171 của Bộ luật dân sự về thời gian không tính vào thời hạn khởi kiện, tính lại thời gian khởi kiện để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.

Bộ luật lao động có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, do đó các tranh chấp lao động mà Bộ luật quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân (Điều 157) lẽ ra phải được thụ lý giải quyết các tranh chấp lao động có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/1996, vì vậy các loại tranh chấp lao động phát sinh từ ngày 1/1/1995 đến trước ngày 1/7/1996 đều được áp dụng thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 32 của Pháp lệnh và thời hiệu đó chỉ được tính từ ngày 1/7/1996. Riêng đối với bốn tranh chấp lao động được quy định tại Nghị định số 10/NĐ-HĐBT ngày14/1/1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) thì thời hạn khởi kiện được tính theo quyđịnh của Nghị định này, Thông tu liên ngành số 03/TTLN ngày 2/10/1995 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiẻm sát nhân dân tối cao , Tổng cục dạy nghề (nay là Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ) hướng dẫn thực hiện thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân về một số việc tranh chấp lao động và các văn bản pháp luật có liên quan; đó là:

– Công nhân, viên chức Nhà nước bị xử lý bằng hình thức buộc thôi việc;

– Học sinh học nghề, giáo viên dạy nghề và thực tập sinh ở nước ngoài bị buộc phải bồi thường phí tổn đào tạo cho Nhà nước vì bị xử lý kỷ luật;

– Những người đi hợp tác lao động với nước ngoài bị buộc phải bồi thường phí tổn cho Nhà nước vì vi phạm hợp đồng, bị kỷ luật phải về nước trước thời hạn;

– Những tranh chấp giữa người làm công với chủ tư nhân.

Các tranh chấp lao động phát sinh trước ngày Bộ luật có hiệu lực (1/1/1995), ngoài 4 loại tranh chấp nói trên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân; do đó, nếu có đơn khởi kiện, thì Toà án không thụ lý giải quyết và giải thích rõ cho đương sự rõ

[…]


18. Án lệ số 81/2025/AL về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản

Khái quát nội dung của án lệ:

– Tình huống án lệ:

Các bên giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ, sau đó thỏa thuận chấm dứt hợp đồng. Nguyên đơn (bên cung ứng dịch vụ) yêu cầu bị đơn (bên sử dụng dịch vụ) trả tiền dịch vụ; bị đơn đồng ý sẽ trả tiền nhưng chưa trả nên nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án yêu cầu bị đơn trả tiền. Bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện.

– Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, Toà án phải xác định tranh chấp giữa các bên là tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản và không áp dụng thời hiệu khởi kiện.

Tải về

Án lệ số 81/2025/AL


19. Án lệ số 44/2021/AL về việc xác định thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu phản tố

Khái quát nội dung án lệ:

– Tình huống án lệ:

Trong vụ án dân sự, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

– Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, Tòa án phải xác định yêu cầu phản tố của bị đơn chính là yêu cầu khởi kiện và phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện.

Tải về

Án lệ số 44/2021/AL


20. Thông báo số 78/TB-VKS-DS ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm về kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự

Sơ lược nội dung: Đối với yêu cầu đòi lại tài sản (nợ gốc) thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện nên trong vụ án này, nguyên đơn có quyền yêu cầu bị đơn trả lại tài sản vay mà không phụ thuộc vào yêu cầu áp dụng thời hiệu từ phái bị đơn. Tòa án sơ thẩm căn cứ vào yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện từ phía bị đơn để đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng, xâm phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Tải về

Thông báo số 78/TB-VKS-DS


21. Thông báo số 41/TB-VC1-V4 ngày 17/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội rút kinh nghiệm trong việc xác định thời hiệu khởi kiện vụ án lao động tranh chấp về chốt và trả sổ bảo hiểm xã hội

Sơ lược nội dung: Tòa sơ thẩm và phúc thẩm cho rằng, khi Công ty TH ban hành Quyết định kỷ luât số 31/QĐKL ngày 26/3/1999 sa thải ông Lê Văn T mà không giải quyết chế độ bảo hiểm cho ông, thì ông đã biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâM phạm từ thời điểm đó nhưng ông không khởi kiện, đến năm 2017 ông mới khởi kiện yêu cầu Công ty TH giải quyết chế độ bảo hiểm là đã hết thời hiệu 01 năm theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Bộ luật lao động. Nhận định như vậy là không có căn cứ, dẫn đến ban hành Quyết định sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án và Quyết định phúc thẩm bác kháng cáo của ông T với lý do hết thời hiệu khởi kiện là không đúng quy định.

Tải về

Thông báo số 41/TB-VC1-V4


22. Bản án số 366/2019/DS-PT ngày 22/11/2019 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội về tranh chấp quyền sử dụng đất

Sơ lược nội dung: Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp QSDĐ” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và không chấp việc bị đơn cho rằng nguyên đơn khởi kiện đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 185 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 155 Bộ luật dân sự là có căn cứ pháp luật. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên bản án bản án dân sự sơ thẩm số 13/2019/DS-ST ngày 26/07/2019 của Toà án nhân dân huyện TT, Thành phố Hà Nội. 

Tải về

Bản án số 366/2019/DS-PT 


23. Bản án số 16/2019/DS-PT ngày 05/07/2019 của Toà án nhân dân Quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Sơ lược nội dung: Theo Điều 159 Bộ luật tố tụng Dân sự 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, Điều 23 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi thì Tòa án không giải quyết vì đã hết thời hiệu khởi kiện nên đình chỉ trả lại đơn khởi kiện cho A đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Buộc bị đơn phải trả cho Ngân hàng A số tiền 10.208.000 đồng.

Tải về

Bản án 16/2019/DS-ST 


24. Bản án số 52/2019/DS-PT ngày 02/04/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp bồi thường thiệt hại tài sản

Sơ lược nội dung: Theo quy định tại Điều 588 Bộ luật dân sự năm 2015, thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Như vậy, trong trường hợp ông C có lấn chiếm phần đất của bà X thì bà X có quyền khởi kiện yêu cầu ông C bồi thường thiệt hại từ năm 2015 đến năm 2017, còn khoảng thời gian từ năm 2007 đến 2014 đã hết thời hiệu khởi kiện. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

Tải về

Bản án 52/2019/DS-PT


25. Bản án số 345/2018/LĐ-PT ngày 02/04/2018 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp tiền lương, bảo hiểm xã hội

Sơ lược nội dung: Kể từ thời điểm năm 2006 và từ ngày Tổng Công ty có Công văn trả lời số 1003/TCT5-TCCB ngày 12/11/2012, ông H đã biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm, không được Tổng Công ty chấp nhận giải quyết nhưng ông không khởi kiện. Đến ngày 01/6/2015, ông H mới nộp đơn khởi kiện tại Tòa án là đã hết thời hiệu khởi kiện. Toà án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 80/2017/LĐ-ST ngày 14/12/2017 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tải về

Bản án số 345/2018/LĐ-PT

Xem chi tiết và tải về – TẠI ĐÂY

—————————

CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)

– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

– Điện thoại: 0941.767.076

– Email: amilawfirmdn@gmail.com

– Website: https://amilawfirm.com/

– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm

Bài viết liên quan