Trang chủ / Tài liệu / TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự là tổng hợp các điều kiện do pháp luật quy định mà cơ quan, tổ chức, cá nhân phải đáp ứng để Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án dân sự. Việc xác định đúng các điều kiện khởi kiện có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự, xác định phạm vi giải quyết của Tòa án và nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng. Thực tiễn áp dụng phát sinh nhiều vướng mắc liên quan đến quyền khởi kiện, năng lực chủ thể, thẩm quyền của Tòa án, thời hiệu khởi kiện, điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành, tư cách tham gia tố tụng và các căn cứ trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ án. Việc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này đòi hỏi sự thống nhất trong việc xác định các điều kiện thụ lý vụ án và bảo đảm quyền tiếp cận công lý của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các văn bản hướng dẫn, giải đáp nghiệp vụ và các nguồn tham khảo quan trọng của Tòa án liên quan đến điều kiện khởi kiện vụ án dân sự, qua đó tạo lập cơ sở tham chiếu thống nhất phục vụ hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và thực tiễn áp dụng pháp luật.

MỤC LỤC

1. Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán toà án nhân dân tối cao hướng dẫn quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án 

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị quyết này hướng dẫn một số quy định về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 (sau đây gọi tắt là Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

Điều 2. Về người khởi kiện không có quyền khởi kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Người khởi kiện không có quyền khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186, Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

a) Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình là người đại diện hợp pháp;

b) Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không thuộc trường hợp theo quy định của pháp luật có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước.

Ví dụ: Tổ chức A (không phải là tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010) cho rằng Công ty B bán hàng hóa không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng như đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết dẫn đến việc chị C (người tiêu dùng) mua sử dụng bị thiệt hại nên Tổ chức A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty B bồi thường thiệt hại cho chị C. Trường hợp này, Tổ chức A không có quyền khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 3 Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2. Yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân không cần xác minh, thu thập chứng cứ cũng đủ căn cứ kết luận là không có việc quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm hoặc cần bảo vệ.

Ví dụ: Cụ A chết năm 2010, để lại di sản là căn nhà X nhưng không có di chúc và không có thỏa thuận khác. Cụ A có con là ông B (còn sống, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015). Trường hợp này, theo quy định của pháp luật về thừa kế thì anh C là con của ông B không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của cụ A theo pháp luật.

Điều 3. Về chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

1. Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.

Ví dụ: Công ty A là người sử dụng lao động ký hợp đồng với ông B, trong hợp đồng ghi rõ ông B sẽ được Công ty cho đi học nghề 01 năm, đồng thời ông B có nghĩa vụ làm việc tại Công ty ít nhất là 05 năm kể từ thời điểm học xong. Tuy nhiên, sau khi học xong ông B chỉ làm việc ở Công ty A 02 năm. Công ty A khởi kiện ông B ra Tòa án buộc ông B hoàn trả chi phí đào tạo học nghề khi chưa tiến hành thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động. Trường hợp này, theo quy định tại Điều 201 Bộ luật lao động năm 2012, khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Công ty A chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án.

2. Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,… thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.

Điều 4. Về vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là trường hợp mà theo quy định của pháp luật thì các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác hoặc đang do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác giải quyết.

Ví dụ: Theo quy định tại khoản 2 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai mà đối với thửa đất đó cơ quan, tổ chức, cá nhân không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 có quyền lựa chọn Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 để giải quyết tranh chấp. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đã nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền và cơ quan đó đang giải quyết tranh chấp thì vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Điều 5. Về địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1. “Địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được xác định như sau:

a) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống thì nơi cư trú của họ là địa chỉ chỗ ở hợp pháp mà người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường trú hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật cư trú;

b) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam thì nơi cư trú của họ được xác định theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam;

c) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài, người Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài thì nơi cư trú của họ được xác định căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp hoặc theo tài liệu, chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận;

d) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức có quốc tịch Việt Nam thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định là nơi cơ quan, tổ chức đó có trụ sở chính hoặc chi nhánh theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật;

Trường hợp cơ quan, tổ chức có quốc tịch nước ngoài thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp hoặc theo tài liệu, chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận.

2. Người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này tại thời điểm nộp đơn khởi kiện mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

3. Địa chỉ “nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quy định tại điểm đ, e khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là địa chỉ người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã từng cư trú, làm việc hoặc có trụ sở mà người khởi kiện biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh.

Điều 6. Xử lý việc ghi địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1. Trường hợp trong đơn khởi kiện người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo hướng dẫn tại Điều 5 Nghị quyết này thì Tòa án phải nhận đơn khởi kiện và xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung.

2. Trường hợp sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tổng đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không còn cư trú, làm việc hoặc không có trụ sở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì Tòa án giải quyết như sau:

a) Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tổng đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

b) Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức theo hướng dẫn tại điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị quyết này thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ trụ sở”. Trường hợp cơ quan, tổ chức thay đổi trụ sở mà không công bố công khai theo quy định tại khoản 1 Điều 79 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

c) Trường hợp không thuộc điểm a, b khoản 2 Điều này mà Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng nguyên đơn không cung cấp được thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật. Trường hợp Tòa án không xác định được địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.

Trường hợp sau khi thụ lý vụ án mà phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án yêu cầu nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cung cấp địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đó. Nếu nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không cung cấp được địa chỉ thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ theo quy định của pháp luật. Trường hợp Tòa án không xác định được địa chỉ thì đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có liên quan đến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đó theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.

3. Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây:

a) Đối với vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc diện thừa kế mà nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ và Tòa án đã tiến hành các biện pháp để thu thập, xác minh địa chỉ theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của người đó thì Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Phần tài sản mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc diện thừa kế chưa tìm được địa chỉ được nhận thì Tòa án tạm giao cho người thân thích của người đó hoặc người thừa kế khác quản lý. Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc diện thừa kế chưa tìm được địa chỉ sẽ được Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu;

b) Các trường hợp quy định tại điểm b, c khoản 5 và điểm c khoản 6 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

c) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp vụ án bị đình chỉ giải quyết theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều này thì theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án đó khi cung cấp được đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Điều 7. Quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án quy định tại khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

1. Người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.

2. Khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không quy định căn cứ trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết, vì vậy, Tòa án không được lấy lý do thời hiệu khởi kiện đã hết để trả lại đơn khởi kiện. Trường hợp kể từ ngày 01-01-2012, Tòa án trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết và thời hạn giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện đã hết mà đương sự có yêu cầu khởi kiện lại vụ án đó thì Tòa án xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung.

3. “Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật” quy định tại điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là các trường hợp trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chưa quy định nhưng đã được quy định trong Nghị quyết này, các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

“Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật” quy định trong Nghị quyết này là:

a) Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01-01-2017, Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì lý do “thời hiệu khởi kiện đã hết” nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 thời hiệu khởi kiện vụ án đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 và điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01-01-2017 đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực pháp luật thì theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó;

b) Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 01-01-2017 Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì chưa đủ điều kiện khởi kiện chia tài sản chung, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 thời hiệu khởi kiện vụ án chia thừa kế đối với di sản thừa kế đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 và điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 01-01-2017 đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực pháp luật thì theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó;

c) Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 6 Nghị quyết này.

Điều 8. Hiệu lực thi hành

1. Nghị quyết này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14 tháng 4 năm 2017 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2017.

2. Đối với những vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động mà Tòa án đã thụ lý trước khi Nghị quyết này có hiệu lực thi hành nhưng chưa xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm hoặc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này để giải quyết.

3. Đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành thì không áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

4. Trong quá trình triển khai thi hành, nếu có vướng mắc hoặc đề xuất, kiến nghị thì phản ánh về Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để có hướng dẫn kịp thời.


2. Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Toà án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến vướng mắc trong công tác xét xử

[…]

II. VỀ DÂN SỰ, TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI

[…]

27. Khi khởi kiện những người thừa kế để thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại thì người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh là người chết có để lại tài sản. Trong trường hợp này Tòa án thụ lý vụ án hay trả lại đơn khởi kiện vì thuộc trường hợp “chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự?

Điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:

“b) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;”

Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn:

“Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó”.

Như vậy, tại thời điểm khởi kiện người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh là người chết có để lại tài sản thì không thuộc trường hợp “chưa đủ điều kiện khởi kiện” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Tòa án vẫn phải xem xét thụ lý vụ án. Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án Tòa án phải yêu cầu người khởi kiện cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình theo quy định của pháp luật.

[…]

33. Trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, Ngân hàng khởi kiện vợ chồng chị A, anh B yêu cầu trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã vay và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là tài sản chung của vợ chồng. Anh B đang ở nước ngoài, thường xuyên liên lạc với chị A và biết việc Ngân hàng yêu cầu trả nợ, xử lý tài sản thế chấp. Tòa án đã yêu cầu chị A cung cấp địa chỉ của anh B tại nước ngoài và đề nghị chị A thông báo cho anh B về việc Tòa án đã thụ lý vụ án, yêu cầu anh B cung cấp địa chỉ ở nước ngoài, có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án về việc Ngân hàng khởi kiện, nhưng chị A không cung cấp địa chỉ của anh B cho Tòa án và anh B cũng không cung cấp địa chỉ ở nước ngoài, không có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án. Trường hợp này Tòa án giải quyết như thế nào?

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án thì trường hợp này Tòa án phải xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[…]


3. Công văn số 163/TANDTC-PC ngày 10/09/2024 của Toà án nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc trong xét xử

[…]

IV. DÂN SỰ, TỐ TỤNG DÂN SỰ

[…]

7. Trong giai đoạn nhận và xử lý đơn khởi kiện, người khởi kiện cung cấp thông tin người bị kiện đã chết trước khi người khởi kiện làm đơn khởi kiện nhưng không cung cấp được giấy chứng tử và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị kiện theo yêu cầu của Tòa án thì có thuộc trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện không?

Trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án, sau đó xác minh là bị đơn chết trước thời điểm khởi kiện và nguyên đơn không cung cấp được người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng thì giải quyết như thế nào?

Trong giai đoạn nhận và xử lý đơn khởi kiện, người khởi kiện cung cấp thông tin người bị kiện đã chết trước khi người khởi kiện làm đơn khởi kiện nhưng không cung cấp được giấy chứng tử và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị kiện theo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện của Tòa án thì Tòa án căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự để trả lại đơn khởi kiện.

Trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án, sau đó xác minh là bị đơn chết trước thời điểm khởi kiện và nguyên đơn không cung cấp được người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng thì Tòa án hướng dẫn nguyên đơn làm đơn rút yêu cầu khởi kiện. Trường hợp Tòa án đã hướng dẫn nhưng nguyên đơn không làm đơn rút yêu cầu khởi kiện thì Tòa án căn cứ điểm a khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

[…]

11. Các bên tranh chấp đã được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp thực hiện việc hòa giải tranh chấp đất đai theo quy định của Luật Đất đai. Người khởi kiện đã khởi kiện tranh chấp đất đai và được Tòa án có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án dân sự. Sau đó, người khởi kiện rút đơn khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Khi khởi kiện lại vụ án này thì Tòa án có yêu cầu các bên hòa giải lại tại Ủy ban nhân dân cấp xã hay không?

Theo quy định tại Điều 235 và Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024 thì tranh chấp đất đai phải được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. Trường hợp khi khởi kiện lại nếu nguyên đơn, bị đơn, đối tượng tranh chấp, quan hệ tranh chấp không thay đổi so với khi hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã thì không phải hòa giải lại tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

[…]

14. Quyết định giám đốc thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm, giao Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án. Tuy nhiên, sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực, nguyên đơn đã được trả lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp. Trong trường hợp này, nếu nguyên đơn không nộp lại tiền tạm ứng án phí thì Tòa án cấp sơ thẩm có thụ lý lại vụ án hay không?

Khoản 7 Điều 18 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định:

“Trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm có hiệu lực pháp luật bị Tòa án xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm mà tiền tạm ứng án phí, án phí đã được trả lại cho người khởi kiện, người kháng cáo thì khi Tòa án cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm thụ lý lại vụ án phải yêu cầu người khởi kiện, người kháng cáo nộp lại tiền tạm ứng án phí”.

Như vậy trong trường hợp nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án kể từ thời điểm nhận lại hồ sơ vụ án. Sau khi thụ lý vụ án mà nguyên đơn không nộp lại tiền tạm ứng án phí thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự và giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có) theo quy định tại khoản 4 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nguyên đơn không nộp lại tiền tạm ứng án phí nên Tòa án không phải quyết định về án phí khi giải quyết hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[…]


4. Công văn số 3854/VKSTC-V9 ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ, việ dân sự, hôn nhân và gia đình

[…]

III. VỀ VIỆC THỰC HIỆN LUẬT ĐẤT ĐAI

Câu 15. Đối với tranh chấp quyền sử dụng đất thì phải đáp ứng điều kiện khởi kiện đã qua hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo Điều 202 Luật Đất đai năm 2013, tuy nhiên trong thực tế có trường hợp hòa giải không có đủ thành phần theo quy định của pháp luật. Hiện có 02 quan điểm về vấn đề này như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng việc hòa giải thiếu thành phần hòa giải là không đủ điều kiện khởi kiện nên trả lại đơn khởi kiện cho đương sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng Điều 202 Luật Đất đai và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC chỉ quy định điều kiện khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất là đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp, việc trả lại đơn khởi kiện với lý do việc hòa giải thiếu thành phần là không đúng (VKSND tỉnh Lâm Đồng).

Trả lời:

Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC quy định “Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”.

Theo khoản 1 Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 57 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017, được sửa đổi, bổ sung bởi các khoản 27, 28 Điều 1 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ thì khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:

“a) Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất;

b) Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

c) Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành”.

Hiện nay, pháp luật không quy định nếu Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai không đủ thành phần thì cuộc họp hòa giải không được tiến hành hay việc hoà giải không có hiệu lực. Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai không đưa ra quyết định, không biểu quyết theo đa số. Hơn nữa, theo quy định trên thì Hội đồng có thành phần rất linh hoạt như “đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất; tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh”. Do đó, có một số thành phần Hội đồng không mang tính bắt buộc.

Đối với tranh chấp đất đai cần qua thủ tục hoà giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp vì đây thuộc loại tranh chấp về quyền sở hữu (quyền sử dụng đất thuộc về ai) nên vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai tại nơi có đất là rất quan trọng (là nơi quản lý hồ sơ, tài liệu về nguồn gốc đất, nắm được quá trình sử dụng đất, những người sử dụng đất, việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất, thời điểm phát sinh tranh chấp…), đây là cơ sở để Toà án có được thông tin để giải quyết đúng đắn vụ án. Hơn nữa, việc hoà giải nhằm đến làm rõ quan điểm, ý chí, nguyện vọng của các bên, giúp các bên thoả thuận, thống nhất được với nhau để chấm dứt tranh chấp; do đó, khi các bên đã hoà giải không thành và khởi kiện thì không nên đặt nặng những vấn đề mang tính hình thức của việc hoà giải mà làm chậm trễ việc giải quyết tranh chấp của các bên. Vì vậy, quan điểm thứ hai là hợp lý.

[…]


5. Hướng dẫn số 92/HD-TLĐ ngày 31/8/2023 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về Công đoàn khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Toà án

Phần I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG CẦN LƯU Ý KHI CÔNG ĐOÀN KHỞI KIỆN VÀ THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN LAO ĐỘNG, VIỆC LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN

I. TRANH CHẤP VỀ LAO ĐỘNG, TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN LAO ĐỘNG, YÊU CẦU VỀ LAO ĐỘNG MÀ CÔNG ĐOÀN THAM GIA GIẢI QUYẾT

Những tranh chấp về lao động (TCLĐ), tranh chấp liên quan đến lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS), được sửa đổi, bổ sung theo khoản 2 Điều 219 Bộ luật Lao động năm 2019 (BLLĐ). Những yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 33 BLTTDS.

Văn bản này chỉ hướng dẫn Công đoàn khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết các TCLĐ, tranh chấp liên quan đến lao động và các yêu cầu về lao động sau đây:

1. Tranh chấp về lao động và tranh chấp liên quan đến lao động

– TCLĐ cá nhân giữa người lao động (NLĐ) với người sử dụng lao động (NSDLĐ);

– TCLĐ tập thể về quyền theo quy định của pháp luật lao động;

– Tranh chấp về kinh phí công đoàn;

– Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp;

– Các tranh chấp khác về lao động, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

2. Yêu cầu về lao động

– Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động (HĐLĐ), thoả ước lao động tập thể (TƯLĐTT) vô hiệu;

– Yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công.

II. VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN KHI KHỞI KIỆN VÀ THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN LAO ĐỘNG, VIỆC LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN

Vai trò của Công đoàn khi khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết các vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án được quy tại điểm c khoản 2 Điều 75; Điều 88 và điểm d khoản 1 Điều 209; khoản 2 Điều 187; khoản 1 Điều 401; khoản 1 Điều 403 BLTTDS. Theo các điều luật này, vai trò của công đoàn các cấp được thể hiện cụ thể như sau:

1. Công đoàn cơ sở

– Khởi kiện và tham gia giải quyết vụ án tranh chấp về kinh phí công đoàn tại Tòa án.

– Khởi kiện và tham gia giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án nếu được NLĐ ủy quyền.

– Khởi kiện và tham gia giải quyết TCLĐ tập thể về quyền tại Tòa án.

– Yêu cầu Tòa án tuyên bố HĐLĐ vô hiệu, TƯLĐTT vô hiệu; yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công.

– Cử đại diện tham gia vào quá trình giải quyết các vụ án lao động, việc lao động với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NLĐ.

– Cử đại diện tham gia vào quá trình giải quyết các vụ án lao động, việc lao động theo chỉ định của Tòa án.

– Cử đại diện tham gia vào phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo yêu cầu của NLĐ.

2. Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở

– Khởi kiện và tham gia giải quyết vụ án tranh chấp về kinh phí công đoàn tại Tòa án.

– Khởi kiện và tham gia giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án nếu được NLĐ ủy quyền.

– Khởi kiện và tham gia giải quyết TCLĐ tập thể về quyền nếu được CĐCS ủy quyền.

– Yêu cầu Tòa án tuyên bố HĐLĐ vô hiệu, TƯLĐTT vô hiệu; yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công.

– Cử đại diện tham gia vào quá trình giải quyết các vụ án lao động, việc lao động với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NLĐ, CĐCS nếu được NLĐ, CĐCS đề nghị.

– Cử đại diện tham gia vào quá trình giải quyết các vụ án lao động, việc lao động theo chỉ định của Tòa án.

– Cử đại diện tham gia vào phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo yêu cầu của NLĐ. Nếu không tham gia được, phải có ý kiến bằng văn bản.

3. Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành trung ương và tương đương, Công đoàn Tổng Công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

– Khởi kiện và tham gia giải quyết vụ án tranh chấp về kinh phí công đoàn tại Tòa án.

– Khởi kiện và tham gia giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án nếu được NLĐ ủy quyền.

– Khởi kiện và tham gia giải quyết các TCLĐ tập thể về quyền tại Tòa án nếu được CĐCS ủy quyền.

– Yêu cầu Tòa án tuyên bố HĐLĐ vô hiệu, TƯLĐTT vô hiệu; yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công.

– Cử đại diện tham gia vào quá trình giải quyết các vụ án lao động, việc lao động với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NLĐ, CĐCS, Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở nếu được NLĐ, CĐCS, Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đề nghị.

– Cử đại diện tham gia vào quá trình giải quyết các vụ án lao động, việc lao động theo chỉ định của Tòa án.

– Cử đại diện tham gia vào phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo yêu cầu của NLĐ. Nếu không tham gia được, phải có ý kiến bằng văn bản.

III. TƯ CÁCH CỦA CÔNG ĐOÀN KHI THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LAO ĐỘNG, VIỆC LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN

1. Đương sự

Công đoàn có thể tham gia tố tụng dân sự giải quyết các vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án với tư cách đương sự trong vụ án lao động (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) và đương sự trong việc lao động (người yêu cầu giải quyết việc lao động và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan). Khi tham gia với tư cách là đương sự trong vụ án lao động, việc lao động, Công đoàn có quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 BLTTDS.

1.1. Đương sự trong vụ án lao động

– Nguyên đơn: Công đoàn tham gia tố tụng dân sự giải quyết TCLĐ tại Tòa án với tư cách là nguyên đơn trong những vụ án lao động mà Công đoàn có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật.

– Bị đơn: Công đoàn tham gia tố tụng dân sự giải quyết TCLĐ tại Tòa án với tư cách bị đơn trong vụ án mà NSDLĐ khởi kiện Công đoàn (ví dụ: NSDLĐ kiện CĐCS tổ chức, lãnh đạo cuộc đình công đòi bồi thường thiệt hại do cuộc đình công bất hợp pháp).

– Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công đoàn tham gia tố tụng dân sự giải quyết TCLĐ tại Tòa án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khi Công đoàn không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án lao động có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của Công đoàn nên Công đoàn tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa Công đoàn tham gia với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

1.2. Đương sự trong việc lao động

– Người yêu cầu: Công đoàn tham gia tố tụng dân sự giải quyết việc lao động tại Tòa án với tư cách là người yêu cầu khi Công đoàn có đơn đề nghị Tòa án tuyên bố HĐLĐ vô hiệu, TƯLĐTT vô hiệu; yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công.

– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công đoàn tham gia tố tụng dân sự giải quyết việc lao động tại Tòa án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi Công đoàn không yêu cầu giải quyết việc lao động nhưng việc giải quyết việc lao động có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của Công đoàn nên Công đoàn được tự mình đề nghị hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa Công đoàn vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

2. Người đại diện của đương sự

2.1. Người đại diện theo pháp luật

CĐCS là đại diện theo pháp luật cho tập thể lao động khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết các vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án.

2.2. Người đại diện theo ủy quyền

– Đại diện Công đoàn tham gia tố tụng dân sự giải quyết các vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án với tư cách đại diện theo ủy quyền của đương sự khi được NLĐ, công đoàn cấp dưới là đương sự trong vụ án lao động, việc lao động ủy quyền.

– Khi tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của đương sự, tùy tư cách của NLĐ, Công đoàn trong các vụ án lao động, việc lao động mà cán bộ công đoàn (CBCĐ) có các quyền và nghĩa vụ tương ứng của đương sự (nguyên đơn hoặc bị đơn hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan).

Lưu ý:

– Thủ tục ủy quyền:

+ Đối với NLĐ: NLĐ làm giấy ủy quyền cho Công đoàn thực hiện việc khởi kiện vụ án lao động (trực tiếp ký đơn khởi kiện) theo quy định tại khoản 2 Điều 187 BLTTDS và/hoặc tham gia tố tụng giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án các cấp (tham khảo Mẫu số 01 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này); Công đoàn được ủy quyền cử cán bộ thực hiện nội dung được ủy quyền.

+ Trong trường hợp có nhiều NLĐ có cùng yêu cầu đối với NSDLĐ, trong cùng một doanh nghiệp, đơn vị thì họ được ủy quyền cho một đại diện của Công đoàn thay mặt họ khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 85 BLTTDS.

– Việc ủy quyền của NLĐ cho Công đoàn cần được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng (phòng công chứng và văn phòng công chứng). Giấy ủy quyền phải quy định rõ các nội dung ủy quyền, kể cả việc ủy quyền ký đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, ủy quyền tham gia quá trình giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án các cấp, bao gồm cả kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm.

Trường hợp NLĐ làm giấy ủy quyền cho CĐCS và CĐCS muốn ủy quyền lại cho công đoàn cấp trên tham gia tố tụng (nếu CĐCS không tham gia được) thì nội dung giấy ủy quyền cần ghi rõ người nhận ủy quyền được phép ủy quyền cho người thứ ba thực hiện các hoạt động đại diện cho NLĐ tham gia tố tụng.

Đối với tổ chức công đoàn: CĐCS làm giấy ủy quyền cho công đoàn cấp trên khởi kiện và/hoặc tham gia tố tụng dân sự giải quyết TCLĐ tập thể về quyền, tham gia tố tụng dân sự giải quyết việc lao động tại các cấp Tòa án. Công đoàn cấp trên được ủy quyền cử cán bộ thực hiện nội dung được ủy quyền.

Công đoàn có quyền khởi kiện vụ tranh chấp về kinh phí công đoàn: sau khi khởi kiện thì công đoàn cấp dưới có quyền ủy quyền cho công đoàn cấp trên tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ tranh chấp tại các cấp Tòa án.

2.3. Người đại diện do Tòa án chỉ định

– Công đoàn tham gia tố tụng dân sự giải quyết các vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án trong trường hợp NLĐ là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi mà không có người đại diện và Tòa án cũng không chỉ định được người đại diện thì Tòa án chỉ định Công đoàn là tổ chức đại diện cho NLĐ theo quy định tại khoản 2 Điều 88 BLTTDS.

– Thủ tục: Công đoàn được Tòa án chỉ định làm Giấy giới thiệu đại diện của Công đoàn tham gia tố tụng dân sự giải quyết TCLĐ tại Tòa án (tham khảo Mẫu số 04 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này).

3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

3.1. Điều kiện

Đại diện Công đoàn tham gia tố tụng dân sự giải quyết các vụ án lao động, việc lao động với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là NLĐ, công đoàn cấp dưới trong vụ án lao động, việc lao động khi được NLĐ, công đoàn cấp dưới yêu cầu và được Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

3.2. Quyền và nghĩa vụ

Khi tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NLĐ, công đoàn cấp dưới tại Tòa án, đại diện Công đoàn có quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 76 BLTTDS.

3.3. Thủ tục

– NLĐ, công đoàn cấp dưới làm giấy đề nghị Công đoàn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, công đoàn cấp dưới.

– Công đoàn được NLĐ, công đoàn cấp dưới đề nghị cử đại diện làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, công đoàn cấp dưới trong vụ án lao động, việc lao động theo quy định của pháp luật lao động, công đoàn.

– Đại diện Công đoàn xuất trình văn bản của Công đoàn giới thiệu người tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho NLĐ, công đoàn cấp dưới.

– Công đoàn đề nghị Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định tại khoản 4 Điều 75 BLTTDS. Tòa án phải vào số đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và xác nhận vào giấy yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của người đại diện Công đoàn. Trường hợp từ chối đăng ký thì Tòa án phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

IV. XÁC ĐỊNH TÒA ÁN CÓ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP LAO ĐỘNG, CÁC YÊU CẦU VỀ LAO ĐỘNG THEO THỦ TỤC SƠ THẨM

1. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động theo thủ tục sơ thẩm

Khi xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết TCLĐ, CBCĐ cần xác định Tòa án theo cấp (Tòa án cấp huyện hay cấp tỉnh) và Tòa án theo lãnh thổ (Tòa án địa phương nào). Thẩm quyền của Tòa án các cấp trong việc giải quyết các TCLĐ được quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 4 Điều 38, khoản 1 Điều 39 và khoản 1 Điều 40 BLTTDS. Cụ thể:

– Trường hợp các đương sự không có thỏa thuận về việc lựa chọn Tòa án:

+ TCLĐ có đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài: Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là Tòa án nhân dân cấp tỉnh, nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu bị đơn là cá nhân) hoặc nơi bị đơn có trụ sở (nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức).

+ Các TCLĐ còn lại: Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là Tòa án cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu bị đơn là cá nhân) hoặc nơi bị đơn có trụ sở (nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức).

– Trường hợp các đương sự có thoả thuận bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn (nếu nguyên đơn là cá nhân) hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn (nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức): Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các TCLĐ là Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn.

– Trường hợp nguyên đơn lựa chọn Tòa án giải quyết TCLĐ trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40 BLTTDS: Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn có thẩm quyền giải quyết.

2. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu về lao động theo thủ tục sơ thẩm

Thẩm quyền của Tòa án các cấp trong việc giải quyết các yêu cầu về lao động được quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 36, Điều 37, điểm a khoản 4 Điều 38, điểm v, x khoản 2 Điều 39 BLTTDS. Cụ thể:

– Yêu cầu tuyên bố HĐLĐ vô hiệu, TƯLĐTT vô hiệu: Tòa án nhân dân cấp huyện nơi giao kết hoặc thực hiện HĐLĐ, TƯLĐTT có thẩm quyền giải quyết;

– Yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công: Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra cuộc đình công có thẩm quyền giải quyết.

V. THỜI HIỆU YÊU CẦU TÒA ÁN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG, YÊU CẦU VỀ LAO ĐỘNG

1. Quy định về thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động, yêu cầu về lao động

– Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết TCLĐ cá nhân, TCLĐ tập thể về quyền là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm (khoản 3 Điều 190; khoản 3 Điều 194BLLĐ).

– Theo quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS), Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Khi có đương sự đề nghị áp dụng thời hiệu khởi kiện, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án lao động nếu thời hiệu khởi kiện đã hết theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS.

– Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện, việc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện được áp dụng theo quy định của BLLĐ và BLDS.

2. Một số vấn đề cần lưu ý liên quan đến thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động, yêu cầu về lao động

– Trường hợp NLĐ, Công đoàn tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động với tư cách nguyên đơn: mặc dù không phải là điều kiện khi Tòa án xem xét thụ lý nhưng khi tham gia tố tụng dân sự giải quyết các vụ án lao động, việc lao động, CBCĐ cần xác định thời hiệu khởi kiện để tư vấn cho NLĐ, Công đoàn (là người khởi kiện/người yêu cầu) có nên khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết hay không.

– Trường hợp NLĐ, Công đoàn tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động với tư cách bị đơn: nếu tranh chấp đã hết thời hiệu khởi kiện, CBCĐ cần tư vấn cho NLĐ, Công đoàn (là bị đơn) đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện quy định tại khoản 3 Điều 190 BLLĐ (TCLĐ cá nhân); khoản 3 Điều 194 BLLĐ (TCLĐ tập thể về quyền) để đình chỉ giải quyết vụ án lao động.

[…]

Phần II

CÔNG ĐOÀN KHỞI KIỆN VÀ THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN

I. KHỞI KIỆN VÀ THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM

CBCĐ có thể trực tiếp tham gia tố tụng dân sự giải quyết TCLĐ tại Tòa án (với tư cách đương sự, người đại diện theo ủy quyền của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự) hoặc chỉ hướng dẫn, hỗ trợ để NLĐ tự tham gia. Khi trực tiếp tham gia hoặc hướng dẫn, hỗ trợ để NLĐ tự tham gia tố tụng dân sự giải quyết các vụ án lao động tại Tòa án cấp sơ thẩm, CBCĐ cần lưu ý một số vấn đề sau:

1. Khởi kiện tranh chấp lao động

1.1. Khởi kiện tranh chấp lao động cá nhân

Để Tòa án thụ lý đơn khởi kiện, trước hết CBCĐ phải xác định được chính xác điều kiện khởi kiện TCLĐ cá nhân. BLTTDS không có điều luật quy định trực tiếp về điều kiện Tòa án thụ lý vụ tranh chấp. Do đó CBCĐ cần căn cứ vào Điều 192 BLTTDS (trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện) và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án (Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP), để kiểm tra điều kiện khởi kiện cho NLĐ.

1.1.1. Điều kiện khởi kiện tranh chấp lao động cá nhân

– Điều kiện về chủ thể khởi kiện: thực hiện theo quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 69, Điều 187 BLTTDS; Điều 2 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP. Theo đó, NLĐ (từ đủ 15 tuổi trở lên) có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được tự mình khởi kiện hoặc ủy quyền cho Công đoàn khởi kiện vụ TCLĐ đến Tòa án.

– Vụ TCLĐ cá nhân đủ điều kiện khởi kiện là vụ tranh chấp thuộc một trong những trường hợp sau:

+ Các TCLĐ cá nhân giữa NLĐ với NSDLĐ phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định (trừ một số tranh chấp không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải theo quy định tại khoản 1 Điều 188 BLLĐ);

+ TCLĐ cá nhân mà hai bên thỏa thuận lựa chọn Hội đồng trọng tài lao động giải quyết nhưng hết thời hạn 07 ngày làm việc mà Ban trọng tài lao động không được thành lập; hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thành lập mà Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc một trong các bên không thi hành quyết định của Ban trọng tài lao động.

– Vụ TCLĐ cá nhân chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án, hoặc quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng người khởi kiện có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

– Vụ TCLĐ cá nhân phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ TCLĐ cá nhân đang do cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền giải quyết.

– Đơn khởi kiện phải thực hiện theo đúng quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 189 BLTTDS; kèm theo đơn khởi kiện là các tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.

1.1.2. Xây dựng phương án khởi kiện

– Để có thể xây dựng được phương án khởi kiện, CBCĐ cần trao đổi với NLĐ để làm rõ những vấn đề có liên quan như: HĐLĐ ký giữa các bên; nội dung tranh chấp; yêu cầu, mong muốn của NLĐ khi khởi kiện; các thông tin có liên quan để làm cơ sở cho việc xác định điều kiện khởi kiện như việc giải quyết TCLĐ ở các chủ thể khác (nếu có); nơi cư trú của NLĐ; trụ sở của NSDLĐ…

– Trên cơ sở nội dung vụ TCLĐ, các tài liệu, chứng cứ mà NLĐ cung cấp, yêu cầu, mong muốn của NLĐ, cán bộ công đoàn xác định quan hệ pháp luật tranh chấp yêu cầu Tòa án giải quyết; cơ sở pháp lý và chứng cứ có liên quan để tư vấn cho NLĐ quyết định khởi kiện hay không khởi kiện; nếu khởi kiện thì kiện ai, các yêu cầu khởi kiện cụ thể là gì, gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nào.

1.1.3. Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện

Hồ sơ khởi kiện gồm đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ nộp kèm theo đơn khởi kiện để chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.

– Đơn khởi kiện: soạn theo Mẫu số 23 ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/1/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự (Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP); đảm bảo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 189 BLTTDS (tham khảo Mẫu số 02 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này).

– Các tài liệu, chứng cứ nộp kèm theo đơn khởi kiện:

+ Giấy tờ, tài liệu chứng minh tư cách pháp lý của người khởi kiện: căn cước công dân hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế của NLĐ (nếu NLĐ trực tiếp khởi kiện). Trường hợp NLĐ ủy quyền cho Công đoàn khởi kiện thì cần nộp thêm giấy ủy quyền hợp lệ (tham khảo Mẫu số 01 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này); giấy giới thiệu của Công đoàn (tham khảo Mẫu số 04 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này).

+ Giấy tờ, tài liệu chứng minh có quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ.

+ Giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ bị xâm phạm. Tùy từng vụ tranh chấp để hướng dẫn cho NLĐ nộp các tài liệu phù hợp.

Trường hợp vì lý do khách quan mà NLĐ, Công đoàn không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm thì Công đoàn hướng dẫn NLĐ hoặc trực tiếp nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ bị xâm phạm. NLĐ, Công đoàn bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

1.1.4. Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án

– Lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết: CBCĐ căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành (được nêu tại Mục IV Phần I Hướng dẫn này) để hướng dẫn cho NLĐ hoặc trực tiếp lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ TCLĐ cá nhân.

– Phương thức gửi đơn khởi kiện: thực hiện theo Điều 190 BLTTDS, người khởi kiện có thể nộp trực tiếp tại Tòa án có thẩm quyền, gửi qua đường bưu chính hoặc gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

1.1.5. Nộp tạm ứng án phí

– Nếu TCLĐ cá nhân khởi kiện đến Tòa án thuộc diện phải nộp tạm ứng án phí, Tòa án sẽ thông báo cho NLĐ, Công đoàn biết về số tiền tạm ứng án phí phải đóng.

– Công đoàn trực tiếp hoặc hướng dẫn NLĐ đóng tạm ứng án phí cho cơ quan thi hành án dân sự theo thời hạn trong thông báo của Tòa án và nộp lại cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí để Tòa án tiến hành thủ tục thụ lý vụ án.

1.1.6. Khiếu nại việc trả lại đơn khởi kiện

Khiếu nại việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án được thực hiện theo quy định tại Điều 194 BLTTDS, cụ thể:

– Nếu Tòa án trả lại đơn khởi kiện, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, Công đoàn trực tiếp hoặc tư vấn cho NLĐ thực hiện khiếu nại đối với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện (tham khảo Mẫu số 05 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này);

– Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện của thẩm phán, Công đoàn trực tiếp hoặc tư vấn cho NLĐ khiếu nại với Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án Tòa án cấp trên có hiệu lực thi hành ngay;

– Trong trường hợp có căn cứ xác định quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án cấp trên có vi phạm pháp luật, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, Công đoàn trực tiếp hoặc tư vấn cho NLĐ khiếu nại với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao nếu quyết định bị khiếu nại là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nếu quyết định bị khiếu nại là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao. Quyết định của Chánh án phải giải quyết là quyết định cuối cùng.

Lưu ý: Nếu NLĐ là người bị NSDLĐ khởi kiện (NLĐ là bị đơn) có đề nghị Công đoàn tham gia với tư cách người đại diện theo ủy quyền hoặc người bảo vệ quyền lợi thì cần lưu ý:

– CBCĐ cần trao đổi với NLĐ để nắm rõ nội dung vụ việc tranh chấp; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là NSDLĐ.

– Trực tiếp hoặc hướng dẫn cho NLĐ soạn thảo và nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo.

– Nếu NLĐ có yêu cầu phản tố thì Công đoàn hướng dẫn NLĐ hoặc trực tiếp soạn thảo đơn phản tố và nộp cho Tòa án trong thời hạn theo quy định (trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Tham khảo Mẫu số 03 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này).

1.2. Khởi kiện tranh chấp lao động tập thể về quyền

1.2.1. Điều kiện khởi kiện tranh chấp lao động tập thể về quyền

– Điều kiện về chủ thể khởi kiện: chủ thể có quyền khởi kiện TCLĐ tập thể về quyền là CĐCS. CĐCS có quyền trực tiếp hoặc ủy quyền cho công đoàn cấp trên khởi kiện vụ TCLĐ tập thể về quyền.

– TCLĐ tập thể về quyền đủ điều kiện khởi kiện là vụ tranh chấp thuộc một trong những trường hợp sau:

+ TCLĐ tập thể về quyền đã qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải không thành, hết thời hạn hòa giải theo quy định của pháp luật về lao động mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc một trong các bên không thực hiện biên bản hòa giải thành;

+ TCLĐ tập thể về quyền mà hai bên thỏa thuận lựa chọn Hội đồng trọng tài lao động giải quyết nhưng hết thời hạn 07 ngày làm việc mà Ban trọng tài lao động không được thành lập; hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thành lập mà Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc một trong các bên không thi hành quyết định của Ban trọng tài lao động.

– Vụ TCLĐ tập thể về quyền chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án, hoặc quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng người khởi kiện có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

– Vụ TCLĐ tập thể về quyền thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện nếu vụ TCLĐ tập thể về quyền đang do cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền giải quyết.

– Điều kiện về đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ nộp kèm theo đơn: Đơn khởi kiện phải thực hiện theo đúng quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 189 BLTTDS; kèm theo đơn khởi kiện là các tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể lao động, CĐCS bị xâm phạm.

1.2.2. Xây dựng phương án khởi kiện

– Trên cơ sở nội dung vụ việc phát sinh tranh chấp, quy định của pháp luật có liên quan, Công đoàn xác định rõ có nên khởi kiện vụ TCLĐ tập thể về quyền không; nếu có thì yêu cầu khởi kiện cụ thể là gì; khởi kiện đến Tòa án nào.

– Trường hợp CĐCS ủy quyền cho công đoàn cấp trên khởi kiện: công đoàn cấp trên cần trao đổi với CĐCS về nội dung vụ việc tranh chấp để xác định nguyên nhân phát sinh tranh chấp; mong muốn, yêu cầu của CĐCS khi khởi kiện; các thông tin có liên quan để làm cơ sở xác định điều kiện khởi kiện.

1.2.3. Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện

Hồ sơ khởi kiện vụ án TCLĐ tập thể về quyền gồm: Đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể lao động bị xâm phạm.

– Đơn khởi kiện: soạn theo Mẫu số 23 ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ; đảm bảo quy định tại Điều 189 BLTTDS (tham khảo Mẫu số 02 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này).

– Các tài liệu, chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện:

+ Các tài liệu chứng minh tư cách khởi kiện của CĐCS, của người đại diện của CĐCS. Trường hợp CĐCS ủy quyền khởi kiện thì phải nộp thêm: giấy ủy quyền hợp lệ, giấy tờ chứng minh tư cách của người đại diện của công đoàn cấp trên được ủy quyền.

+ Tài liệu, chứng cứ là căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ có tranh chấp (TƯLĐTT, nội quy, quy chế hoặc các thỏa thuận hợp pháp giữa các bên).

+ Tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích của tập thể lao động/CĐCS bị xâm phạm và các tài liệu, chứng cứ khác có liên quan.

Lưu ý: Nếu CĐCS là chủ thể bị NSDLĐ khởi kiện, CĐCS hoặc công đoàn cấp trên (nếu được CĐCS ủy quyền) cần thực hiện các công việc như trường hợp NLĐ là bị đơn, cụ thể: sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án, phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án. Nếu CĐCS có yêu cầu phản tố thì cần soạn thảo đơn phản tố và nộp cho Tòa án trong thời hạn theo quy định (trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tham khảo Mẫu số 03 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này).

– Việc nộp hồ sơ khởi kiện và khiếu nại việc trả lại đơn khởi kiện thực hiện tương tự phần TCLĐ cá nhân (tham khảo Mẫu số 05 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này).

1.3. Khởi kiện tranh chấp về kinh phí công đoàn

1.3.1. Điều kiện khởi kiện tranh chấp về kinh phí công đoàn

– Chủ thể có quyền khởi kiện tranh chấp về kinh phí công đoàn: là tổ chức công đoàn được nêu tại Mục II Phần I của Hướng dẫn này.

– Tranh chấp về kinh phí công đoàn có thể khởi kiện đến Tòa án mà không bắt buộc phải giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động.

– Các điều kiện khởi kiện khác (vụ tranh chấp chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo đảm bảo đúng quy định của pháp luật): thực hiện theo quy định tại tiểu mục 1.2 Mục I Phần II của Hướng dẫn này.

1.3.2. Xây dựng phương án khởi kiện tranh chấp về kinh phí công đoàn

Trên cơ sở nội dung vụ việc phát sinh tranh chấp, quy định của pháp luật có liên quan, Công đoàn xác định có nên khởi kiện vụ tranh chấp về kinh phí công đoàn không; nếu có thì yêu cầu khởi kiện cụ thể là gì; khởi kiện đến Tòa án nào.

1.3.3. Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện tranh chấp về kinh phí công đoàn

Hồ sơ khởi kiện vụ tranh chấp về kinh phí công đoàn gồm: đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức công đoàn bị xâm phạm.

– Đơn khởi kiện: soạn theo Mẫu số 23 ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ; đảm bảo quy định tại Điều 189 BLTTDS (tham khảo Mẫu số 02 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này).

– Các tài liệu, chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện, bao gồm:

+ Các tài liệu chứng minh tư cách khởi kiện của Công đoàn, của người đại diện của Công đoàn.

+ Tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm của đơn vị sử dụng lao động (không đóng kinh phí công đoàn) như công văn của Công đoàn đề nghị, đôn đốc đơn vị sử dụng lao động phải đóng kinh phí công đoàn.

– Việc nộp hồ sơ khởi kiện và khiếu nại việc trả lại đơn khởi kiện thực hiện tương tự phần TCLĐ cá nhân (tham khảo Mẫu số 05 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này).

[…]

Phần III

CÔNG ĐOÀN THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN

I. YÊU CẦU TÒA ÁN TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÔ HIỆU, THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ VÔ HIỆU

1. Xác định điều kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

– Chủ thể yêu cầu Tòa án tuyên bố HĐLĐ vô hiệu, TƯLĐTT vô hiệu phải là chủ thể có thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 401 BLTTDS (NLĐ, NSDLĐ, tổ chức đại diện tập thể lao động, cơ quan nhà nước có thẩm quyền); chủ thể này phải có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự.

– Yêu cầu tuyên bố HĐLĐ vô hiệu, TƯLĐTT vô hiệu chưa được Tòa án giải quyết bằng quyết định có hiệu lực pháp luật.

– Đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố HĐLĐ vô hiệu, TƯLĐTT vô hiệu và các tài liệu chứng cứ kèm theo phải đúng quy định tại Điều 362 BLTTDS.

2. Chuẩn bị và nộp hồ sơ yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

2.1. Hồ sơ yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Hồ sơ yêu cầu Tòa án tuyên bố HĐLĐ vô hiệu, TƯLĐTT vô hiệu bao gồm đơn yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ để chứng minh HĐLĐ vô hiệu, TƯLĐTT vô hiệu.

– Đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố HĐLĐ vô hiệu, TƯLĐTT vô hiệu: soạn theo Mẫu số 92 ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đảm bảo các nội dung theo quy định tại Điều 362 BLTTDS (tham khảo Mẫu số 10 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này).

– Các tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu gồm:

+ Giấy tờ chứng minh chủ thể yêu cầu có quyền yêu cầu: Chứng minh nhân dân/thẻ căn cước công dân (nếu NLĐ là người yêu cầu); Giấy ủy quyền có công chứng, giấy giới thiệu CBCĐ tham gia tố tụng tại Tòa án (nếu Công đoàn là người yêu cầu);

+ HĐLĐ, phụ lục HĐLĐ (nếu yêu cầu tuyên bố HĐLĐ vô hiệu); TƯLĐTT, phụ lục TƯLĐTT (nếu yêu cầu tuyên bố TƯLĐTT vô hiệu);

+ Tài liệu, chứng cứ khác (nếu có) để chứng minh HĐLĐ vô hiệu, TƯLĐTT vô hiệu.

2.2. Gửi hồ sơ yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

– Xác định Toà án có thẩm quyền giải quyết: Thực hiện theo tiểu mục 2 mục IV Phần I của Hướng dẫn này.

– Phương thức gửi đơn yêu cầu: thực hiện theo Điều 190 BLTTDS, người yêu cầu có thể nộp trực tiếp tại Tòa án có thẩm quyền, gửi qua đường bưu chính hoặc gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

3. Khiếu nại việc trả lại đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại việc trả lại đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định tại tiểu mục 1.1.6, Mục I, Phần II của Hướng dẫn này (tham khảo Mẫu số 05 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này).

[…]

II. YÊU CẦU TÒA ÁN XÉT TÍNH HỢP PHÁP CỦA CUỘC ĐÌNH CÔNG

1. Xác định điều kiện yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công

– Chủ thể yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công: căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 403 BLLĐ, trong quá trình đình công hoặc trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt đình công, CĐCS tổ chức và lãnh đạo đình công; Công đoàn cấp trên được CĐCS ủy quyền có quyền yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công.

– Yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công chưa được Tòa án giải quyết bằng quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

– Đơn yêu cầu và các tài liệu chứng cứ kèm theo phải đúng quy định tại Điều 362 BLTTDS (tham khảo Mẫu số 10 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này).

2. Chuẩn bị và nộp hồ sơ yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công

2.1. Hồ sơ yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công

Hồ sơ bao gồm đơn yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của Công đoàn là có căn cứ và hợp pháp.

– Đơn yêu cầu phải đảm bảo các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 362 BLTTDS và phải có tên, địa chỉ của CĐCS tổ chức và lãnh đạo cuộc đình công; tên, địa chỉ của NSDLĐ nơi tập thể lao động đình công.

– Tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu:

+ Các giấy tờ chứng minh tư cách của người yêu cầu: giấy ủy quyền có công chứng, giấy giới thiệu CBCĐ tham gia tố tụng tại Tòa án.

+ Bản sao quyết định đình công, quyết định hoặc biên bản hòa giải, giải quyết TCLĐ của hòa giải viên lao động, Ban trọng tài lao động (nếu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp), tài liệu, chứng cứ khác có liên quan đến việc xét tính hợp pháp của cuộc đình công.

2.2. Gửi đơn yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công

– Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết: Thực hiện theo tiểu mục 2 mục IV Phần I của Hướng dẫn này.

– Phương thức gửi đơn yêu cầu: thực hiện theo Điều 190 BLTTDS, người yêu cầu có thể nộp trực tiếp tại Tòa án có thẩm quyền, gửi qua đường bưu chính hoặc gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

3. Khiếu nại việc trả lại đơn yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công

Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại việc trả lại đơn yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công được thực hiện theo quy định tại tiểu mục 1.1.6 Mục I Phần II của Hướng dẫn này (tham khảo Mẫu số 05 Phụ lục kèm theo Hướng dẫn này).

[…]

Phần IV

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

I. TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM

1. Tổ chức phổ biến, quán triệt đến các cấp công đoàn về BLTTDS và các quy định pháp luật khác liên quan đến hoạt động khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án của các cấp công đoàn.

2. Tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng cho CBCĐ, triển khai kế hoạch đào tạo nghề luật sư cho CBCĐ, hình thành đội ngũ CBCĐ có đủ năng lực khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án. Biên soạn giáo trình, tài liệu phục vụ công tác tuyên truyền, tập huấn, bồi dưỡng cho các cấp công đoàn.

3. Tổ chức trao đổi kinh nghiệm, chuyên môn, theo dõi cập nhật, tổng hợp tình hình công đoàn khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án giữa các địa phương, đơn vị, CBCĐ các cấp.

4. Tham gia, kiến nghị, đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến quyền và trách nhiệm của Công đoàn khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án.

5. Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, chỉ đạo các cấp công đoàn, Tòa án đồng cấp phối hợp triển khai các hoạt động liên quan đến quyền và trách nhiệm của công đoàn; phối hợp với Hội luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam hỗ trợ tổ chức công đoàn thực hiện khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án.

6. Định kỳ kiểm tra, giám sát các cấp công đoàn triển khai thực hiện khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án; sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả, kịp thời khen thưởng các tập thể, cá nhân thực hiện tốt việc khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án.

II. LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH, THÀNH PHỐ, CÔNG ĐOÀN NGÀNH TRUNG ƯƠNG VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG, CÔNG ĐOÀN TỔNG CÔNG TY TRỰC THUỘC TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM

1. Có trách nhiệm chính thực hiện khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án theo Hướng dẫn này. Trong trường hợp công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có điều kiện và năng lực thì Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành Trung ương, Công đoàn Tổng Công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam giao nhiệm vụ cho công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở thực hiện.

2. Xây dựng đội ngũ cán bộ tư vấn pháp luật, cán bộ công đoàn có trình độ tương đương luật sư tại địa phương, đơn vị; củng cố hệ thống các trung tâm, văn phòng tư vấn pháp luật, thành lập trung tâm tư vấn pháp luật và hỗ trợ NLĐ của địa phương, đơn vị (nếu đủ điều kiện) để triển khai hiệu quả hoạt động công đoàn khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án.

3. Tổ chức tập huấn cho CBCĐ cấp dưới về nội dung, quy trình nghiệp vụ, kỹ năng Công đoàn khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết án vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án.

4. Chủ động đề xuất và ký kết chương trình phối hợp công tác với Tòa án nhân dân, Hội luật gia, Liên đoàn Luật sư cùng cấp để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án.

5. Bố trí, phân cấp, hướng dẫn về kinh phí để các cấp công đoàn chủ động thực hiện khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án theo quy định của pháp luật và quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

6. Chỉ đạo, hướng dẫn, phân công nhiệm vụ, hỗ trợ công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, trung tâm, văn phòng tư vấn pháp luật, trung tâm tư vấn pháp luật và hỗ trợ NLĐ thực hiện khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án; kiểm tra, giám sát công đoàn cấp dưới thực hiện nhiệm vụ theo Hướng dẫn này.

7. Kịp thời báo cáo với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam các vụ việc phức tạp, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều NLĐ để được chỉ đạo, hướng dẫn giải quyết.

III. CÔNG ĐOÀN CẤP TRÊN TRỰC TIẾP CƠ SỞ

1. Thực hiện khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án theo sự phân công của Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành Trung ương, Công đoàn Tổng Công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Hướng dẫn này.

2. Tổ chức tập huấn cho cán bộ CĐCS về khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án.

3. Hướng dẫn, hỗ trợ hoặc đại diện CĐCS khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án theo quy định.

4. Chủ động đề xuất và ký kết chương trình phối hợp công tác với Tòa án nhân dân, Hội luật gia, Liên đoàn Luật sư cùng cấp để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án.

5. Định kỳ đánh giá, báo cáo công đoàn cấp trên kết quả thực hiện khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án.

IV. TRUNG TÂM, VĂN PHÒNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT, TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LUẬT VÀ HỖ TRỢ NGƯỜI LAO ĐỘNG

1. Thực hiện khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án khi được NLĐ, tập thể lao động, CĐCS, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ủy quyền, đề nghị; đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ theo sự phân công của Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành Trung ương, Công đoàn Tổng Công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

2. Chủ động đề xuất với Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành Trung ương, Công đoàn Tổng Công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam kế hoạch đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng của cán bộ tư vấn pháp luật, hình thành đội ngũ cán bộ có đủ năng lực thực hiện khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án.

3. Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, giới thiệu về chức năng, nhiệm vụ của trung tâm, văn phòng tư vấn pháp luật, trung tâm tư vấn pháp luật và hỗ trợ NLĐ để đoàn viên, NLĐ biết, đề nghị tư vấn, hỗ trợ khi có nhu cầu.

V. CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ

1. Thực hiện khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án theo Hướng dẫn này. Trường hợp CĐCS không đủ điều kiện, khả năng hoặc trong các trường hợp khó, phức tạp thì ủy quyền cho trung tâm, văn phòng tư vấn pháp luật, trung tâm tư vấn pháp luật và hỗ trợ NLĐ, công đoàn cấp trên đại diện thực hiện.

2. Phối hợp chặt chẽ và kịp thời báo cáo với công đoàn cấp trên tình hình giải quyết TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể; cung cấp các thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án lao động, việc lao động cho công đoàn cấp trên.

3. Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các quyền, nghĩa vụ tham gia khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ án lao động, việc lao động khi được Tòa án triệu tập.

Trên đây là Hướng dẫn Công đoàn khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án. Hướng dẫn này có hiệu lực thi hành từ ngày ký, thay thế Hướng dẫn số 995/HD-TLĐ ngày 30/6/2016 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hướng dẫn Công đoàn khởi kiện và tham gia tố tụng giải quyết các vụ án TCLĐ cá nhân, TCLĐ tập thể.

Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các địa phương, đơn vị phản ánh về Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (qua Ban Quan hệ Lao động) để nghiên cứu, xem xét, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế.


6. Hướng dẫn số 33/HD-VKSTC ngày 08/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về nội dung cơ bản trong công tác trong công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án tranh chấp lao động cá nhân 

Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ, lợi ích giữa cá nhân người lao động hoặc một nhóm người lao động với người sử dụng lao động mà mục đích các bên hướng tới mang tính cá nhân, phát sinh trong quá trình xác lập, thực hiện, chấm dứt quan hệ lao động hoặc phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Dưới tác động của nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế làm phát sinh nhiều tranh chấp lao động nhưng phổ biến là các tranh chấp lao động cá nhân. Trên thực tế, tranh chấp lao động cá nhân rất đa dạng, pháp luật về nội dung liên quan đến việc giải quyết loại tranh chấp này được điều chỉnh ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Thời gian qua, Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã kịp thời phát hiện nhiều vi phạm để thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị, qua đó giúp cho bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân được ban hành đúng quy định của pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích của các bên liên quan trong quan hệ lao động. Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động kiểm sát trong lĩnh vực này vẫn còn không ít khó khăn, vướng mắc cần phải hướng dẫn thực hiện thống nhất.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao về nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án tranh chấp lao động trong toàn Ngành, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật) hướng dẫn một số nội dung cơ bản trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án tranh chấp lao động cá nhân như sau:

I. KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG VÀ VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT

1. Về điều kiện khởi kiện

– Điều kiện khởi kiện vụ án tranh chấp lao động cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 188, khoản 2 Điều 219 Bộ luật Lao động năm 2019 (sau đây viết tắt là BLLĐ năm 2019), Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sau đây viết tắt là BLTTDS năm 2015). Khi kiểm sát nội dung này, Kiểm sát viên, công chức cần xác định đúng, đầy đủ quan hệ tranh chấp lao động, từ đó xem xét tranh chấp thuộc trường hợp bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải trước khi khởi kiện hay thuộc trường hợp được khởi kiện tại Tòa án không qua thủ tục hòa giải.

+ Đối với các tranh chấp lao động cá nhân quy định tại điểm a, b, c, d, đ, e khoản 1 Điều 188 BLLĐ năm 2019, các bên tranh chấp có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết mà không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải.

+ Đối với tranh chấp lao động cá nhân bắt buộc phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động, theo quy định tại khoản 6, khoản 7 Điều 188 BLLĐ năm 2019 thì Tòa án chỉ được thụ lý, giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây:

(i) Hết thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân gửi đến mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải. Trường hợp này, Kiểm sát viên, công chức nghiên cứu tài liệu, chứng cứ xác định thời gian hòa giải viên lao động đã nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp nhưng không giải quyết đúng thời hạn.

(ii) Các bên tranh chấp đã hòa giải thành nhưng một trong các bên không thực hiện các thỏa thuận được ghi nhận trong biên bản hòa giải thành. Trường hợp này, Kiểm sát viên, công chức cần lưu ý về thành phần tham gia hòa giải; nội dung hòa giải thành; biên bản có được thông qua cho các bên tham gia nghe và cùng ký vào biên bản hay không; nội dung thỏa thuận đúng quy định của pháp luật hay trái quy định của pháp luật; tài liệu, chứng cứ thể hiện một trong các bên tranh chấp không thực hiện thỏa thuận trong biên bản hòa giải.

(iii) Các bên tranh chấp đã hòa giải nhưng hòa giải không thành.

Ngoài các trường hợp nêu trên, nếu Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án khi người sử dụng lao động và người lao động chưa thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động là vi phạm về điều kiện khởi kiện. Vì vậy, Kiểm sát viên phải đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015. Trường hợp Tòa án không chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát mà vẫn đưa vụ án ra xét xử thì Kiểm sát viên cần kịp thời báo cáo Viện trưởng VKSND cấp mình ban hành quyết định kháng nghị phúc thẩm hoặc báo cáo đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cấp có thẩm quyền ban hành kháng nghị phúc thẩm; giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án.

Ví dụ: Ông H và Ngân hàng NP kí kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn ngày 20/3/1996. Ngày 15/9/2014, ông H bị Ngân hàng NP tạm đình chỉ chức vụ Giám đốc theo Quyết định số 721/QĐ-HĐTV-UBNS với lý do ông H có nhiều sai phạm (sau đây viết tắt là Quyết định số 721/2014).

Ngày 20/01/2015, ông H bị Ngân hàng NP miễn nhiệm chức vụ Giám đốc vì ông H không còn đủ tín nhiệm và điều kiện để đảm đương chức vụ Giám đốc tại Quyết định số 18/QĐ-HĐTV-UBNS (sau đây viết tắt là Quyết định số 18/2015). Không đồng ý với Quyết định số 721/2014 và Quyết định số 18/2015, ông H làm đơn đề nghị chấm dứt hợp đồng lao động. Ngày 09/9/2015, Ngân hàng NP ban hành Quyết định số 123/QĐ-NHNPK-HCNS về việc chấm dứt hợp đồng lao động với ông H kể từ ngày 10/9/2015. Sau đó, Ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 721/2014 và Quyết định số 18/2015, buộc Ngân hàng NP bồi thường thiệt hại và thanh toán tiền lương từ ngày 16/9/2014 đến 10/9/2015, buộc Ngân hàng NP xin lỗi công khai và phục hồi chức vụ.

Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án “Tranh chấp kỹ luật lao động bằng hình thức sa thải, đòi tiền lương và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H. Ông H làm đơn kháng cáo.

Tại Bản án lao động phúc thẩm số 233/2018/LĐ-PT ngày 08/02/2018, TAND Thành phố HCM đã tuyên hủy án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án vì Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án khi chưa đủ điều kiện khởi kiện. Trong vụ án này, ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hai quyết định phát sinh trong thời gian ông H thực hiện hợp đồng lao động là Quyết định số 721/2014 và Quyết định số 18/2015, buộc Ngân hàng NP bồi thường thiệt hại và thanh toán tiền lương là “tranh chấp về thực hiện hợp đồng lao động, tiền lương”. Căn cứ Điều 201 BLLĐ năm 2012 (nay là khoản 1 Điều 188 BLLĐ năm 2019), khoản 1 Điều 32 BLTTDS thì tranh chấp nêu trên thuộc trường hợp phải qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết. Việc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án khi chưa qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

– Lưu ý, theo quy định tại Điều 189 BLLĐ năm 2019 thì Hội đồng trọng tài lao động có thẩm quyền giải quyết đối với tranh chấp lao động cá nhân. Khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp thì các bên không được đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ một số trường hợp sau đây:

+ Hết thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 189 BLLĐ năm 2019 mà Ban trọng tài lao động không được thành lập.

+ Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày Ban trọng tài lao động được thành lập mà Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp.

+ Đã có quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động nhưng một trong các bên không thi hành quyết định.

[…]


7. Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Toà án nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc trong xét xử

[…]

III. VỀ DÂN SỰ

[…]

2. Ông A vay của Ngân hàng 01 tỷ đồng, thời hạn vay 01 tháng kể từ ngày 02-01-2017, lãi suất 2% tháng. Sau thời hạn 01 tháng ông A không trả được nợ gốc và lãi. Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày 03-02-2017 đến ngày 03-02-2020, Ngân hàng không khởi kiện yêu cầu ông A trả nợ. Đến nay, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông A trả nợ thì ông A có được quyền yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc hay không?

Theo quy định Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.

Căn cứ quy định nêu trên thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đã hết. Tuy nhiên, theo quy định khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong trường hợp yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Do đó, Ngân hàng có thể khởi kiện ông A yêu cầu đòi lại tài sản (nợ gốc) và Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án mà không phụ thuộc vào việc các bên có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc hay không.

[…]

IV. VỀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

1. Ông A phải thi hành án trả cho ông C số tiền là 500 triệu đồng, ông A không tự nguyện thi hành án. Cơ quan thi hành án xác định vợ chồng ông A có tài sản là quyền sử dụng 156m2 đất cùng tài sản gắn liền trên đất, nhưng chưa làm các thủ tục thông báo theo quy định tạikhoản 1 Điều 74 của Luật Thi hành án dân sự, chưa cưỡng chế thi hành án đối với ông A. Ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của ông A trong khối tài sản chung. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện H ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với lý do ông C chưa đủ kiều kiện khởi kiện. Vậy, quyết định đình chỉ này của Tòa án nhân dân huyện H có đúng không?

Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 7 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền: Khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án”.

Khoản 1 Điều 74 của Luật Thi hành án dân sự quy định: “Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục t tụng dân sự.

Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự…”

Theo quy định tại khoản 12 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì: “Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” là một trong những tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Tuy nhiên, trong trường hợp này cơ quan thi hành án dân sự mới chỉ xác định vợ chồng ông A có tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất diện tích 156m2 cùng tài sản gắn liền trên đất mà chưa làm các thủ tục thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều 74 của Luật Thi hành án dân sự, ông C (người được thi hành án) đã khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung là chưa đủ điều kiện khởi kiện. Do đó, Tòa án nhân huyện H ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là có căn cứ.

2. Theo Công văn số 141/TANDTC-KHXXngày 21-9-2011 của Tòa án nhân dân tối cao về thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là giấy tờ có giá, nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết buộc người chiếm giữ trả lại các giấy tờ này thì Tòa án không thụ lý giải quyết. Tuy nhiên, theo quy định tạikhoản 2 Điều 4 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật áp dụng”. Vậy, Tòa án có được thụ lý giải quyết các trường hợp này không?

Khoản 8 Điều 6 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 quy định: Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”. Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005 quy định giấy tờ có giá là: Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc.

Khoản 16 Điều 3 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”. Mục 1 Phần I Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự hướng dẫn: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính; nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì là đi tượng khởi kiện vụ án hành chính”. Theo đó, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính, không phải là “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ tr nợ” cho nên không phải là giấy tờ có giá. Do vậy, hướng dẫn tại Công văn số 141/TANDTC-KHXX xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là giấy tờ có giá vẫn phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015 và các pháp luật khác đang có hiệu lực.

Điều 164 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải tr lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”

Như vậy, nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết buộc người chiếm giữ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chấm dứt hành vi cản trở thực hiện quyền của người sử dụng đất thì Tòa án nhân dân sẽ thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[…]

5. Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nguyên đơn không nộp tiền chi phí định giá theo điểm đ khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Vậy, trong trường hợp này nguyên đơn có quyền khởi kiện lại vụ án như trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện hay không?

Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì:

“Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:

…đ) Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này…”

Khoản 1 Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật…”.

Như vậy, theo các quy định nêu trên thì trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì lý do “Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác” thì nguyên đơn không có quyền khởi kiện lại để yêu cầu Tòa giải quyết tiếp vụ án như đối với trường hợp rút đơn khởi kiện.

[…]

9. Người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì Tòa án có phải yêu cầu bổ sung văn bản xác minh nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới thụ lý vụ án không? Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không thể tống đạt được văn bản tố tụng cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ ghi trong giao dịch, hợp đồng do nguyên đơn cung cấp. Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương thì bị đơn đã đi khỏi nơi cư trú 06 tháng trước. Trong trường hợp này, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hay tiếp tục giải quyết vụ án?

Điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Điểm a khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-5-2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP) quy định: “Địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được xác định như sau: Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống thì nơi cư trú của họ là địa chỉ chỗ ở hợp pháp mà người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường trú hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật cư trú”.

Khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP quy định: “Người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này tại thời điểm nộp đơn khởi kiện mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”.

Khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa ch của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo hướng dẫn tại Điều 5 Nghị quyết này thì Tòa án phải nhận đơn khởi kiện và xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung”.

Căn cứ các quy định trên, người khởi kiện đã ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ ghi trong giao dịch, hợp đồng thì Tòa án phải thụ lý vụ án mà không được yêu cầu người khởi kiện phải cung cấp bổ sung văn bản xác minh nơi cư trú của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trường hợp sau khi thụ lý vụ án mà không tống đạt được văn bản tố tụng, xác minh tại địa phương thì họ đã đi khỏi nơi cư trú 6 tháng trước; đây được xác định là trường hợp người bị kiện, người có quyền, nghĩa vụ liên quan giấu địa chỉ. Tòa án căn cứ quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP để tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung mà không ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

[…]


8. Công văn số 199/TANDTC-PC ngày 18/12/2020 của Toà án nhân dân tối cao về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc giải quyết phá sản

1. Thế nào là “tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán” quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản thì “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.”

Căn cứ vào quy định trên thì doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải có đủ các điều kiện sau đây:

– Có khoản nợ cụ thể, rõ ràng do các bên thừa nhận, thỏa thuận hoặc được xác định thông qua bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, phán quyết của Trọng tài thương mại, hoặc được xác định trong quyết định của cơ quan có thẩm quyền và các bên không có tranh chấp về khoản nợ này.

– Khoản nợ đến hạn thanh toán.

Khoản nợ đến hạn thanh toán là khoản nợ đã được xác định rõ thời hạn thanh toán, mà đến thời hạn đó doanh nghiệp, hợp tác xã phải có nghĩa vụ trả nợ. Thời hạn thanh toán này được các bên thừa nhận, thỏa thuận hoặc được xác định thông qua bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, phán quyết của Trọng tài thương mại hoặc trong quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

– Doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán bao gồm 02 trường hợp:

+ Doanh nghiệp, hợp tác xã không có tài sản để thanh toán các khoản nợ;

+ Doanh nghiệp, hợp tác xã có tài sản nhưng không thanh toán các khoản nợ.

Theo đó, “mất khả năng thanh toán” không có nghĩa là doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản để trả nợ; mặc dù doanh nghiệp, hợp tác xã còn tài sản để trả nợ nhưng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn cho chủ nợ thì vẫn coi là doanh nghiệp, hợp tác xã “mất khả năng thanh toán”.

Cần lưu ý: Pháp luật hiện hành không quy định một mức khoản nợ cụ thể nào để xác định là doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán mà chỉ cần có đủ các điều kiện nêu trên.

[…]

3. Thẩm phán đã ra quyết định không mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có phải từ chối tham gia giải quyết phá sản đối với chính doanh nghiệp, hợp tác xã đó khi vụ việc phá sản được thụ lý lại không?

Thẩm phán đã ra quyết định không mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã trước đó không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 10 Luật Phá sản “đã tham gia ra quyết định tuyên bố phá sản đối với vụ việc phá sản đó” và cũng không thuộc trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi khác theo quy định tại Điều 10 Luật Phá sản. Vì vậy, trường hợp này Thẩm phán không phải từ chối tham gia giải quyết vụ việc phá sản.

[…]

8. Trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chỉ nộp lệ phí phá sản mà không nộp tạm ứng chi phí phá sản thì phải giải quyết như thế nào?

Theo quy định tại Điều 22 và Điều 23 Luật Phá sản thì nộp lệ phí phá sản và tạm ứng chi phí phá sản là nghĩa vụ của người nộp đơn (trừ trường hợp họ không phải nộp). Điều 39 Luật Phá sản quy định: “Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sau khi nhận được biên lai nộp lệ phí phá sản, biên lai nộp tạm ứng chi phí phá sản.”

Như vậy, việc nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản và biên lai nộp lệ phí phá sản, biên lai nộp tạm ứng chi phí phá sản cho Tòa án là hai điều kiện bắt buộc để Tòa án thụ lý phá sản (Điều 39 Luật Phá sản).

Người nộp đơn yêu cầu thuộc trường hợp phải nộp lệ phí và tạm ứng chi phí phá sản mà họ chỉ nộp lệ phí phá sản mà không nộp tạm ứng chi phí phá sản, hoặc không nộp biên lai (chứng cứ khác) về việc nộp hai khoản trên thì Tòa án trả lại đơn cho họ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 35 Luật Phá sản.

[…]

14. Sau khi Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp giữ nguyên quyết định không mở thủ tục phá sản thì người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có được nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản lại đối với chính doanh nghiệp đó không? Nếu có thì sau bao lâu được nộp lại đơn?

Luật Phá sản không quy định cụ thể về trường hợp Tòa án cấp trên có quyết định giữ nguyên quyết định không mở thủ tục phá sản thì sau bao lâu người có quyền, nghĩa vụ được nộp lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Do đó, trong bất kỳ khoảng thời gian nào, nếu xác định doanh nghiệp, hợp tác xã đó bị mất khả năng thanh toán, người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được nộp lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với chính doanh nghiệp, hợp tác xã đó.

Tùy từng trường hợp mà Tòa án xem xét đơn yêu cầu, các điều kiện khác theo quy định của Luật Phá sản để xử lý đơn, thụ lý đơn và quyết định việc mở hoặc không mở thủ tục phá sản. Đối với trường hợp này, Tòa án cần tham khảo các tài liệu chứng cứ về hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã kể từ sau khi có quyết định của Tòa án cấp trên giữ nguyên quyết định không mở thủ tục phá sản như báo cáo thuế, báo cáo tài chính…

[…]


9. Công văn số 6183/VKSTC-V14 ngày 25/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc về pháp luật về dân sự, hành chính

[…]

B. NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC LIÊN QUAN ĐẾN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ, LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, LUẬT ĐẤT ĐAI, BỘ LUẬT LAO ĐỘNG, PHÁP LUẬT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG, THƯƠNG MẠI, XÂY DỰNG

I. Quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS)

1. Theo Điều 357 và Điều 468 BLDSthì trong giao dịch vay tài sản là vật sẽ không bị tính lãi có đúng không?(VKSND tỉnh Long An).

Trả lời:

Điều 463 BLDS quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.” Như vậy, pháp luật không loại trừ việc trả lãi đối với quan hệ vay tài sản là vật.

Mặc dù Điều 357 và Điều 468 BLDS chỉ quy định việc trả lãi đối với tài sản vay là tiền, tuy nhiên, căn cứ vào khoản 2 Điều 14 BLDS “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong Trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng”, trường hợp vay tài sản là vật, có thỏa thuận về lãi mà có tranh chấp về việc trả lãi thì Tòa án vẫn phải thụ lý vụ án để giải quyết. Việc giải quyết phải được thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Điều 45 BLTTDS; tài sản vay là vật có thể được quy ra giá trị bằng tiền để tính lãi suất theo Điều 468 BLDS.

[…]

III. Quy định của Luật Đất đai

[…]

2. Khoản 2 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải”. Tuy nhiên, Luật Đất đai không quy định loại tranh chấp đất đai nào phải qua hòa giải và loại tranh chấp đất đai nào không phải qua hòa giải?

Trả lời:

– Khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai quy định “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai ”. Khoản 2 Điều 202 của Luật quy định: “Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải”. Như vậy, pháp luật đất đai không giới hạn thẩm quyền của UBND cấp xã trong việc hòa giải tranh chấp đất đai, nếu các bên có đơn đề nghị hòa giải thì Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức hòa giải theo các khoản 3, 4 và 5 Điều 202 của Luật.

– Tuy nhiên, có loại tranh chấp đất đai phải qua thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã mới có thể khởi kiện ra Tòa án được. Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của HĐTP TANDTC hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 BLTTDS số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án hướng dẫn về “chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật” tại điểm b khoản 1 Điều 192 BLTTDS như sau: “Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất; tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,… thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án”.

– Tranh chấp đất đai mà đương sự yêu cầu UBND có thẩm quyền giải quyết thì tranh chấp đó phải đã được hòa giải tại UBND cấp xã mà không thành và đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai.

[…]


10. Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Toà án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính 

[…]

III. Về dân sự

[…]

5. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự bán đấu giá tài sản của người phải thi hành án để thi hành án, nếu người phải thi hành án không đồng ý với kết quả bán đấu giá thì có quyền khởi kiện “tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản” không?

Theo quy định tại khoản 13 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 102 của Luật Thi hành án dân sự thì chỉ có hai đối tượng, cụ thể là người mua được tài sản bán đấu giá và chấp hành viên, mới có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá.

Như vậy, Luật Thi hành án dân sự không quy định người phải thi hành có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản. Do vậy, người phải thi hành án nếu không đồng ý với kết quả bán đấu giá tài sản thì họ không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết loại tranh chấp này.

Vấn đề đặt ra là tại sao Luật lại quy định như vậy? Vấn đề này có thể giải thích như sau:

Thứ nhất, theo quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật Đấu giá tài sản thì đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định tại Luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 49 của Luật này. Theo quy định tại khoản 5 thì người có tài sản đấu giá là cá nhân, tổ chức sở hữu tài sản, người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền bán đấu giá tài sản hoặc người có quyền đưa tài sản ra đấu giá theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; theo quy định tại khoản 6 thì người mua được tài sản đấu giá là người trúng đấu giá và ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu giá tài sản; theo quy định tại khoản 8 thì người trúng đấu giá là người trả giá cao nhất so với giá khởi điểm hoặc bằng giá khởi điểm nếu không có người trả giá cao hơn theo phương thức trả giá lên; hoặc là người chấp nhận mức giá khởi điểm hoặc mức giá đã giảm trong trường hợp đấu giá theo phương thức đặt giá xuống. Thực chất, đây là một giao dịch dân sự mà chủ thể tham gia là người có tài sản hoặc có quyền đưa tài sản ra đấu giá và người tham gia đấu giá và người trúng đấu giá theo quy định của pháp luật. Chỉ giữa những người này mới phát sinh quyền, nghĩa vụ có khả năng tranh chấp với nhau có liên quan đến kết quả đấu giá và chỉ người này mới có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy kết quả đấu giá nếu họ cho rằng có vi phạm pháp luật trong quá trình đấu giá làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ. Xem xét trường hợp cơ quan thi hành án bán đấu giá tài sản thì Cơ quan thi hành mà cụ thể là Chấp hành viên là bên có quyền đưa tài sản của người phải thi hành án ra bán đấu, mà không phải là người phải thi hành án có tài sản bị cơ quan thi hành án kê biên và đưa ra bán đấu giá để thi hành án, bên trúng đấu giá tài sản là người tham gia đấu giá trả giá cao nhất theo phương thức trả giá lên hoặc chấp nhận mức giá đã giảm theo phương thức đấu giá xuống. Vì vậy, chỉ có Chấp hành viên và người trúng đấu giá đã ký hợp đồng mua tài sản đấu giá mới có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch bán đấu giá và có thể trở thành các bên tranh chấp với nhau về kết quả bán đấu giá tài sản. Người phải thi hành án không phải là người đưa tài sản ra bán đấu giá, tức là không tham gia, không phải là một bên trong giao dịch này nên không có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch và do đó họ không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản. Chỉ trong trường hợp duy nhất là họ tham gia và trúng đấu giá thì lúc này với tư cách là người mua được tài sản đấu giá thì họ mới có quyền khởi kiện.

Thứ hai, nếu người phải thi hành án có căn cứ cho rằng cơ quan thi hành án có hành vi, quyết định kê biên, định giá và bán đấu giá đối với tài sản của họ để thi hành án trái pháp luật thì họ có quyền khiếu nại theo quy định tại khoản 1 Điều 140 của Luật Thi hành án dân sự. Việc giải quyết khiếu nại của họ được thực hiện theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục quy định tại Mục 1 Chương VI của Luật Thi hành án dân sự.

[…]


11. Công văn số 263/TANDTC-PC ngày 05/12/2018 của Toà án nhân dân tối cao xác định quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án tranh chấp về di sản thừa kế

Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh vướng mắc của các Tòa án nhân dân trong việc xác định quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án tranh chấp về di sản thừa kế, cụ thể như sau:

Trong vụ án tranh chấp thừa kế tài sản mà trước ngày 01-01-2017 đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, trong đó Tòa án quyết định tạm giao cho người thừa kế quản lý di sản do hết thời hiệu 10 năm yêu cầu chia di sản thừa kế. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế đối với tài sản đó vẫn còn. Vậy trong trường hợp này, người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó hay không?

Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án chỉ quyết định tạm giao cho người thừa kế quản lý di sản và không quyết định việc phân chia di sản vì lý do thời hiệu yêu cầu chia di sản đã hết. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu để yêu cầu chia di sản thừa kế đó vẫn còn thì phải xác định đây là trường hợp Tòa án chưa giải quyết việc phân chia di sản thừa kế. Do đó, Tòa án không áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-5-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xác định người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án và trả lại đơn khởi kiện. Trường hợp này, người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688, khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu Chánh án Tòa án nhân dân các cấp, thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao sau khi nhận được Công văn này cần tổ chức quán triệt và triển khai ngay tới các Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trong cơ quan, đơn vị mình. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc hoặc đề xuất, kiến nghị thì phản ánh về Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để có hướng dẫn kịp thời./.


12. Công văn số 144/TANDTC-KHXX ngày 21/9/2011 của Toà án nhân dân tối cao về vấn đề liên quan đến việc khởi kiện vụ án dân sự của cơ quan bảo hiểm xã hội

Sau khi nghiên cứu Công văn số 2369/BHXH-KT ngày 09-6-2011 của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam về việc đề nghị hướng dẫn một số vướng mắc khi khởi kiện vụ án dân sự, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

1. Về việc khởi kiện vụ án dân sự của cơ quan Bảo hiểm Xã hội

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 151 Bộ luật lao động (đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006) thì: “Tranh chấp giữa người lao động đã nghỉ việc theo chế độ với người sử dụng lao động hoặc với cơ quan bảo hiểm xã hội, giữa người sử dụng lao động với cơ quan bảo hiểm xã hội do hai bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì do Tòa án nhân dân giải quyết”.

Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày 22-8-2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam thì “Bảo hiểm Xã hội Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm y tế tự nguyện; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ: bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp (sau đây gọi chung là bảo hiểm xã hội), bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm y tế tự nguyện (sau đây gọi chung là bảo hiểm y tế) theo quy định của pháp luật”.

Trường hợp cơ quan Bảo hiểm Xã hội khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân, nếu Tòa án thấy rằng vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của mình thì căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 151 Bộ luật lao động, khoản 3 Điều 162 của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS) và văn bản hướng dẫn thi hành để thụ lý đơn khởi kiện, giải quyết vụ án dân sự và xác định cơ quan Bảo hiểm Xã hội là nguyên đơn. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 31 và điểm c khoản 1 Điều 33 của BLTTDS thì cơ quan Bảo hiểm Xã hội có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện. Trong trường hợp người bị khởi kiện ở nước ngoài thì cơ quan bảo hiểm xã hội có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của BLTTDS.

[…]


13. Công văn số 109/KHXX ngày 30/6/2006 của Toà án nhân dân tối cao về việc xử lý các trường hợp không biết địa chỉ của người bị kiện

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15-6-2004, có hiệu lực từ ngày 01-01-2005. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 164 BLTTDS, thì cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính quy định tại Khoản 2 Điều 164 BLTTĐS, trong đó phải ghi rõ tên, địa chỉ của người bị kiện (Điểm đ Khoản 2 Điều 1 64).

Trong trường hợp người khởi kiện không thi hành đúng quy định nêu trên của BLTTDS, thì Toà án yêu cầu họ phải sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 169 của BLTTĐS. Nếu họ không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Toà án, thì Toà án trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 169 của BLTTĐS.

Tuy nhiên, qua theo dõi Mục nhắn tin trên địa chỉ của người bị kiện trên các phương tiện thông tin đại chúng, Toà án nhân dân tối cao nhận thấy có một số Toà án nhân dân địa phương khi thụ lý vụ án dân sự như: đòi tài sản, tranh chấp di sản thừa kế, ly hôn… đã không kiểm tra đầy đủ đơn khởi kiện cho nên sau khi thụ lý vụ án, do không biết địa chỉ của người bị kiện nên đã ra thông báo tìm kiếm địa chỉ của người bị kiện vắng mặt tại nơi cư trú. Việc làm này là không đúng với quy định của BLTTDS. Trong thông báo tìm kiếm địa chỉ của người bị kiện, Toà án thường yêu cầu người bị kiện trong thời hạn do Toà án ấn định phải có mặt tại Toà án để giải quyết vụ án; nếu không có mặt đúng hạn, Toà án sẽ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Để thi hành đúng và thống nhất quy định của BLTTDS, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết các vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm” của BLTTDS. Tại các tiểu Mục 8.5, 8.6 và 8.7 Mục 8 Phần I của Nghị quyết hướng dẫn:

8:5. Trường hợp trong đơn khởi kiện không ghi đầy đủ cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện; tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thì Toà án yêu cầu người khởi kiện ghi đầy đủ và đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nếu người khởi kiện không thực hiện, thì Toà án căn cứ vào Khoản 2 Điều 169 của BLTTDS trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho họ mà không được thụ lý vụ án. Việc Toà án thụ lý vụ án để sau đó ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án với lý do “chưa tìm được địa chỉ của bị đơn” là không đúng quy định của BLTTDS, vì đây không phải là một trong những trường hợp Toà án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 189 của BLTTDS. Toà án cũng không được tự mình tiến hành thông báo tìm người bị kiện, vì đây là nghĩa vụ của đương sự.

8.6. Đối với trường hợp trong đơn khởi kiện người khởi kiện có ghi đầy đủ cụ thể và đúng địa chỉ của người bị kiện, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện, cho Toà án, nhằm Mục đích dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện, thì được coi là trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình dấu địa chỉ. Toà án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

8.7. Nếu người khởi kiện không biết hoặc ghi không đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để ghi trong đơn khởi kiện, thì họ phải thực hiện việc thông báo tìm tin tức, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”

Toà án nhân dân tối cao đề nghị các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện đúng các hướng dẫn trên đây của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và lưu ý một số Điểm như sau:

1. Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần rà soát lại trong số các vụ án dân sự đã thụ lý và đang có quyết định tạm đình chỉ vì lý do “chưa tìm được địa chỉ của bị đơn” không?

Nếu có vụ án nào thuộc trường hợp này thì tiếp tục đưa ra giải quyết theo hướng dẫn tại các tiểu Mục 8.5, 8.6 và 8.7 Mục 8 Phần I của Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Trường hợp người khởi kiện không biết hoặc ghi không đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thì trả lại đơn khởi kiện cho họ và xoá sổ thụ lý. Đồng thời hướng dẫn họ thực hiện việc thông báo tìm tin tức, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

2. Trường hợp người khởi kiện có yêu cầu Toà án thông báo tìm tin tức, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thì Toà án cần hướng dẫn cho họ làm đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và đây là việc dân sự. Toà án xem xét thụ lý giải quyết theo quy định tại Chương XX và Chương XXII BLTTDS.

Toà án nhân dân tối cao yêu cầu các đồng chí Chánh án Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhận được Công văn này cần tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện.


14. Công văn số 116/2004/KHXX ngày 22/07/2004 của Toà án nhân dân tối cao về việc thực hiện thẩm quyền của TAND theo quy định của luật đất đai năm 2003

Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2004. Toà án nhân dân tối cao cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang khẩn trương hoàn thiện Thông tư liên tịch hướng dẫn về thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003. Trong khi chờ văn bản hướng dẫn của liên ngành, Toà án nhân dân tối cao lưu ý Toà án nhân dân các địa phương thực hiện một số điểm sau đây:

1. Về đối tượng đất mà tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993, các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất đó thì do Toà án giải quyết. Quy định này đã được hướng dẫn thi hành tại Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03-01-2002 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính “Hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất”.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003, thì Toà án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất. Như vậy, so với quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993 về thẩm quyền của Toà án nhân dân giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất, thì thẩm quyền của Toà án nhân dân giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 được mở rộng hơn nhiều; do đó, kể từ ngày 01-7-2004 trở đi, sau khi nhận được đơn khởi kiện của đương sự Toà án phải căn cứ vào quy định tại Điều 136, các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 nhằm xác định đúng thẩm quyền và thụ lý giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất theo thủ tục chung.

2. Theo tinh thần quy định tạiĐiều 135 và Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 thì tranh chấp đất đai nhất thiết phải qua hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là UBND cấp xã) mà một bên hoặc các bên là đương sự không nhất trí, thì họ có quyền khởi kiện đến Toà án nhân dân cấp có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết (nếu tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân theo quy định tại Điều 136). Khi áp dụng quy định tại Điều 135 và Điều 136 Luật Đất đai năm 2003, Toà án cần chú ý:

a. Kể từ ngày 01-7-2004 trở đi Toà án chỉ thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai, nếu tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại UBND cấp xã mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí và khởi kiện đến Toà án. Trong trường hợp đương sự nộp đơn khởi kiện yêu cầu Toà án thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai mà tranh chấp đó chưa qua hoà giải tại UBND cấp xã thì Toà án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và hướng dẫn cho họ thực hiện theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Luật Đất đai năm 2003.

b. Đối với tranh chấp đất đai mà Toà án đã thụ lý trước ngày 01-7-2004 thì Toà án tiếp tục giải quyết mà không trả lại đơn khởi kiện cho đương sự để tiến hành việc hoà giải tại UBND cấp xã.

3. Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003, thì tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:

a. Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng.

b. Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có thể khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định cuối cùng.

Căn cứ vào các quy định nêu trên thì sau khi có quyết định giải quyết cuối cùng của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, đương sự không có quyền khiếu kiện đối với quyết định đó tại Toà án nhân dân, trong trường hợp này nếu đương sự gửi đơn đến Toà án, thì Toà án căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 136, khoản 2 Điều 138 Luật Đất đai năm 2003, khoản 3 Điều 31 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính trả lại đơn cho đương sự.

4. Việc giải quyết khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai được quy định tạiĐiều 138 Luật Đất đai năm 2003 cần chú ý như sau:

a. Khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 138 Luật Đất đai năm 2003 bắt buộc phải được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi tắt là chủ tịch UBND cấp huyện) hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Chủ tịch UBND cấp tỉnh) giải quyết. Sau khi có quyết định giải quyết lần đầu của Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định đó thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân; do đó, đối với trường hợp đương sự gửi đơn khiếu kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai đến Toà án mà khiếu kiện đó chưa có quyết định giải quyết lần đầu của người có thẩm quyền quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 138 Luật Đất đai năm 2003 thì Toà án không thụ lý.

b. Thời hiệu khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai, thời hạn khiếu nại tiếp theo đến cơ quan có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Toà án nhân dân được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Luật Đất đai năm 2003. Các thời hạn này khác với thời hiệu khởi kiện quy định tại khoản 1 Điều 30 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính; do đó cần thực hiện quy định về thời hiệu, thời hạn quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Luật Đất đai năm 2003.

5. Cần lưu ý là theo quy định tại khoản 3 Điều 138 Luật Đất đai năm 2003 thì từ nay trở đi việc giải quyết khiếu nại về đất đai quy định tại khoản 2 Điều này không bao gồm trường hợp khiếu nại về quyết định giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại khoản 2 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003. Theo tinh thần quy định này đối với quyết định giải quyết khiếu nại về đất đai quy định tại khoản 2 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003, đương sự không có quyền khởi kiện tại Toà án.

6. Khi giải quyết tranh chấp về đất đai, Toà án cần nghiên cứu kỹ nội dung hướng dẫn tại mục 1 Phần I Công văn số 2162/BTNMT-ĐĐ ngày 02-7-2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại về đất đai để thực hiện cho đúng.


15. Công văn số 04/2002/KHXX ngày 10/01/2002 của Toà án nhân dân tối cao về việc thẩm quyền xác định cha cho con

Sau khi nghiên cứu Công văn số 238/CV-TA ngày 7-1-2001 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau: Theo quy định tại các điều 30, 31, 32 và 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Điều 47 Nghị định số 83//998/NĐ-CP ngày 10-10-1998 của Chính phủ “Về đăng ký hộ tịch” cũng như theo quy định tại các điều 63, 64 và 65 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, thì Toà án nhân dân chỉ thụ lý giải quyết đơn yêu cầu xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp. Đối với trường hợp xin nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người con công nhận và đăng ký. Đối với trường hợp quý Toà nêu trong Công văn số 238/CV-TA nói trên thì chưa phản ánh cụ thể giữa gia đình anh Bồng và chị Thuý có tranh chấp hay không? Căn cứ vào các quy định của pháp luật được viện dẫn ở trên thì tuỳ từng trường hợp mà giải quyết như sau:

1 – Nếu giữa gia đình anh Bồng và chị Thuý không có tranh chấp, gia đình anh Bồng thừa nhận cháu Bình là con của anh Bồng, cháu của gia đình anh Bồng và chính quyền địa phương cũng cung cấp các thông tin xác định anh Bồng là cha của cháu Bình, thì việc yêu cầu xác định cha cho con trong trường hợp này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân; do đó: Nếu Toà án chưa thụ lý vụ án thì Toà án căn cứ vào điểm 5 Điều 36 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trả lại đơn cho người nộp đơn.

– Nếu Toà án đã thụ lý vụ án thì Toà án căn cứ vào điểm 4 Điều 46 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Trong cả hai trường hợp trên Toà án hướng dẫn cho người nộp đơn biết việc xác định và đăng ký việc nhận con trong trường hợp này là thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người con cư trú.

2– Nếu giữa gia đình anh Bồng và chị Thuý có tranh chấp với nhau, gia đình anh Bồng không công nhận cháu Bình là con của anh Bồng, là cháu của gia đình anh Bồng thì việc yêu cầu xác định cha cho con trong trường hợp này là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân và Toà án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.

Trên đây là ý kiến của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong việc giải quyết vụ việc cụ thể nêu trong Công văn số 238/CV-TA ngày 7-11-2001 của Quý Toà và các vụ việc tương tự khác.


16. Công văn số 176/2001/KHXX ngày 31/12/2001 của Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết đơn yêu cầu Toà án xác định con nuôi

Sau khi nghiên cứu Công văn số 109/CV-DS ngày 06-11-2001 của Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Đối với trường hợp người phụ nữ sau khi sinh con nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên họ đã cho người khác nuôi con của họ, nay họ có đơn yêu cầu Toà án xác định con của mình, thì tuỳ từng trường hợp mà giải quyết như sau:

1. Trường hợp ngưòi mẹ có đơn yêu cầu Toà án xác định một người là con của mình, mà người được yêu cầu xác định là con và những người nuôi dưỡng người đó đồng ý cho người mẹ được nhận con không có tranh chấp.

Theo tinh thần quy định tại Điều 64 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10-10-1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch và hướng dẫn tại Công văn số 410/TP-PLDSKT ngày 3-4-2001 của Bộ Tư pháp thì trường hợp này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân; do đó:

a. Nếu Toà án chưa thụ lý vụ án thì Toà án căn cứ vào điểm 5 Điều 36 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trả lại đơn cho người nộp đơn, đồng thời hướng dẫn cho họ biết việc công nhận và đăng ký việc nhận con trong trường hợp này là thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người con cư trú.

b. Nếu Toà án đã thụ lý vụ án thì Toà án căn cứ vào điểm 4 Điều 46 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án và hướng dẫn cho họ biết việc công nhận và đăng ký việc nhận con trong trường hợp này là thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người con cư trú.

2. Trường hợp người mẹ có đơn yêu cấu Toà án xác định một người là con của mình, mà người được yêu cầu xác định là con và những người nuôi dưỡng có tranh chấp với nhau.

Theo quy định tại Điều 64 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì trường hợp này là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân; do đó, Toà án thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Theo quy định tại Điều 43 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì trường hợp này không thuộc một trong các việc không được hoà giải; do đó, Toà án tiến hành hoà giải theo thủ tục quy định tại Điều 44 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Nếu Toà án tiến hành hoà giải mà các đương sự thoả thuận được với nhau về việc mẹ nhận con thì lập biên bản hoà giải thành. Nếu trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có sự thay đổi ý kiến hoặc phản đối thì Toà án áp dụng khoản 2 Điều 44 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự.

Trên đây là ý kiến của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong khi giải quyết vụ án cụ thể ở địa phương.


17. Công văn số 81/2000/KHXX ngày 03/07/2000 của Toà án nhân dân tối cao về việc uỷ quyền tham gia tố tụng tại Toà án nhân dân

Trong thời gian qua Toà án nhân dân tối cao nhận được các công văn của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam phản ảnh về việc các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh chưa có sự thống nhất trong vấn đề chấp nhận việc các ngân hàng uỷ quyền cho các văn phòng đại diện, chi nhánh của các ngân hàng khởi kiện, tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế.

Để bảo đảm sự thống nhất và đúng pháp luật về vấn đề uỷ quyền của các ngân hàng cho văn phòng đại diện, chi nhánh của các ngân hàng tham gia tố tụng tại Toà án nhân dân trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, các vụ án kinh tế; sau khi có ý kiến thống nhất của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại Công văn số 1136/KS-V12 ngày 2 tháng 6 năm 2000 và của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Công văn số 530/CV-NHHH10 ngày 15 tháng 6 năm 2000; Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

1. Theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì: “Pháp nhân tham gia tố tụng thông qua người lãnh đạo của mình hoặc người đại diện được pháp nhân uỷ quyền bằng văn bản” và theo quy định tại khoản 3 Điều 20 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì: “Đương sự là pháp nhân thì thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền”. Tuy trong các pháp lệnh chỉ quy định chung là “tham gia tố tụng” hoặc “thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng”, nhưng cần hiểu tham gia tố tụng bao gồm cả việc khởi kiện vụ án; do đó, nếu Ngân hàng là pháp nhân có văn bản uỷ quyền cho Văn phòng đại diện, Chi nhánh của Ngân hàng hoặc một người cụ thể khởi kiện vụ án dân sự hoặc vụ án kinh tế để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, thì Toà án thụ lý đơn khởi kiện để giải quyết, nếu không thuộc các trường hợp trả lại đơn kiện quy định tại các điểm 2, 3, 4 và 5 Điều 36 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự hoặc tại các điểm 2, 3, 4 và 5 Điều 32 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.

2. Theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và khoản 3 Điều 20 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, thì pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng. Tuy nhiên, cần phân biệt như sau:

a. Nếu trong văn bản uỷ quyền, Ngân hàng là pháp nhân uỷ quyền cho Văn phòng đại diện, chi nhánh của Ngân hàng mà không uỷ quyền cho một người cụ thể, thì theo quy định tại khoản 4 Điều 100 Bộ luật dân sự, Toà án chỉ chấp nhận việc tham gia tố tụng theo uỷ quyền của Ngân hàng đối với người đứng đầu Văn phòng đại diện, chi nhánh của Ngân hàng.

b. Nếu trong văn bản uỷ quyền, Ngân hàng là pháp nhân uỷ quyền cho người đứng đầu Văn phòng đại diện, chi nhánh của Ngân hàng và cho phép người đứng đầu này uỷ quyền lại cho một người cụ thể nào đó, thì Toà án chỉ chấp nhận việc tham gia tố tụng theo uỷ quyền của Ngân hàng khi người tham gia tố tụng đúng như trong văn bản uỷ quyền của Ngân hàng.

Ví dụ: Ngân hàng có văn bản uỷ quyền cho Giám đốc chi nhánh của Ngân hàng tham gia tố tụng tại Toà án nhân dân để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng khi có tranh chấp và trong trường hợp Giám đốc Chi nhánh của Ngân hàng đi vắng có thể uỷ quyền lại cho một Phó giám đốc Chi nhánh của Ngân hàng, thì Toà án chỉ chấp nhận việc tham gia tố tụng của Giám đốc chi nhánh hoặc của Phó giám đốc chi nhánh được Giám đốc Chi nhánh uỷ quyền lại. Trong trường hợp này, nếu Giám đốc Chi nhánh uỷ quyền lại cho một Trưởng phòng của Chi nhánh, thì việc uỷ quyền này không đúng như trong văn bản uỷ quyền của ngân hàng và do đó Toà án không chấp nhận.

c. Nếu trong văn bản uỷ quyền, Ngân hàng là pháp nhân uỷ quyền cho một người cụ thể, thì Toà án chỉ chấp nhận việc tham gia tố tụng theo uỷ quyền của Ngân hàng khi người tham gia tố tụng đúng như trong văn bản uỷ quyền của Ngân hàng.

đ. Trong trường hợp người được uỷ quyền không thể tiếp tục tham gia tố tụng được, nếu Ngân hàng không thể tự mình tham gia tố tụng thì Toà án chấp nhận việc Ngân hàng uỷ quyền cho người khác tiếp tục tham gia tố tụng.

3. Khoản 2 Điều 22 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và khoản 2 Điều 22 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế chỉ quy định việc uỷ quyền tham gia tố tụng tại Toà án nhân dân phải làm thành văn bản uỷ quyền mà không quy định hình thức văn bản uỷ quyền; do đó, Toà án cần chấp nhận văn bản uỷ quyền của Ngân hàng là hợp pháp nếu bằng một trong các hình thức sau đây được người đứng đầu Ngân hàng ký tên và đóng dấu của Ngân hàng.

a. Văn bản thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh của Ngân hàng, trong đó có việc Ngân hàng uỷ quyền cho Văn phòng đại diện, Chi nhánh của Ngân hàng tham gia tố tụng tại Toà án nhân dân để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng khi có tranh chấp.

b. Văn bản của Ngân hàng uỷ quyền cho Văn phòng đại diện, Chi nhánh của Ngân hàng tham gia tố tụng tại Toà án nhân dân để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng khi có tranh chấp.

c. Văn bản của Ngân hàng uỷ quyền cho Văn phòng đại diện, Chi nhánh của Ngân hàng hoặc một người cụ thể tham gia tố tụng tại Toà án nhân dân để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng trong một vụ tranh chấp cụ thể.

4. Theo quy định tại Điều 23 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và khoản 1 Điều 22 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, thì người đại diện được uỷ quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong phạm vi uỷ quyền; do đó, cần chú ý trong văn bản uỷ quyền, Ngân hàng uỷ quyền cho văn phòng đại diện, chi nhánh của Ngân hàng hoặc một người cụ thể thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng nào thì Toà án chỉ chấp nhận trong phạm vi uỷ quyền đó, cụ thể như sau:

a- Nếu trong văn bản uỷ quyền, Ngân hàng uỷ quyền cho Văn phòng đại diện, Chi nhánh của Ngân hàng hoặc một người cụ thể thực hiện tất cả các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự, thì Toà án chấp nhận việc uỷ quyền đó trong việc khởi kiện và giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm, trong việc kháng cáo bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm cũng như trong việc giải quyết vụ án tại Toà án cấp phúc thẩm (nếu có kháng cáo, kháng nghị).

b- Nếu trong văn bản uỷ quyền, Ngân hàng chỉ uỷ quyền cho Văn phòng đại diện. Chi nhánh của Ngân hàng hoặc một người cụ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong việc khởi kiện và giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm, thì Toà án chỉ chấp thuận việc uỷ quyền đó trong việc khởi kiện và giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm. Mặc dù theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, khoản 1 Điều 59 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, thì người đại diện của đương sự có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm, song trong trường hợp này Toà án không chấp nhận việc người được uỷ quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm cũng như tham gia giải quyết vụ án tại Toà án cấp phúc thẩm, với lý do các việc này không thuộc phạm vi uỷ quyền.

5. Theo quy định tại khoản 5 Điều 100 Bộ luật dân sự thì: “Pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực hiện”. Đồng thời theo hướng dẫn tại điểm 3 Mục VI Nghị quyết số 3/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao “hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự” thì: “Mặc dù đương sự đã uỷ quyền cho người đại diện nhưng đương sự vẫn có quyền tự mình tham gia tố tụng. Toà án cũng có quyền triệu tập đương sự đích thân tham gia tố tụng khi xét thấy cần thiết”; do đó, trong trường hợp xét thấy cần thiết (để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng; bảo vệ tài sản của Nhà nước…), thì Toà án cần triệu tập đại diện theo pháp luật của Ngân hàng tham gia tố tụng.

6. Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, lao động, hành chính mà có Ngân hàng tham gia tố tụng, nếu Ngân hàng không thể tự mình tham gia tố tụng và có uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng, thì việc uỷ quyền cũng phải được thực hiện tương tự các hướng dẫn trên đây mới được Toà án chấp nhận.

Trong quá trình thực hiện các hướng dẫn trong Công văn này, có điều gì vướng mắc hoặc chưa cụ thể, đề nghị các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao để có hướng dẫn bổ sung.


18. Công văn số 92/KHXX ngày 08/8/1997 của Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thi hành thông tư liên tịch 

Để xác định đúng thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các tranh cấp quyển sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật đất đai năm 1993, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục địa chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 02/TTLT ngày 28/7/1997 “Hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993” (sau đây gọi tắt là Thông tư). Thông tư này có hiệu lực từ ngày 15/8/1997.

Như vậy, kể từ ngày 15/8/1997, các Toà án nhân dân các cấp căn cứ vào các hướng dẫn tại Thông tư này để thụ lý và giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Để thống nhất cách hiểu và áp dụng đúng tinh thần các hướng dẫn tại Thông tư này, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân các cấp một số điểm như sau:

1. Trong trường hợp người khởi kiện nộp đơn khởi kiện chỉ yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất (kể cả đất có tài sản mà họ không tranh chấp tài sản), thì trước khi thụ lý, Toà án phải yêu cầu người khởi kiện xuất trình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 1993 (bìa đỏ) hoặc giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn… nơi có đất (là đối tượng tranh chấp quyền sử dụng đất) về việc đất đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 1993 (bìa đỏ). Chỉ sau khi có một trong hai loại giấy nêu trên để xác định chắc chắn là đối với đất đó (đang là đối tượng tranh chấp) đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 1993 (bìa đỏ), thì Toà án mới thụ lý để giải quyết theo thẩm quyền như đã được hướng dẫn tại khoản 1 phần I Thông tư. Nếu đương sự không xuất trình được một trong hai loại giấy nêu trên, thì Toà án không thụ lý để giải quyết, trừ trường hợp họ thay đổi yêu cầu thành việc tranh chấp tài sản gắn liền với việc sử dụng đất.

2. Trong trường hợp người khởi kiện nộp đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất hoặc họ thay đổi yêu cầu thành việc tranh chấp tài sản gắn liền với việc sử dụng đất như đã nêu ở trên, thì về nguyên tắc, Toà án phải thụ lý để giải quyết tranh chấp tài sản. Tuy nhiên, để giải quyết cả tranh chấp quyền sử dụng đất theo yêu cầu của người khởi kiện và để không ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết vụ kiện, thì trước khi thụ lý, Toà án phải yêu cầu người khởi kiện xuất trình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 1993 (bìa đỏ) hoặc giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền về việc sử dụng đất đó thuộc trường hợp nào trong các trường hợp đã được nêu tại các điểm a, b, c khoản 2 phần I Thông tư. Nếu người khởi kiện chưa có một trong các loại giấy nêu trên, Toà án cần giải thích cho họ để họ đến Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xin giấy xác nhận việc sử dụng đất (là đối tượng tranh chấp) thuộc trường hợp nào trong các trường hợp được nêu trong các điểm a, b, c khoản 2 phần I Thông tư.

Đối với những vụ tranh chấp tài sản gắn liền với việc sử dụng đất mà Toà án đã thụ lý, thì Toà án có thể làm văn bản yêu cầu Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất của đương sự theo hướng dẫn tại khoản 2 phần II Thông tư.

Tuỳ thuộc nội dung xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền mà Toà án giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất theo hướng dẫn tại các điểm a, b, khoản 2 phần II Thông tư hoặc không giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất mà chỉ giải quyết tranh chấp tài sản theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 phần I Thông tư.

Trong quá trình thực hiện Thông tư và hướng dẫn tại Công văn này, nếu có gì vướng mắc hoặc phát hiện những vấn đề mới phát sinh, thì cần báo cáo bằng văn bản cho Toà án nhân dân tối cao để có hướng dẫn kịp thời.


19. Công văn số 40/KHXX ngày 06/7/1996 của Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết cá tranh chấp lao động

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) đựoc Uỷ ban thương vụ Quốc hội thông qua ngày 11-4-1996 và có hiệu lực từ ngày 1-7-1996. Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Pháp lệnh, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn một số điểm như sau:

A. VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN LAO ĐỘNG

[…]

2.Về quyền khởi kiện, khởi tố vụ án lao động.

Khác với việc khởi kiện vụ án dân sự, việc khởi kiện vụ án lao động có những đặc thù riêng; cụ thể là:

a.Theo quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh thì những người sau đây có quyền khởi kiện vụ án lao động tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp mình:

– Người lao động;

– Tập thể lao động;

– Người sử dụng lao động.

b. Trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể lao động thì theo quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh, công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động tại Toà án có thẩm quyền.

c. Theo quy định tại Điều 28 của Pháp lệnh thì đối với những vi phạm pháp luật có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động là người chưa thành niên, người tàn tật và các vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác, nếu không có ai khởi kiện, thì Viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án lao động tại Toà án có thẩm quyền. Người lao động chưa thành niên theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật lao động là người dưới 18 tuổi.

d. Trong trường hợp người nộp đơn không thuộc một trong các trường hợp a và b trên đây thì Toà án phải trả lại đơnn kiện theo quy định tại điểm a Điều 34 của Pháp lệnh.

đ. Theo quyđịnh tại Điều 120, Điều 125 của Bộ luật lao động, thì ngoài những người thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên), người lao động có thể là người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, người chưa đủ 15 tuổi (đối với một số nghề và công việc được nhận trẻ em chưqa đủ 15 tuổi vào làm việc, học nghề, tập nghề… do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định), người tàn tật…; do đó, khi có một trong các bên đương sự là người lao động thuộc diện này, Toà án cần chú ý thực hiện đúng các quy định tại Điều 21 của Pháp lệnh, cụ thể là:

– Người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền tự mình thực hiện quyền ,nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng.

– Trẻ em chưa đủ 15 tuổi thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng thông qua người đại diện. Người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể tự mình tham gia tố tụng, những khi cần thiết, Toà án triệu tập người đại diện của họ tham gia tố tụng.

– Nếu đương sự là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần mà không thể tham gia tố tụng được thì phải có người đại diện của họ tham gia tố tụng.

Trong trường hợp không có người đại diện cho đương sự nói tại khoản 33 Điều này tham gia tố tụng, Toà án chỉ định một người thân thích của đương sự hoặc một thành viên của một tổ chức xã hội làm người đại diện cho họ.

e. Theo quy định tại Điều 18 của Bộ luật lao động, thì tranh chấp lao động được giải quyết theo những nguyên tắc thương lượng trực tiếp và tự dàn xếp giữa hai bên tranh chấp tại nơi phát sinh tranh chấp; thông qua hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên, tôn trọng lợi ích của xã hội và tuân theo pháp luật. Xuất phát từ những nguyên tắc đó và theo quy định tại Điều 166 của Bộ Luật lao động và Điều 11 của Pháp lệnh, Toà án chỉ thụ lý giải quyết các tranh chấp lao động với những điều kiện sau đây:

– Nếu tranh chấp lao động cá nhân, thì trước khi khởi kiện tại Toà án, các bên phải đưa việc tranh chấp ra Hội đồng hoà giải cơ sở hoặc hoà giải viên lao động của cơ quan lao động cấp huyện hoà giải. Chỉ trong trường hợp hoà giải không thành, kèm theo đơn khởi kiện phải có biên bản hoà giải không thành của Hội đồng hoà giải cơ sở hoặc của hoà giải viên của cơ quan lao động cấp huyện lập) thì toà án mới thụ lý giải quyết. Thời hạn khởi kiện đối với các tranh chấp này là sáu tháng, kể từ ngày hoà giải không thành (điểm b, khoản 1 Điều 32 của Pháp lệnh)

Đối với tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; tranh chấp về bồi thương thiệt hại cho người sử dụng lao động (theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 166 của Bộ luật lao động và các điểm a, b khoản 1 Điều 11 của Pháp lệnh), thì Toà án thụ lý giải quyết không đòi hỏi điều kiện nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở. Thời hạn khởi kiện đối với các tranh chấp này là 1 năm, kể từ ngày phát sinh tranh chấp (điểm a khoản 1 Điều 32 của Pháp lệnh). Quy định này không hạn chế quyền của các bên đưa tranh chấp ra Hội đồng hoà giải cơ sở hoặc hoà giải viên của cơ quan lao động cấp huyện hoà giải và ngược lại, việc họ đưa tranh chấp ra hoà giải đó cũng không hạn chế quyền của họ khởi kiện ra Toà án (nếu họ thấy khả năng hoà giải không thành) và vẫn trong thời hiệu khởi kiện 1 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp. Trong trường hợp họ đã tiến hành hoà giải tại cơ sở và đã có kết quả hoà giải thì Toà án chỉ thụ lý giải quyết nếu kết quả hoà giải không thành. Thời hạn khởi kiện trong trường hợp này là 6 tháng, kể từ ngày hoà giải không thành. Toà án không thụ lý vụ án nếu sự việc đã được hoà giải thành (có biên bản hoà giải thành) do hội đồng hoà giải cơ sở hoặc do hoà giải viên lao động thực hiện, vì hai bên có nghĩa vụ chấp hành các thoả thuận trong biên bản hoà giải thành theo quy định tại khoản 2 Điều 164 của Bộ luật lao động mà trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm d – Điều 34 của Pháp lệnh.

– Theo quy định tại Điều 172 của Bộ luật lao động và khoản 2 Điều 11 của Pháp lệnh, thì Toà án chỉ thụ lý giải quyêt các tranh chấp lao động tập thể, nếu đã được Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết mà một trong các bên hoặc cả hai bên không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động. Kèm theo đơn khởi kiện, bên khởi kiện phải nộp bản sao quyết định của Hội đồngtrọng tài lao động về việc giải quyêt tranh chấp lao động. Thời hạn khởi kiện là 3 tháng kể từ ngày cóquyết định của Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh.

Cần lưu ý là theo quy định tại khoản 2 Điều 172 của Bộ luật lao động nếu tập thể lao động không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động, thì họ có quyền chọn một trong hai biện pháp giải quyết tranh chấp lao động tập thể, đó là:

– Khởi kiện vụ án lao động yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp và không được đình công, trừ trường hợp họ rút đơn khởi kiện trước khi toà án ra quyết định giải quyết tranh chấp lao động đó.

– Thực hiện quyền đình công theo quy định của Pháp luật mà không có quyền khởi kiện vụ án lao động để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động tập thể.

Trong trường hợp Thủ tướng Chính phủ quyết định việc hoãn hoặc ngừng cuộc đình công theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật lao động, nếu tập thể lao động khởi kiện tại toà án, thì Toà án thụ lý giải quyết tranh chấp lao động theo quy định chung và giải thích để tập thể lao động đó biết là họ không có quyền đình công nữa.

[…]

B. VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC CUỘC ĐÌNH CÔNG

Theo quy định tại khoản 2 Điều 176 của Bộ lao động, Toà án nhân dân có thẩm quyền kết luận cuộc đình công hợp pháp hay bất hợp pháp. Đây là loại việc mới và rất nhạy cảm; do đó, khi có đơn yêu cầu Toà án kết hợp cuộc đình công hợp pháp hoặc bất hợp pháp thì cần khẩn trương nhưng thận trọng giải quyết nhằm hạn chế thấp nhất ảnh hưởng của cuộc đình công tới tình hình chính trị và trật tự xã hội tại địa phương. Việc thụ lý giải quyết các cuộc đình công phải chú ý một số điểm sau đây:

1. Những người có quyền nộp đơn đến Toà án yêu cầu kết luận cuộc đình công hợp pháp hoặc bất hợp pháp

Theo quy định tại Điều 87 của Pháp lệnh thì những người sau đây có quyền nộp đơn đến toà án yêu cầu kết luận cuộc đình công hợp pháp hoặc bất hợp pháp:

a. Ban chấp hành công đoàn cơ sở nơi tập thể lao động đình công có quyền nộp đơn dến Toà án yêu cầu kết luận cuộc đình công hợp pháp;

b. Người sử dụng lao động nơi tập thể lao động đình công có quyền nộp đơn đến Toà án yêu cầu kết luận tính bất hợp pháp của cuộc đình công.

c. Trước khi bắt đầu đình công hoặc trong quá trình đình công cơ quan lao động cấp tỉnh, Liên Đoàn lao động cấp tỉnh nơi có cuộc đình công có quyền gửi văn bản đến toà án yêu cầu kết luận cuộc đình công hợp pháp hoặc bất hợp pháp;

d. Viện kiểm soát nhân dân có quyền khởi tố để yêu cầu Toà án kết luận cuộc đình công là bất hợp pháp.

2. Về việc thụ lý yêu cầu, văn bản yêu cầu, văn bản khởi tố yêu cầu kết luận cuộc đình công hợp pháp hoặc bất hợp pháp.

Khi xem xét thụ lý đơn yêu cầu theo quy định tại Điều 91 của Pháp lệnh, Toà án cần kiểm tra nội dung đơn yêu cầu và các tài liệu kèm theo đơn như đã được quy định tại điều 88 của Pháp lệnh, cụ thể là:

a. Nếu đơn yêu cầu Toà án giải quyết cuộc đình công của tập thể lao động, của người sử dụng lao động thì cần phải xem xét đã có đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 88 của Pháp lệnhhay chưa? Nếu chưa có đầy đủ các nội dung đó, thì yêu cầu tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động làm lại đơn đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Pháp lệnh. Nếu đã có đầy đủ các nội dung đó, thì xem xét kèm theo đơn yêu cầu đã có các bản yêu cầu, bản thông báo về cuộc đình công, quyết định của Hội đồng Trọng tài lao động cấp tỉnh về việc giải quyết vụ tranh chấp lao động tập thể và các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết cuộc đình công hay chưa? Đối với người nộp đơn là người sử dụng lao động thì cần phải xem xét họ đã nộp tiền lệ phí theo mức do chính phủ quy định hay chưa?

b. Nếu văn bản yêu cầu toà án kết luận cuộc đình công hợp pháp hoặc bất hợp pháp của cơ quan lao động cấp tỉnh, của Liên đoàn lao động của cấp tỉnh, cũng như văn bản khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân, thì cần phải xem xét đã có đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 88 của Pháp lệnhhay chưa? Nếu chưa có đầy đủ các nội dung đó, thì yêu cầu cơ quan làm lại văn bản yêu cầu theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 88 của Pháp lệnh. Nếu đã có đầy đủ các nội dung đó, thì xem xét kèm theo văn bản yêu cầu đã có các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc yêu cầu kết luận cuộc đình công hợp pháp hoặc bất hợp pháp hay chưa?

c. Nếu sau khi xem xét, thấy đơn yêu cầu, văn bản yêu cầu, văn bản khởi tố đã có đầy đủ các nội dung theo yêu cầu quy định tại khoản 1, 2 Điều 88 của Pháp lệnh và đã có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ kèm theo và xết thấy doanh nghiệp nơi tập thể lao động đình công không thuộc danh mục các doanh nghiệp cấm đình công do Chính phủ quy định, đồng thời xét thấy việc giải quyết cuộc đình công thuộc thẩm quyền của mình, thì Toà án vào sổ thụ lý đơn và thông báo cho ban chấp hành công đoàn cơ sở; người sử dụng lao động, cơ quan lao động cấp tỉnh, Liên đoàn lao động cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp biết.

d. Việc thụ lý và giải quyết đình công phải được tiến hành khẩn trương nhằm tạo hạn chế ảnh hưỏng của nó tới quyền lợi của ngưòi lao động, của người sử dụng lao động và ảnh hưởng của nó tới trật tự an toàn xã hội; do đó, ngoài việc không được vượt quá thời hạn quy định tại các Điều 91, 92 của Pháp lệnh, Toà án phải tích cực rút ngắn thời hạn thụ lý và thời hạn giải quyết việc đình công.

[…]


20. Công văn số 457/KHXX ngày 21/7/1994 của Toà án nhân dân tối cao về việc áp dụng một số quy định của Luật Phá sản doanh nghiệp

Luật phá sản doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30-12-1993 và có hiệu lực kể từ ngày 1-7-1994. Để thi hành đúng và thống nhất các qui định của Luật này, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương một số điểm như sau:

I – VỀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG CỦA LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

1. Theo quy định tại đoạn 1 Điều 1 của Luật phá sản doanh nghiệp thì Luật này áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam khi lâm vào tình trạng phá sản.

Tuy nhiên đoạn 2 của Điều 1 này giao cho Chính phủ quy định cụ thể việc thi hành Luật này đối với các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và dịch vụ công cộng quan trọng; do đó, khi có đơn yêu cầu phải giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với một doanh nghiệp cụ thể nào đó, Toà án phải xem xét doanh nghiệp đó có thuộc loại doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và dịch vụ công cộng quan trọng theo quy định của Chính phủ hay không? Nếu thuộc loại doanh nghiệp đó thì khi giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, ngoài việc phải thi hành đúng các quy định của Luật phá sản doanh nghiệp, Toà án cần phải thực hiện đúng các quy định cụ thể của Chính phủ về việc thi hành Luật phá sản doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và dịch vụ công cộng quan trọng.

2. Khi xem xét đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp, các Toà án cần phải nắm chắc quy định về doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản quy định tại Điều 2 của Luật phá sản doanh nghiệp. Cụ thể, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp có đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh;

b) Sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.

II – VỀ NHỮNG NGƯỜI CÓ QUYỀN NỘP ĐƠN YÊU CẦU GIẢI QUYẾT VIỆC TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

Theo quy định tại các điều 7, 8, 9 Luật phá sản doanh nghiệp thì những người sau đây có quyền nộp đơn đến Toà án nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp:

1. Chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần (Điều 7). Trong trường hợp này đơn yêu cầu phải ghi rõ : a) họ, tên, địa chỉ của người làm đơn; b) tên và trụ sở chính của doanh nghiệp bị yêu cầu tuyên bố phá sản. Kèm theo đơn yêu cầu phải có bản sao giấy đòi nợ, các giấy tờ, tài liệu chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Đồng thời người nộp đơn phải nộp tiền tạm ứng lệ phí theo quy định của pháp luật.

2. Đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động, nơi chưa có tổ chức công đoàn (Điều 8). Tuy nhiên đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn chỉ có quyền nộp đơn khi doanh nghiệp không trả được lương cho người lao động ba tháng liên tiếp. Đối với trường hợp này người nộp đơn không phải nộp các giấy tờ, tài liệu gì khác kèm theo đơn và cũng không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí.

3. Chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp (Điều 9). Việc nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với những người này không chỉ là quyền mà là nghĩa vụ. Những người này phải nộp đơn khi doanh nghiệp đã thực hiện các biện pháp khắc phục khó khăn về tài chính để thanh toán các khoản nợ đến hạn, kể cả hoãn nợ mà doanh nghiệp vẫn không thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Đơn phải ghi rõ: tên và địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; họ và tên của chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp; các biện pháp mà doanh nghiệp đã thực hiện nhưng vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Kèm theo đơn yêu cầu phải có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu quy định tại điểm c khoản 2 Điều 9 Luật phá sản doanh nghiệp. Đồng thời người nộp đơn phải nộp tiền tạm ứng lệ phí theo quy định của pháp luật.

[…]

Xem chi tiết và tải về – TẠI ĐÂY

—————————

CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)

– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

– Điện thoại: 0941.767.076

– Email: amilawfirmdn@gmail.com

– Website: https://amilawfirm.com/

– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm

Bài viết liên quan