Hợp đồng vay tài sản là một trong những giao dịch dân sự phổ biến, phát sinh giữa cá nhân, pháp nhân không phải là tổ chức tín dụng trên cơ sở thỏa thuận về việc giao tài sản và hoàn trả tài sản khi đến hạn. Thực tiễn giải quyết tranh chấp đối với loại hợp đồng này thường tập trung vào các vấn đề như xác định quan hệ pháp luật, hiệu lực hợp đồng, chứng minh việc giao nhận tài sản, lãi suất, nghĩa vụ trả nợ và xử lý hậu quả của việc chậm thực hiện nghĩa vụ. Do tính đa dạng của các quan hệ vay tài sản và yêu cầu áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật dân sự, việc nghiên cứu, hệ thống hóa các văn bản hướng dẫn của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động xét xử và thực tiễn áp dụng pháp luật.
Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa 35 văn bản hướng dẫn, giải đáp nghiệp vụ và các nguồn tham khảo quan trọng của Tòa án liên quan đến hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng, qua đó tạo lập cơ sở tham chiếu thống nhất phục vụ hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và thực tiễn áp dụng pháp luật.
1. Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm
Nghị quyết này hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản; lãi suất trung bình trên thị trường; quyết định lãi, lãi suất trong bản án, quyết định của Tòa án.
Hợp đồng vay tài sản hướng dẫn trong Nghị quyết này bao gồm hợp đồng cho vay tài sản là tiền giữa tổ chức tín dụng với khách hàng (sau đây gọi là hợp đồng tín dụng) và hợp đồng vay tài sản là tiền giữa cá nhân, pháp nhân không phải là tổ chức tín dụng với nhau (sau đây gọi là hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng).
Điều 2. Áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng
1. Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng được xác lập trước ngày 01-01-2017 (ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 bắt đầu có hiệu lực) thì việc áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất xác định như sau:
a) Hợp đồng được thực hiện xong là hợp đồng mà các bên đã hoàn thành xong các quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng mà pháp luật có quy định.
Hợp đồng được thực hiện xong trước ngày 01-01-2017 mà có tranh chấp thì áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết;
Ví dụ 1: Ngày 20-12-2015, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 10.000.000.000 đồng, thời hạn vay 01 năm, lãi suất thỏa thuận là 18%/năm; hợp đồng có hiệu lực và bà B đã trả xong nợ gốc và lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Ngày 20-02-2018, bà B khởi kiện yêu cầu ông A trả lại tiền lãi do mức lãi suất vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29-11-2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (quy định mức lãi suất cơ bản là 9%/năm, tương ứng với mức 150% lãi suất cơ bản là 13,5%/năm). Trường hợp này, Tòa án phải áp dụng Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 để xác định lãi suất, lãi suất vượt quá.
b) Hợp đồng chưa được thực hiện là hợp đồng mà các bên chưa phải thực hiện quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng mà pháp luật có quy định.
Hợp đồng chưa được thực hiện mà lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết; trường hợp lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung về lãi, lãi suất phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015 và để áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
c) Hợp đồng đang được thực hiện là hợp đồng mà các bên chưa thực hiện xong quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng mà pháp luật có quy định.
Hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết.
Hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc áp dụng pháp luật để xác định lãi, lãi suất như sau:
Đối với khoảng thời gian trước ngày 01-01-2006 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, Nghị quyết ngày 28-10-1995 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995.
Đối với khoảng thời gian từ ngày 01-01-2006 đến trước ngày 01-01-2017 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005.
Đối với khoảng thời gian từ ngày 01-01-2017 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ví dụ 2: Ngày 01-01-2003, ông A cho bà B vay 100.000.000 đồng (hợp đồng vay không kỳ hạn), lãi suất thỏa thuận là 08%/năm. Ngày 01-01-2018, ông A khởi kiện yêu cầu bà B trả gốc và lãi theo hợp đồng. Trường hợp này, từ ngày 01-01-2003 đến trước ngày 01-01-2006, Tòa án áp dụng Điều 473 của Bộ luật Dân sự năm 1995 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995 để xác định lãi, lãi suất; từ ngày 01-01-2006 đến trước ngày 01-01-2017, Tòa án áp dụng Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 để xác định lãi, lãi suất; kể từ ngày 01-01-2017 đến thời điểm xét xử sơ thẩm, Tòa án áp dụng Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.
2. Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng được xác lập kể từ ngày 01-01-2017 thì áp dụng quy định về lãi, lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.
3. Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng có lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hướng dẫn tại khoản 1 Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Mức lãi suất thỏa thuận không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ví dụ 3: Ngày 20-01-2016, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 100.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 18%/năm. Mức lãi suất 18%/năm không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên thỏa thuận này phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
b) Lãi, lãi suất theo thỏa thuận được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhưng không được pháp luật trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành quy định.
Ví dụ 4: Ngày 20-01-2016, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 100.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 18%/năm, lãi trên nợ lãi theo mức lãi suất là 0,1%/năm. Thỏa thuận lãi trên nợ lãi là nội dung không được Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định nhưng được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nên thỏa thuận lãi trên nợ lãi là phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
c) Lãi, lãi suất, được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhưng pháp luật trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành quy định khác.
Ví dụ 5: Ngày 20-01-2016, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 100.000.000 đồng không có lãi, thời hạn vay là 03 năm. Trường hợp các bên không có thỏa thuận về việc trả lãi đối với nợ gốc quá hạn thì việc tính lãi đối với nợ gốc quá hạn chưa trả từ ngày tiếp theo của ngày đến hạn trả nợ (ngày 21-01-2019) là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Điều 3. Xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995
Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng xác lập trước ngày 01-01-2006 thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995 theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết này thì tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng được xác định như sau:
1. Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay có nghĩa vụ trả lãi trên nợ gốc quá hạn theo lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả, nếu các bên có thỏa thuận về việc trả lãi đối với nợ gốc quá hạn.
Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc).
2. Hợp đồng vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì lãi, lãi suất được xác định như sau:
a) Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả theo lãi suất thỏa thuận nhưng không được vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại cho vay tương ứng tại thời điểm xác lập hợp đồng tương ứng với thời gian vay chưa trả lãi. Trường hợp các bên không xác định rõ lãi suất thì áp dụng lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ.
Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = (nợ gốc chưa trả) x (lãi suất theo thỏa thuận) hoặc (lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ) x (thời gian vay chưa trả lãi);
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả theo lãi suất nợ quá hạn của Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả.
Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất nợ quá hạn của Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc);
3. Khi xác định lãi, lãi suất theo hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án không được tính lãi trên nợ lãi chưa trả.
Điều 4. Xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005
Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng xác lập trước ngày 01-01-2017 thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết này thì tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng được xác định như sau:
1. Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay có nghĩa vụ trả lãi trên nợ gốc quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả, nếu các bên có thỏa thuận về việc trả lãi đối với nợ gốc quá hạn.
Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc).
2. Hợp đồng vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì lãi, lãi suất được xác định như sau:
a) Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả theo lãi suất thỏa thuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xác lập hợp đồng tương ứng với thời gian vay chưa trả lãi. Trường hợp các bên không xác định rõ lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ.
Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = (nợ gốc chưa trả) x (lãi suất theo thỏa thuận hoặc lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xác lập hợp đồng) x (thời gian vay chưa trả lãi trên nợ gốc);
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả.
Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc);
3. Khi xác định lãi, lãi suất theo hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Tòa án không được tính lãi trên nợ lãi chưa trả.
Điều 5. Xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015
Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng xác lập kể từ ngày 01-01-2017 hoặc xác lập trước ngày 01-01-2017 nhưng thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết này thì tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng được xác định như sau:
1. Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì theo yêu cầu của bên cho vay, Tòa án xác định bên vay phải trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trên số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc);
2. Hợp đồng vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì lãi, lãi suất được xác định như sau:
a) Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả theo lãi suất thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời hạn vay chưa trả lãi trên nợ gốc tại thời điểm xác lập hợp đồng. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ.
Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = (nợ gốc chưa trả) x (lãi suất theo thỏa thuận hoặc 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x (thời gian vay chưa trả lãi trên nợ gốc).
b) Trường hợp chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn thì còn phải trả lãi trên nợ lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Tiền lãi trên nợ lãi chưa trả = (nợ lãi chưa trả) x (lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc);
c) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% mức lãi suất vay do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Mức lãi suất trên nợ gốc quá hạn do các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất do các bên thỏa thuận hoặc 150% lãi suất vay do các bên thỏa thuận) x (thời gian chậm trả nợ gốc).
Điều 6. Xác định thời điểm xét xử sơ thẩm và thời gian chậm trả
1. “Thời điểm xét xử sơ thẩm” hướng dẫn tại Nghị quyết này là ngày Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự hoặc ngày Tòa án tuyên án khi xét xử sơ thẩm hoặc xét xử sơ thẩm lại.
2. “Thời điểm trả nợ” hướng dẫn tại các điều 3, 4 và 5 Nghị quyết này là thời điểm xét xử sơ thẩm.
3. “Thời gian chậm trả” hướng dẫn tại các điều 3, 4 và 5 Nghị quyết này được xác định như sau:
a) Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết “thời gian hợp lý” đến thời điểm xét xử sơ thẩm. “Thời gian hợp lý” quy định tại Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 1995, Điều 477 của Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015 do Tòa án căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định nhưng không quá 03 tháng kể từ ngày thông báo;
b) Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết kỳ hạn vay đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
c) Thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc chưa trả bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phải trả lãi trên nợ gốc đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
[…]
Điều 9. Xử lý thỏa thuận về lãi, lãi suất cao hơn mức lãi, lãi suất được pháp luật quy định
Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận về lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn cao hơn mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn được pháp luật quy định thì mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn vượt quá không có hiệu lực; số tiền lãi đã trả vượt quá mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn quy định được trừ vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi; số tiền lãi đã trả vượt quá còn lại sau khi đã trừ hết nợ gốc thì được trả lại cho bên vay.
Điều 10. Điều chỉnh lãi, lãi suất
Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.
Điều 11. Xác định lãi suất trung bình quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005
Trường hợp hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 thì khi xác định lãi suất chậm trả đối với số tiền chậm trả, Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 (ba) ngân hàng thương mại (Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,…) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm) để quyết định mức lãi suất chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Điều 12. Xử lý việc không trả nợ đúng hạn trong hợp đồng vay tài sản
1. Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án xem xét, quyết định theo nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn.
2. Hợp đồng vay tài sản vừa có thỏa thuận phạt vi phạm, vừa có thỏa thuận lãi trên nợ gốc quá hạn hoặc hình thức khác áp dụng đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án căn cứ quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất để xem xét, quyết định xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn theo nguyên tắc hướng dẫn tại khoản 1 Điều này.
Điều 13. Quyết định lãi, lãi suất trong bản án, quyết định của Tòa án
1. Khi giải quyết vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, cùng với việc quyết định khoản tiền mà bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán cho bên được thi hành án thì Tòa án phải quyết định trong bản án hoặc quyết định (Phần quyết định) như sau:
a) Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
b) Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi; hoặc khoản tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; hoặc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong hoặc ngoài hợp đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. “Mức lãi suất hai bên thỏa thuận” hướng dẫn tại khoản 1 điều này là mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc tại Tòa án. Trường hợp, các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn.
1. Nghị quyết này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 11 tháng 01 năm 2019 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2019.
2. Đối với những vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án thụ lý trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực nhưng kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực mới xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng Nghị quyết này để giải quyết.
3. Đối với những vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án thụ lý giải quyết và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành thì không áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trừ trường hợp bản án, quyết định của Tòa án bị kháng nghị theo căn cứ khác.
2. Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Bộ Tư pháp-Bộ Tài chính-Toà án nhân dân tối cao-Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử và thi hành án về tài sản
Để bảo đảm quyền lợi chính đáng về tài sản cho các bên liên quan trong các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động và hành chính khi có sự thay đổi về giá cả hay trong các trường hợp bên có nghĩa vụ về tài sản chưa thực hiện, chậm thực hiện theo thoả thuận, chưa thi hành án gây nên; để thi hành nghiêm chỉnh các quy định của Bộ luật dân sự (có hiệu lực từ ngày 1-7-1996), Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính thống nhất hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản như sau:
I- TRƯỜNG HỢP ĐỐI TƯỢNG CỦA NGHĨA VỤ VỀ TÀI SẢN LÀ CÁC KHOẢN TIỀN, VÀNG
1- Đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì giải quyết như sau:
a) Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 1-7-1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Toà án quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọi tắt là “giá gạo”) tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó.
Ví dụ: Tháng 1-1995 xảy ra việc tham ô khoản tiền 1 triệu đồng. Nếu tháng 10-1996 xét xử sơ thẩm và giá gạo trong thời gian này đã tăng quá 20%, thì Toà án phải quy đổi 1 triệu đồng ra gạo theo giá gạo vào tháng 1-1995. Giả định giá gạo vào tháng 1-1995 là 2.000 đồng/kg, thì số lượng gạo được quy đổi là 500 kg (1 triệu đồng): 2000 đồng/kg = 500 kg). Giả định giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm vào tháng 10-1996 là 4.000 đồng/kg, thì trong phần quyết định của bản án, Toà án buộc người bị kết án về tội tham ô phải bồi thướng số tiền là 2 triệu đồng (500 kg x 4000 đồng/ kg = 2 triệu đồng), phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 100.000 đồng (5% x 2 triệu đồng) = 100.000 đồng).
b) Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 1-7-1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày 1-7-1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có tăng nhưng ở mức dưới 20%, thì Toà án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền. Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Ví dụ: Tháng 2 năm 1996, anh A vay của chị B 2.000.000 đồng không có lãi, với thời hạn vay là một tháng. Đến ngày 20-3-1996 là hạn phải trả nợ, nhưng anh A không trả được cho chị B. Do đòi nhiều lần không được nên vào tháng 8-1996 chị B khởi kiện yêu cầu Toà án buộc anh A trả số tiền đã vay và phải trả tiền lãi cho bị B theo quy định của pháp luật.
Trong vụ kiện này, toà án phải xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả nợ của anh A là ngày 20-3-1996. Giả sử, ngày 20-11-1996 toà án mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ kiện đòi nợ này và trong khoảng thời gian từ 20-3-1996 đến ngày 20-11-1996 giá gạo không tăng hoặc tuy có tăng nhưng ở dưới mức 20%, thì toà án không quy đổi số tiềnđó ra gạo như hướng dẫn ở điểm a, mà buộc anh A trả cho chị B số tiền nợ gốc là 2.000.000 đồng và khoản lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự. Khoản lãi anh A phải trả cho chị B được tính như sau:
– Khoảng thời gian phải trả lãi tính từ ngày 20-3-1996 đến ngày 20-11-1996 là 8 tháng.
– Mức lãi phải trả là mức lãi suất nợ quá hạn của loại vay trung hạn (vì thời gian phải trả lãi quá 6 tháng) tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Theo quy định tại Quyết định số 266-QĐ/NH1 ngày 27-9-1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì mức lãi suất đó là 2,025%/tháng (1,35% x 150% = 2,025%/tháng).
– Tổng số tiền lãi mà anh A phải trả chị B trong thời gian 8 tháng là 324.000 đồng (2,025%/tháng x 8 tháng x 2.000.000 đồng = 324.000 đồng).
Như vậy Toà án quyết định buộc anh A trả cho chị B số tiền là 2.324.000 đồng (2.000.000 đồng + 324.000 đồng = 2.324.000 đồng) và chịu án phí theo quy định của pháp luật.
2- Đối với các khoản tiền tịch thu, tiền phạt, tiền án phí thì khi xét xử toà án chỉ quyết định mức tiền cụ thể mà không áp dụng cách tính đã hướng dẫn tại khoản 1 nói trên.
3- Đối với các khoản tiền vay, gửi ở tài sản Ngân hàng, tín dụng, do giá trị của các khoản tiền đó đã được bảo đảm thông qua các mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định, cho nên khi xét xử, trong mọi trường hợp toà án đều không phải quy đổi các khoản tiền đó ra gạo, mà quyết định buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán số tiền thực tế đã vay, gửi cùng với khoản tiền lãi, kể từ ngày khi giao dịch cho đến khi thi hành án xong, theo mức lãi suất tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định.
Ví dụ: Tháng 1-1996, A vay Ngân hàng 1.000.000 đồng với thời hạn vay là 6 tháng và với mức lãi suất là 1,75%/tháng theo Quyết định số 381-QĐ/NH1 ngày 28-12-1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Khi hết hạn hợp đồng A không trả tiền vay và tiền lãi cho Ngân hàng. Khi xét xử sơ thẩm vào tháng 10-1996 toà án quyết định A phải trả cho Ngân hàng 1.000.000 đồng nợ gốc cùng với các khoản tiền lãi của số tiền đã vay, bao gồm tiền lãi theo hợp đồng vay là 105.000 đồng (1.000.000 đồng x 1,75%/tháng x 6 tháng = 105.000 đồng) và tiền lãi do nợ quá hạn từ tháng 7-1996 đến tháng 10-1996 là 105.000 đồng (1.000.000 đồng x 1,75% x 150% x 4 tháng = 105.000 đồng). Toà án buộc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo tổng số các khoản tiền phải thanh toán tại thời điểm xét xử sơ thẩm bao gồm 1.000.000 đồng tiền vay, 105.000 đồng tiền lãi theo hợp đồng và 105.000 đồng tiền lãi nợ quá hạn từ tháng 7-1996 đến tháng 10-1996. Trong trường hợp cụ thể này, án phí dân sự sơ thẩm là 60.5000 đồng (5% x 1.000.000 đồng + 105.000 đồng + 105.000 đồng = 60.500 đồng).
4- Đối với các khoản vay có lãi (kể cả loại có kỳ hạn và loại không có kỳ hạn) ở ngoài tổ chức Ngân hàng, tín dụng, do giá trị của các khoản tiền đó cũng đã được bảo đảm thông qua việc chịu lãi của bên vay tài sản, cho nên trong mọi trường hợp toà án đều không phải quy đổi số tiền đó ra gạo, mà chỉ buộc người vay phải trả số tiền nợ gốc chưa trả cùng với số tiền lãi chưa trả.
Trong việc tính tiền lãi cần phân biệt các trường hợp như sau:
– Đối với các hợp đồng vay tài sản giao kết trước ngày 1-7-1996 thì chỉ tính số tiền lãi chưa trả theo quy định của Bộ luật dân sự; đối với khoản tiền lãi đã trả thì không phải giải quyết lại.
– Đối với các hợp đồng vay tài sản giao kết từ ngày 1-7-1996 trở đi thì việc tính lãi phải tuân theo các quy định của Bộ luật dân sự, số tiền lãi đã trả cũng phải được giải quyết lại, nếu mức lãi suất mà các bên thoả thuận cao hơn mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 473 Bộ luật dân sự.
Theo quy định của Bộ luật dân sự thì lãi suất được tính như sau:
a) Về nguyên tắc, tiền lãi chỉ được tính trên số nợ gốc, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Ngoài nguyên tắc tiền lãi chỉ được tính trên số nợ gốc, các bên có thể thoả thuận về việc nhận lãi vào nợ gốc để tính lãi của thời hạn vay tiếp theo. Tuy nhiên, để tránh tình trạng bên cho vay có thể lợi dụng thoả thuận này để thu lợi trái pháp luật, thì toà án chỉ chấp nhận việc nhập lãi vào nợ gốc một lần đối với loại vay có kỳ hạn giữa các bên ở ngoài tổ chức Ngân hàng, tín dụng tại thời điểm đến hạn trả nợ mà người vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình. Các trường hợp khác đều phải tính theo lãi suất nợ quá hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự.
b) Nếu mức lãi suất do các bên thoả thuận vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại vay tương ứng tại thời điểm vay, thì toà án áp dụng khoản 1 Điều 473 Bộ luật dân sự buộc bên vay phải trả lãi bằng 150% mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại vay tương ứng.
Ví dụ: A vay của B 10.000.000 đồng vào ngày 30-12-1995 với thời hạn vay là 6 tháng và với lãi suất là 4%/tháng. Hàng tháng A đã phải trả lãi cho B. Tháng 7-1996 A ngừng trả lãi cho B. Do đòi nhiều lần không được, nên tháng 11-1996 B khởi kiện yêu cầu toà án buộc bên A phải trả cả nợ gốc và lãi cho B. Khi giải quyết vụ kiện này, toà án buộc A trả cho B tiền nợ gốc là 10.000.000 đồng và tiền lãi theo cách tính như sau:
– Thời điểm A vay B là tháng 12-1995. Theo Quyết định số 381-QĐ/NH1 ngày 28-12-1995 thì lãi suất cao nhất của loại vay trung hạn và dài hạn là 1,7%/tháng. Như vậy toà án chỉ chấp nhận mức lãi suất của hợp đồng vay nợ là 2,55%/tháng (1,7% + 1,7% x 50% = 2,55%/tháng).
– Số tiền lãi A đã trả B trước tháng 7-1996 toà án không xem xét đến nữa.
– Toà án buộc A trả B khoản tiền lãi từ tháng 7-1996 đến hết ngày xét xử sơ thẩm (giả sử là đầu tháng 2-1997) là 7 tháng. Như vậy số tiền lãi mà A còn phải trả B là 1.785.000 đồng (2,55% x 7 tháng x 10.000.000 đồng = 1.785.000 đồng).
c) Nếu mức lãi suất không vượt quá 50% mức lãi suất cao nhất của loại vay tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm vay, thì toà án buộc bên vay phải trả lãi theo đúng mức lãi suất mà hai bên đã thoả thuận tại thời điểm này.
d) Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi trong việc vay nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất, thì áp dụng lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 473 Bộ luật dân sự.
5- Trong trường hợp đối tượng hợp đồng vay tài sản là vàng, thì lai suất chỉ được chấp nhận khi Ngân hàng Nhà nước có quy định và cách tính lãi suất không phân biệt như các trường hợp đã nêu tại khoản 4 trên đây, mà chỉ tính bằng mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định.
II- TRƯỜNG HỢP ĐỐI TƯỢNG CỦA NGHĨA VỤ VỀ TÀI SẢN LÀ HIỆN VẬT
1- Trong các trường hợp đối tượng của nghĩa vụ về tài sản là hiện vật, thì khi giải quyết vụ án cần phải xem xét và xác định người có nghĩa vụ có thể thực hiện được nghĩa vụ giao vật hay không, người có quyền có chấp nhận tiếp nhận hiện vật hay không, để tuỳ từng trường hợp cụ thể mà giải quyết theo các hướng sau đây:
a) Nếu có đủ điều kiện buộc người có nghĩa vụ về tài sản thực hiện nghĩa vụ giao vật, thì toà án ra quyết định buộc người đó phải giao hiện vật theo quy định tại Điều 294 Bộ luật dân sự và trong bản án, quyết định phải ghi rõ tình trạng, số lượng, chất lượng, chủng loại… của hiện vật phải giao để việc thi hành án được rõ ràng, thuận lợi. Tuy nhiên, toà án vẫn phải xác định giá trị của hiện vật đó theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm để tính án phí.
Ví dụ: A cho B mượn chiếc xe đạp mini Nhật còn mới nguyên, B làm mất chiếc xe đạp này, nên A khởi kiện yêu cầu toà án buộc B phải trả lại chiếc xe đạp đó. Khi xét xử sơ thẩm toà án buộc B phải trả cho A chiếc xe đạp mini Nhật mới nguyên. Nếu giá chiếc xe đạp mini Nhật còn mới nguyên trên thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 2.500.000 đồng (5% x 2.500.000 đồng = 125.000 đồng).
b) Nếu bên có nghĩa vụ không thể có hiện vật để thực hiện nghĩa vụ giao vật, thì toà án quyết định buộc họ phải thanh toán giá trị của hiện vật theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm và bồi thường thiệt hại.
2- Theo quy định tại khoản 2 Điều 310, Điều 311 và khoản 1 Điều 313 Bộ luật dân sự thì người chậm thực hiện nghĩa vụ giao vật, không thực hiện nghĩa vụ giao vật phải bồi thường thiệt hại cho người có quyền.Thiệt hại trong trường hợp không giao hiện vật, chậm thực hiện nghĩa vụ giao vật, là thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút. Để tính thiệt hại cụ thể, có thể tính theo mức thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút cụ thể do bên bị thiệt hại chứng minh, nếu không xác định được thiệt hại cụ thể, thì tính bằng mức thu nhập bình quân (sau khi đã trừ các khoản chi phí) của 5 tháng liền kề (nếu chưa đủ 5 tháng thì tính bằng mức thu nhập bình quân của các tháng đó), trước thời điểm phát sinh nghĩa vụ giao vật.
Ví dụ: Theo hợp đồng A mua của B một máy xẻ gỗ và thời điểm giao nhận hàng là ngày 1-9-1996. Do đã mua máy mới nên cuối tháng 8-1996 A bán máy cũ của mình. Đến thời hạn theo hợp đồng B không giao máy cho A làm A không có máy để sản xuất. Cuối tháng 12-1996 A kiện B ra toà án đòi B phải trả máy xẻ gỗ và bồi thường thiệt hại. Giả định có căn cứ xác định được thu nhập của A trong tháng 4-1996 là 1.200.000 đồng, tháng 5-1996 là 1.700.000 đồng, tháng 6-1996 là 1.000.000 đồng, tháng 7-1996 là 1.800.000 đồng, tháng 8-1996 là 1.300.000 đồng, thì thu nhập bình quân hàng tháng của A là 1.400.000 đồng. Như vậy, nếu tháng 1-1997 xử sơ thẩm và chấp nhận yêu cầu của A thì toà án buộc B phải trả máy cho A (trong trường hợp B không trả được máy thì phải trả số tiền bằng giá trị của máy xẻ gỗ đó tại thời điểm xét xử sơ thẩm) và bồi thường thiệt hại cho a tiền thu nhập thực tế bị mất của 4 tháng (từ tháng 9-1996 đến tháng 1-1997 là 5.600.000 đồng (1.400.000 đồng x 4 tháng = 5.600.000 đồng).
Đối với thiệt hại loại này thì toà án buộc người gây thiệt hại phải bồi thường đến thời điểm người có quyền có đơn khởi kiện ra Toà án.
III- VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO BÊN ĐƯỢC THI HÀNH ÁN
1- Để bảo đảm quyền lợi cho bên được thi hành án, hạn chế việc bên phải thi hành án cố tình dây dưa, không tự nguyện thi hành án, cùng với việc quyết định khoản tiền mà bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán cho bên được thi hành án, khoản tiền phải nộp để đưa vào ngân sách Nhà nước (tiền tịch thu, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính, tiền phạt), toà án phải quyết định rõ trong bản án hoặc quyết định là kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp được hướng dẫn tại khoản 3 phần 1 Thông tư này về các khoản vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng. Khi tính lãi chỉ tính lãi số tiền còn phải thi hành án, mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án.
Từ nay trở đi, toà án không tự ấn định trong bản án, quyết định thời điểm hoặc thời hạn bên có nghĩa vụ thi hành, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Ví dụ: Theo vụ kiện ở ví dụ được nêu ở điểm b khoản 1 phần này, toà án buộc anh A phải trả cho chị B tổng số tiền là 2.324.000 đồng (2.000.000 đồng tiền vay + 324.000 đồng tiền lãi = 2.324.000 đồng). Trong bản án, quyết định của toà án phải tuyên bố rõ: kể từ ngày chị B có đơn yêu cầu thi hành án, nêu anh A không chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng anh A còn phải trả cho chị B số tiền lai theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2- Nếu trong bản án, quyết định của Toà án đã buộc người có nghĩa vụ phải giao vật cho người có quyền, thì khi thi hành án, bên có nghĩa vụ phải giao vật theo đúng quyết định của toá án, trừ trường hợp các bên đương sự tự thoả thuận với nhau để bên phải thi hành án thanh toán giá trị của hiện vật bằng tiền cho bên được thi hành án.
Trong trường hợp bên phải thi hành án cố tình không giao hiện vật thì cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc bên thi hành án phải giao hiện vật.
Nếu qua xác minh có căn cứ xác định là hiện vật phải giao thực sự không còn hoặc người phải thi hành án mất khả năng giao hiện vật (hiện vật bị thất lạc; hiện vật cùng loại không còn có bán trên thị trường nữa; hiện vật là động sản bị hư hỏng nặng so với tình trạng khi toà án xét xử sơ thẩm, nên người được thi hành án không nhận…) thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án có quyền hoà giải để bên được thi hành án nhận giá trị hiện vật bằng tiền theo thời giá. Trong trường hợp bên được thi hành án không đồng ý nhận giá trị hiện vật bằng tiền và cơ quan thi hành án không cưỡng chế được người thi hành án giao vật vì lý do nêu trên, thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án có quyền ra quyết định buộc người phải thi hành án nộp số tiền bằng giá trị của hiện vật phải giao theo giá đã được xác định trong bản án, quyết định của toà án và mời bên được thi hành án đến nhận, nếu bên được thi hành án không đến nhận, thì cơ quan thi hành án làm thủ tục gửi số tiền đó vào Ngân hàng theo loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn mang tên của người được thi hành án và báo cho người được thi hành án biết là việc thi hành án đã chấm dứt, người được thi hành án chỉ có quyền nhận số tiền trong sổ tiết kiệm (cả tiền gốc và tiền lãi) đã đứng tên của họ.
IV- HƯỚNG DẪN VỀ HIỆU LỰC CỦA THÔNG TƯ
1- Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15-7-1997.
2- Đối với các vụ án đã được xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, nhưng bản án, quyết định đã bị kháng cáo, kháng nghị trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành và chưa giải quyết xong, thì áp dụng Thông tư này để giải quyết.
3- Đối với bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành và vụ án đã được giải quyết đúng theo các hướng dẫn trước đây, thì không áp dụng Thông tư này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
4- Việc thi hành án các bản án, quyết định của toà án có hiệu lực trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành được quy định như sau:
a) Trong trường hợp tài sản phải thi hành án là hiện vật thì cơ quan thi hành án được áp dụng hướng dẫn tại phần III của Thông tư này để giải quyết việc thi hành án.
b) Đối với các trường hợp tài sản phải thi hành án không phải là hiện vật thì cơ quan thi hành án thi hành đúng theo quyết định của toà án, kể cả các khoản lãi mà bên phải thi hành án phải chịu do chậm thi hành án gây ra.
Trong quá trình thực hiện Thông tư này, nếu có gì vướng mắc, thì cần báo cáo ngay cho Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính để có hướng dẫn kịp thời.
3. Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử
[…]
II. VỀ DÂN SỰ, TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI
[…]
31. Trường hợp giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản là vàng thì Tòa án quyết định các cá nhân thanh toán cho nhau bằng vàng hay là quy đổi vàng thành tiền. Trường hợp Tòa án quyết định việc thanh toán bằng vàng thì có tuyên lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ không?
Khoản 1 và khoản 2 Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định:
“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý”.
Trong trường hợp nêu trên, do đối tượng của hợp đồng vay là vàng, nên Tòa án phải giải quyết buộc bên vay trả lại cho bên cho vay số vàng đã vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bảo đảm đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án vẫn quy đổi vàng thành tiền theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm để tính án phí, chi phí tố tụng.
Trong trường hợp Tòa án quyết định bên vay trả lại vàng cho bên cho vay thì không quyết định bên vay phải chịu lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp hợp đồng vay tài sản là vàng có thỏa thuận lãi thì nghĩa vụ trả lãi được thực hiện theo thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật.
[…]
36. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vay và lãi vay. Trường hợp có căn cứ xác định bị đơn đã trả tiền lãi nhiều hơn so với tiền lãi vay và sau khi dùng số tiền dư thanh toán khoản nợ gốc thì vẫn còn tiền thừa. Bị đơn yêu cầu trả lại tiền thừa thì yêu cầu này của bị đơn có phải là yêu cầu phản tố không? Nếu không là yêu cầu phản tố thì Tòa án có tuyên buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn tiền thừa hay không?
Khoản 2 Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:
“2. Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn”.
Như vậy, trong trường hợp nêu trên, yêu cầu của bị đơn là yêu cầu phản tố và Tòa án buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn số tiền thừa mà bị đơn đã trả cho nguyên đơn.
[…]
4. Công văn số 1476/VKSTC-V9 ngày 23/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình
[…]
Câu hỏi 19. Điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định: “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật;…”. Như vậy, đối với vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thì mức lãi suất nêu trên phải phù hợp với Bộ luật Dân sự hay Luật Các tổ chức tín dụng?[18]
Trả lời:
Khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP quy định: “Mức lãi suất hai bên thỏa thuận” hướng dẫn tại khoản 1 điều này là mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc tại Tòa án. Trường hợp, các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn”.
Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP quy định về áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng như sau: “1. Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất. 2. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất”.
Từ các quy định nêu trên, khi giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, Toà án phải áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết. Đối với tranh chấp hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng thì áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự để giải quyết.
[…]
5. Công văn số 1539/VLO-QLDN3 ngày 02/12/2025 của Thuế tỉnh Vĩnh Long về việc trả lãi tiền vay cho cổ đông
Ngày 18/11/2025, Thuế tỉnh Vĩnh Long có nhận được Công văn số 144/2025/CV-BSGBTr ngày 17/11/2025 của CÔNG TY CỔ PHẦN BIA SÀI GÒN – BẾN TRE vướng mắc về việc vay tiền cổ đông không lãi suất để thực hiện giải chấp tài sản tại ngân hàng.
Thuế tỉnh Vĩnh Long có ý kiến như sau:
Căn cứ khoản 2 Điều 49 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 của Quốc hội, quy định:
“Điều 49. Nguyên tắc ấn định thuế
…
2. Cơ quan quản lý thuế ấn định số tiền thuế phải nộp hoặc ấn định từng yếu tố, căn cứ tính thuế để xác định số tiền thuế phải nộp.”
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 50 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 của Quốc hội, quy định:
“Điều 50. Ấn định thuế đối với người nộp thuế trong trường hợp vi phạm pháp luật về thuế
1. Người nộp thuế bị ấn định thuế khi thuộc một trong các trường hợp vi phạm pháp luật về thuế sau đây:
…đ) Mua, bán, trao đổi và hạch toán giá trị hàng hóa, dịch vụ không theo giá trị giao dịch thông thường trên thị trường.”
Căn cứ khoản 2 Điều 1 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP ngày 05/11/2020 của Chính phủ, quy định:
“Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
…
2. Các giao dịch liên kết thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này là các giao dịch mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận mua, bán, sử dụng chung nguồn lực như tài sản, vốn, lao động, chia sẻ chi phí giữa các bên có quan hệ liên kết, trừ các giao dịch kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh giá của Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về giá.”
Căn cứ khoản l, khoản 2 Điều 5 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP ngày 05/11/2020 của Chính phủ, quy định:
“Điều 5. Các bên có quan hệ liên kết
1. Các bên có quan hệ liên kết (sau đây viết tắt là “bên liên kết”) là các bên có mối quan hệ thuộc một trong các trường hợp:
a) Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư vào bên kia;
b) Các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư của một bên khác.
2. Các bên liên kết tại khoản 1 điều này được quy định cụ thể như sau:
…g) Hai doanh nghiệp được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột;
…l) Doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế; vay, cho vay ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc trong một các mối quan hệ theo quy định tại điểm g khoản này.”
Căn cứ khoản 3 Điều 16 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP ngày 05/11/2020 của Chính phủ, quy định:
“Điều 16. Xác định chi phí để tính thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết
…
3. Tổng chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết:
a) Tổng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ của người nộp thuế;
b) Phần chi phí lãi vay không được trừ theo quy định tại điểm a khoản này được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo khi xác định tổng chi phí lãi vay được trừ trong trường hợp tổng chi phí lãi vay phát sinh được trừ của kỳ tính thuế tiếp theo thấp hơn mức quy định tại điểm a khoản này. Thời gian chuyển chi phí lãi vay tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ”
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính, quy định:
“Điều 2. Các khoản thu nhập chịu thuế
…
3. Thu nhập từ đầu tư vốn
Thu nhập từ đầu tư vốn là khoản thu nhập cá nhân nhận được dưới các hình thức:
a) Tiền lãi nhận được từ việc cho các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh, nhóm cá nhân kinh doanh vay theo hợp đồng vay hoặc thỏa thuận vay, trừ lãi tiền gửi nhận được từ các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo hướng dẫn tại tiết g.1, điểm g, khoản 1, Điều 3 Thông tư này.”
Căn cứ Điều 10 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định:
“Điều 10. Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn
Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn là thu nhập tính thuế và thuế suất.
1. Thu nhập tính thuế
Thu nhập tính thuế từ đầu tư vốn là thu nhập chịu thuế mà cá nhân nhận được theo hướng dẫn tại khoản 3, Điều 2 Thông tư này.
2. Thuế suất đối với thu nhập từ đầu tư vốn áp dụng theo Biểu thuế toàn phần với thuế suất là 5%.
3. Thời điểm xác định thu nhập tính thuế
Thời điểm xác định thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế.”
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày15/8/2013 của Bộ Tài chính, quy định:
“Điều 25. Khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế
1. Khấu trừ thuế
Khấu trừ thuế là việc tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện tính trừ số thuế phải nộp vào thu nhập của người nộp thuế trước khi trả thu nhập, cụ thể như sau:
…
d) Thu nhập từ đầu tư vốn
Tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ đầu tư vốn theo hướng dẫn tại khoản 3, Điều 2 Thông tư này có trách nhiệm khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trước khi trả thu nhập cho cá nhân trừ trường hợp cá nhân tự khai thuế theo hướng dẫn tại khoản 9, điều 26 thông tư này. số thuế khấu trừ được xác định theo hướng dẫn tại Điều 10 Thông tư này.”
Căn cứ các quy định nêu trên, CÔNG TY CỔ PHẦN BIA SÀI GÒN – BẾN TRE vướng mắc về chính sách thuế khi Công ty ký hợp đồng vay tiền của cổ đông là cá nhân với mức lãi suất 0% để thực hiện giải chấp tài sản tại ngân hàng. Thuế tỉnh Vĩnh Long trả lời theo nguyên tắc sau:
CÔNG TY CỔ PHẦN BIA SÀI GÒN – BẾN TRE vay tiền của cổ đông nếu cổ đông là cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc cá nhân thuộc trong một các mối quan hệ theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP ngày 05/11/2020 của Chính phủ với số tiền vay ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế thì được xác định có quan hệ liên kết. Khi đó giao dịch vay tiền với mức lãi suất 0% giữa Công ty và cổ đông là giao dịch liên kết theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP ngày 05/11/2020 của Chính phủ. Tổng chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với CÔNG TY CỔ PHẦN BIA SÀI GÒN – BẾN TRE có giao dịch liên kết được quy định tại khoản 3 Điều 16 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP ngày 05/11/2020 của Chính phủ.
Trường hợp Công ty vay tiền của cổ đông là cá nhân với lãi suất 0% thì hoạt động cho vay không theo giá trị giao dịch thông thường trên thị trường thuộc diện ấn định thuế theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 50 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 của Quốc hội. Cổ đông là cá nhân phát sinh thu nhập từ đầu tư vốn theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 111/2013/TT- BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính thì thuế suất đối với thu nhập từ đầu tư vốn áp dụng theo Biểu thuế toàn phần với mức thuế suất là 5%.
Thuế tỉnh Vĩnh Long thông báo đến CÔNG TY CỔ PHẦN BIA SÀI GÒN – BẾN TRE được biết và thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đã được trích dẫn tại văn bản này./.
6. Công văn số 163/TANDTC-PC ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải đáp một số vướng mắc trong xét xử
[…]
IV. DÂN SỰ, TỐ TỤNG DÂN SỰ
[…]
8. A kiện đòi nợ B và xuất trình giấy vay tiền có chữ ký của B. B không công nhận chữ ký trong giấy vay tiền và yêu cầu trưng cầu giám định (B đã nộp tiền tạm ứng chi phí giám định). Kết luận giám định không phải là chữ ký của B. Sau đó, A rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Trường hợp này, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, nguyên đơn phải chịu chi phí giám định. Tuy nhiên, theo Mẫu số 45-DS Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thì chỉ có mục hậu quả của việc đình chỉ quy định tại Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự (cụ thể là về án phí), không có mục quy định về chi phí tố tụng. Tòa án có được giải quyết về chi phí tố tụng ngay trong quyết định đình chỉ không?
Trường hợp này, Tòa án căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 161, khoản 1 Điều 162 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xử lý tiền tạm ứng chi phí giám định đã nộp và quyết định nghĩa vụ chịu chi phí giám định trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, theo đó A phải chịu chi phí giám định và B đã nộp tiền tạm ứng chi phí giám định nên A phải hoàn trả cho B.
[…]
7. Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Toà án nhân dân tối cao giải đáp một số vướng mắc trong xét xử
[…]
III. VỀ DÂN SỰ
[…]
3. Đối với các loại hợp đồng dân sự như hợp đồng thuê nhà, thuê tài sản, hợp đồng vay tài sản của các cá nhân, tập thể với nhau (không phải là hợp đồng tín dụng) thì có áp dụng thời hiệu khởi kiện như quy định tại Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 không?
Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 155 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây:
…2. Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
3. Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai….”
Theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc”.
Do vậy, đối với các tranh chấp về quyền sở hữu, đòi lại tài sản thì Tòa án không áp dụng thời hiệu không phụ thuộc vào việc một bên hoặc các bên có hay không có yêu cầu áp dụng thời hiệu. Đối với các tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự như hợp đồng thuê nhà, thuê tài sản, hợp đồng vay tài sản giữa các cá nhân, tập thể với nhau (không phải là hợp đồng tín dụng) thì thời hiệu khởi kiện áp dụng theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[…]
8. Công văn số 5814/VKSTC-V14 ngày 25/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc về nhận thức, áp dụng pháp luật trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình
[…]
8. Trường hợp giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản có lãi mà một bên có yêu cầu áp dụng thời hiệu thì Tòa án giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 184 BLTTDS quy định: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc”. Như vậy, nếu yêu cầu áp dụng thời hiệu thỏa mãn điều kiện tại khoản 2 Điều 184 thì yêu cầu này được chấp nhận. Đối với tranh chấp hợp đồng vay tài sản có lãi thì cần lưu ý:
– Đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi thì áp dụng thời hiệu. Thời hiệu đối với khoản tiền lãi được xác định như sau: căn cứ điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 thì “Giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này”. Tức là, hợp đồng vay tài sản được xác lập trước hay sau ngày BLDS 2015 có hiệu lực (01/01/2017) thì đối với khoản lãi đều áp dụng thời hiệu khởi kiện là “03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm” theo Điều 429 BLDS 2015.
– Đối với yêu cầu thanh toán nợ gốc thì không áp dụng thời hiệu vì đây là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu theo khoản 2 Điều 155 BLDS6.
[…]
40. Trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nguyên đơn yêu cầu bên vay là vợ chồng liên đới trả nợ, Tòa án xác định một người phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp này được xác định là Tòa án chấp nhận một phần hay toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nghĩa vụ chịu án phí được xác định như thế nào?
Trả lời:
Điều 288 BLDS 2015 quy định về việc thực hiện nghĩa vụ liên đới như sau: “1. Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. 2. Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình”.
Trường hợp nguyên đơn yêu cầu vợ chồng bị đơn liên đới trả nợ một khoản tiền nhất định. Tòa án xác định đây là nghĩa vụ liên đới của vợ chồng và chỉ yêu cầu người vợ hoặc chồng trả nợ toàn bộ số tiền đó thì được coi là ”toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận”. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016 quy định “Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận“, nên trường hợp này nghĩa vụ chịu án phí thuộc về bị đơn.
Trường hợp nguyên đơn yêu cầu vợ chồng bị đơn liên đới trả nợ nhưng Tòa án xác định đây không phải là nghĩa vụ liên đới của vợ chồng mà chỉ người vợ hoặc chồng có nghĩa vụ trả toàn bộ khoản nợ thì nghĩa vụ chịu án phí thuộc về người vợ hoặc chồng có nghĩa vụ trả nợ do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
Nếu Tòa án xác định chỉ người vợ hoặc chồng có nghĩa vụ trả một phần khoản nợ tức là Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận, người vợ hoặc chồng có nghĩa vụ trả một phần khoản nợ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận (khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016).
[…]
9. Công văn số 89/TANDTC/PC ngày 30/6/2020 của Toà án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử
[…]
IV. DÂN SỰ
[…]
8. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ (bị đơn) để bảo đảm thi hành án. Tài sản bị yêu cầu phong tỏa là nhà, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bị đơn. Bị đơn đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất này cho người thứ 3 và hợp đồng được công chứng nhưng chưa được đăng ký vào sổ địa chính. Vậy, Tòa án có được ra quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản trong trường hợp này hay không?
Điều 126 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:“Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án”.
Khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 122 của Luật Nhà ở năm 2014 quy định như sau:
Khoản 1 Điều 12: “Trường hợp mua bán nhà ở mà không thuộc diện quy định tại khoản 3 Điều này và trường hợp thuê mua nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là kể từ thời điểm bên mua, bên thuê mua đã thanh toán đủ tiền mua, tiền thuê mua và đã nhận bàn giao nhà ở, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.
Khoản 1 Điều 122: “Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng”.
Khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”.
Như vậy, theo các quy định trên, cần xác định rõ tài sản mà nguyên đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ là nhà hay là quyền sử dụng đất.
Trường hợp tài sản là nhà ở, theo quy định của pháp luật, thời điểm hợp đồng mua bán nhà có hiệu lực là thời điểm hợp đồng đó được công chứng, chứng thực, còn việc chuyển giao quyền sở hữu từ người bán sang người mua là thời điểm bên mua đã thanh toán đủ tiền và nhận bàn giao nhà. Vì vậy, trường hợp nguyên đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ là nhà ở thuộc quyền sở hữu của bị đơn thì giải quyết như sau: Nếu bị đơn đã ký hợp mua bán nhà ở với bên mua, hợp đồng đã được Công chứng mà bên mua đã trả đủ tiền và nhận bàn giao nhà ở từ bên bán thì kể từ thời điểm này nhà ở đã không còn thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị đơn, nên Tòa án không được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ; nếu hợp đồng mua bán nhà ở giữa bị đơn với người mua đã được công chứng, nhưng người mua chưa thanh toán đủ tiền mua hoặc chưa nhận nhà từ bên bán bàn giao thì tài sản đó vẫn còn thuộc quyền sở hữu của bị đơn, nên Tòa án được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, theo quy định của pháp luật thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời đăng ký vào sổ địa chính. Vì vậy, trường hợp nguyên đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ là thửa đất thuộc quyền sử dụng của bị đơn thì giải quyết như sau: Nếu bị đơn đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, hợp đồng đã được công chứng và đã hoàn thành thủ tục đăng ký vào sổ địa chính thì kể từ thời điểm này thửa đất không thuộc quyền sử dụng của bị đơn, nên Tòa án không được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ; nếu đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, hợp đồng đã được công chứng, nhưng chưa đăng ký vào sổ địa chính thì thửa đất đó vẫn thuộc quyền sử dụng của bị đơn, nên Tòa án được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[…]
10. Công văn số 6183/VKSTC-V14 ngày 25/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc về pháp luật về dân sự, hành chính
[…]
B. NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC LIÊN QUAN ĐẾN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ, LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, LUẬT ĐẤT ĐAI, BỘ LUẬT LAO ĐỘNG, PHÁP LUẬT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG, THƯƠNG MẠI, XÂY DỰNG
I. Quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS)
1. Theo Điều 357 và Điều 468 BLDSthì trong giao dịch vay tài sản là vật sẽ không bị tính lãi có đúng không?(VKSND tỉnh Long An).
Trả lời:
Điều 463 BLDS quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.” Như vậy, pháp luật không loại trừ việc trả lãi đối với quan hệ vay tài sản là vật.
Mặc dù Điều 357 và Điều 468 BLDS chỉ quy định việc trả lãi đối với tài sản vay là tiền, tuy nhiên, căn cứ vào khoản 2 Điều 14 BLDS “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong Trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng”, trường hợp vay tài sản là vật, có thỏa thuận về lãi mà có tranh chấp về việc trả lãi thì Tòa án vẫn phải thụ lý vụ án để giải quyết. Việc giải quyết phải được thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Điều 45 BLTTDS; tài sản vay là vật có thể được quy ra giá trị bằng tiền để tính lãi suất theo Điều 468 BLDS.
[…]
11. Công văn số 2964/VKSTC-V14 ngày 19/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về giải đáp vướng mắc pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự, hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật
I. Những vướng mắc liên quan đến quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Luật Tố tụng hành chính (Luật TTHC), Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015
[…]
7. Người khởi kiện ghi địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong đơn khởi kiện theo đúng địa chỉ ghi trong hợp đồng vay tiền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng các hợp đồng này không được công chứng, chứng thực thì Tòa án có thụ lý vụ án không?
Trả lời:
Sau khi nhận đơn khởi kiện, Tòa án xem xét đơn khởi kiện để ra một trong các quyết định quy định tại khoản 3 Điều 191 BLTTDS, trong đó, có xem xét việc ghi địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP[4] quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở…” ”.
Như vậy, nếu không có các lý do khác dẫn đến việc phải sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, trả lại đơn khởi kiện, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và người khởi kiện đã nộp tiền tạm ứng án phí (trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp) thì Tòa án phải thụ lý vụ án. Hợp đồng là tài liệu, chứng cứ trong vụ án, tính hợp pháp của hợp đồng sẽ được Tòa án xem xét trong quá trình giải quyết vụ án, không phải là căn cứ trả lại đơn khởi kiện.
[…]
17. Theo quy định tại khoản 5 Điều 466 BLDS 2015 thì trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì ngoài nợ gốc, bên vay phải trả những loại lãi gì? Các bên có thể thỏa thuận về “lãi phạt” (thường là 50% lãi suất theo hợp đồng) không?
Trả lời:
(1). Theo khoản 5 Điều 466 BLDS 2015 thì trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì ngoài nợ gốc, bên vay phải trả những loại lãi sau:
– Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả;
– Lãi chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS (tối đa 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả);
– Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
(2). Ngoài 03 loại lãi trên, các loại lãi khác do các bên thỏa thuận không được Tòa án chấp nhận. Tuy nhiên, cần phân biệt với phạt vi phạm. Các bên được thỏa thuận về phạt vi phạm trong hợp đồng theo quy định tại Điều 418 BLDS, các điều 300 và 301 Luật Thương mại năm 2005, Điều 25 Thông tư số 39/2016 ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước[6]. Phạt vi phạm là chế tài độc lập áp dụng đối với bên đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, với điều kiện các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng về phạt vi phạm.
Theo khoản 1 Điều 25 Thông tư số 39/2016 thì trường hợp tổ chức tín dụng và khách hàng đã có thỏa thuận về trả lãi tiền vay theo khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016 thì không được thỏa thuận về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, BLDS 2015 không có quy định này. Vì vậy, có cách hiểu là: trừ hợp đồng cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng, đối với hợp đồng vay tài sản khác thì ngoài 03 loại lãi theo khoản 5 Điều 466 BLDS, bên vay còn bị phạt vi phạm, nếu các bên đã có thỏa thuận và bên bị vi phạm yêu cầu.
Hiện nay, TAND tối cao đang xây dựng Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Trong đó, có nội dung hướng dẫn giải quyết trường hợp hợp đồng vay tài sản vừa có thỏa thuận phạt vi phạm, vừa có thỏa thuận lãi trên nợ gốc quá hạn hoặc hình thức khác áp dụng đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay. Sau khi Nghị quyết được ban hành, việc áp dụng pháp luật để giải quyết trường hợp trên sẽ được thực hiện thống nhất theo quy định của Nghị quyết.
[…]
12. Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề về hình sự, tố tụng hình sự, dân sự, tố tụng dân sự
[…]
III. Giải đáp vướng mắc liên quan đến các quy định của BLDS
[…]
3. Quy định về lãi suất tại Điều 468 BLDS năm 2015 có áp dụng đối với hợp đồng vay tài sản được xác lập trước ngày 01-01-2017 hay không?
Điểm a, b, c khoản 1 Điều 688 BLDS năm 2015 quy định:
“1. Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau:
a) Giao dịch dân sự chưa được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì chủ thể giao dịch tiếp tục thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11, trừ trường hợp các bên của giao dịch dân sự có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung nội dung, hình thức của giao dịch để phù hợp với Bộ luật này và để áp dụng quy định của Bộ luật này.
Giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11;
b) Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật này;
c) Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật này có hiệu lực mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 để giải quyết”.
Như vậy, hợp đồng vay tài sản được xác lập trước ngày 01-01-2017 chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có thỏa thuận về lãi suất khác với quy định của BLDS năm 2015 thì áp dụng quy định của BLDS năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết BLDS năm 2005, trừ trường hợp hợp đồng chưa được thực hiện mà các bên có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung về lãi suất phù hợp với BLDS năm 2015 và để áp dụng quy định của BLDS năm 2015;
Hợp đồng vay tài sản được xác lập trước ngày 01-01-2017 chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có thỏa thuận về lãi suất phù hợp với quy định của BLDS năm 2015 thì áp dụng BLDS năm 2015;
Hợp đồng vay tài sản được xác lập trước ngày 01-01-2017 được thực hiện xong trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực mà có tranh chấp thì áp dụng BLDS năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết BLDS năm 2005 để giải quyết.
[…]
13. Công văn số 17164/BTC-TCT ngày 11/12/2012 của Bộ Tài chính về thuế giá trị gia tăng đối với khoản lãi cho vay của tổ chức, cá nhân không phải là tổ chức tín dụng
Bộ Tài chính nhận được công văn của một số Cục thuế, doanh nghiệp đề nghị hướng dẫn chính sách thuế GTGT đối với khoản thu từ lãi tiền cho vay của tổ chức, cá nhân không phải là tổ chức tín dụng. Về vấn đề này, sau khi có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 1551/TTg-KTTH ngày 26/9/2012 về thuế giá trị gia tăng đối với cho vay vốn của tổ chức, cá nhân không phải là tổ chức tín dụng, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
Điều 3 Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 quy định về đối tượng chịu thuế GTGT: “Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này.”
Khoản 8 Điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 quy định: “8. Dịch vụ cấp tín dụng; kinh doanh chứng khoán; chuyển nhượng vốn; dịch vụ tài chính phái sinh, bao gồm hoán đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn mua, bán ngoại tệ và các dịch vụ tài chính phái sinh khác theo quy định của pháp luật” thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Khoản 4 Điều 3 Chương I Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 8/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008 quy định:
“a) Dịch vụ cấp tín dụng gồm các hình thức: cho vay; chiết khấu công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác; bảo lãnh; cho thuê tài chính và các hình thức cấp tín dụng khác theo quy định của pháp luật do các tổ chức tài chính, tín dụng tại Việt Nam cung ứng.” thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.
Khoản 5 Điều 1 Nghị định số 121/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 8/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng năm quy định:
“4. Một số dịch vụ quy định tại khoản 8 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:
- a) Dịch vụ cấp tín dụng gồm các hình thức:
– Cho vay;
– Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác;
– Bảo lãnh;
– Cho thuê tài chính;
– Phát hành thẻ tín dụng;
– Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế;
– Các hình thức cấp tín dụng khác theo quy định của pháp luật.
Tài sản sử dụng để đảm bảo tiền vay của người nộp thuế giá trị gia tăng hoặc đã được chuyển quyền sở hữu sang bên cho vay khi bán phải chịu thuế giá trị gia tăng, trừ trường hợp là hàng hóa không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng.”
Căn cứ vào Mục 4 Chương XVIII Bộ Luật dân sự năm 2005 về Hợp đồng vay tài sản.
Căn cứ vào các quy định nêu trên: Khoản thu từ lãi tiền cho vay mà pháp luật không cấm của tổ chức, cá nhân không phải là tổ chức tín dụng thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.
14. Công văn số 2702/TCT-PCCS ngày 31/7/2006 của Tổng cục Thuế về hình thức của hợp đồng vay tài sản
Trả lời Công văn số 4337/CT-TTHT ngày 23/6/2006 của Cục Thuế tỉnh Khánh Hoà về hình thức của hợp đồng vay tài sản, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS): “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.
Đối với các hợp đồng vay tài sản mà bên cho vay là các tổ chức tín dụng thì thực hiện theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng số 07/1999/QH10 ngày 12/12/1997 (được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 20/2004/QH11 ngày 05/6/2004) và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Đối với các hợp đồng vay tài sản mà bên cho vay là các tổ chức, cá nhân khác thì được Điều chỉnh bởi các quy định của BLDS.
Điều 401 BLDS quy định về hình thức của hợp đồng dân sự như sau:
“1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.
2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc phải xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.
Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
“Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng lơại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Căn cứ các quy định của BLDS nêu trên, hợp đồng vay tài sản của các tổ chức, cá nhân khác (không phải là tổ chức tín dụng) thì không bắt buộc phải được thể hiện bằng văn bản và cũng không bắt buộc phải được công chứng, chứng thực.
Cơ quan thuế cần tiến hành kiểm tra các yếu tố nội dung của hợp đồng và giao dịch thực tế của các bên nhằm xác định tính trung thực của việc ký kết hợp đồng vay tài sản, của chứng từ chi trả lãi tiền vay để xác định Khoản chi lãi tiền vay thực tế được tính vào chi phi hợp lý theo hướng dẫn tại Điểm 7 Mục III phần B Thông tư số 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ quy định chi Tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
15. Công văn số 164/2001/KHXX ngày 07/12/2001 của Toà án nhân dân về việc xác định thời điểm xét xử sơ thẩm để tính lãi suất chậm trả
Sau khi nghiên cứu Công văn số 64/CV.TA ngày 12/7/2001 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang đề nghị hướng dẫn việc xác định thời điểm xét xử sơ thẩm để tính lãi suất chậm trả, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:
Theo nội dung hướng dẫn tại điểm b, mục 1 Phần I của Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Toà án nhân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ tài chính “Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản”, thì “Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm”.
Do ông Xem không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chị Thu, nên ông Xem là người có lỗi, phải chịu hậu quả là: thời gian chậm trả nợ càng lâu bao nhiêu thì lãi suất nợ quá hạn càng lớn bấy nhiêu. Bản án sơ thẩm của Toà án cấp sơ thẩm xử ngày 21/4/1998 tuy có lãi suất nợ quá hạn mà ông Xem phải trả cho chị Thu nhưng đã bị Toà án cấp phúc thẩm xử huỷ, giao hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm điều tra xét xử sơ thẩm lại, nên “thời điểm xét xử sơ thẩm” lần đầu không còn nữa. Thời điểm này phải được Toà án xác định lại. Thông tư liên tịch số 01/TTLT nói trên không hạn chế Toà án tính thời gian chậm trả ở lần xét xử thứ nhất mà chỉ hướng dẫn chung là: “tại thời điểm xét xử sơ thẩm”; do đó, Toà án khi xét xử sơ thẩm lại vụ án được tính thời gian chậm trả để tính lãi suất nợ quá hạn đối với ông Xem là từ ngày 3/7/1997 trở đi cho đến ngày xét xử sơ thẩm lần thứ hai, chứ không phải ngày xét xử sơ thẩm lần thứ nhất.
Trên đây là ý kiến của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo vận dụng khi giải quyết vụ án cụ thể tại địa phương.
16. Công văn số 16/1999/KHXX ngày 01/02/1999 của Toà án nhân dân tối cao về việc giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng
[…]
III. VỀ DÂN SỰ
[…]
19. Về cách tính lãi suất khi giải quyết các tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa cá nhân với cá nhân, thì áp dụng mức lãi suất tương ứng của Ngân hàng Nhà nước tại thời Điểm xác lập hợp đồng hay tại thời Điểm xét xử sơ thẩm? Trong thực tế, nếu áp dụng mức lãi suất tại thời Điểm xác lập hợp đồng thì đối với những hợp đồng được xác lập rất lâu sẽ có mức lãi suất cao so với mức lãi suất đang áp dụng. Vậy phải hiểu và áp dụng pháp luật thế nào cho đúng?
Theo tinh thần hướng dẫn tại Khoản 4 Mục I Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính “Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản” thì khi giải quyết hợp đồng vay giữa cá nhân với cá nhân, về nguyên tắc Toà án chỉ tính lãi trên số nợ gốc. Tuy hướng dẫn tại Điểm a và b Khoản 4 Mục I Thông tư số 01/TTLT không nêu cụ thể, nhưng trong ví dụ theo Điểm này đã hướng dẫn cách tính cụ thể là: khi tính lãi phải áp dung mức lãi suất tương ứng của Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời Điểm xác lập hợp đồng (thời Điểm vay). Việc tính lãi phải áp dụng mức lãi suất tương ứng của Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời Điểm xác lập hợp đồng đã được Toà án nhân dân tối cao trao đổi với Ngân hàng Nhà nước và tại Công văn số 475/CV-NH10 ngày 18-6-1997, Ngân hàng Nhà nước trả lời Toà án nhân dân tối cao với nội dung là: Lãi suất cho vay cùng loại ở đây được xác định là mức lãi suất cho vay cùng loại tại thời Điểm vay vốn được ghi trên hợp đồng tín dụng hay khế ước vay tiền còn hiệu lực thi hành (Ngân hàng Nhà nước không đặt ra vấn đề trả lãi theo lãi suất tại thời Điểm trả, vì lãi suất lúc này có thể tăng lên hoặc giảm xuống. Hơn nữa, lãi suất xác định lúc cho vay là trên cơ sở lãi suất huy động tiền gửi của ngân hàng để có nguồn cho vay Khoản tín dụng này).
Đối với những hợp đồng vay tài sản được xác lập đã lâu có mức lãi suất cao so với mức lãi suất đang áp dụng, thì khi giải quyết tranh chấp, Toà án áp dụng Quyết định số 79/QĐ-NH1 ngày 16-4-1993 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về Điều chỉnh lãi suất tiền gửi và tiền vay. Theo quy định tại Quyết định này thì: “Số dư tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, tiền gửi Tiết kiệm không kỳ hạn của dân cư và dư nợ vay Ngân hàng đến cuối ngày 19-4-1993 chuyển sang đều áp dụng theo lãi suất tại Quyết định này”. Do đó, các Khoản vay được xác lập trước ngày 19-4-1993 mà đến ngày 19-4-1993 chưa trả và phát sinh tranh chấp thì Toà án áp dụng mức lãi suất theo Quyết định số 79/QĐ-NH1 trên đây của Ngân hàng Nhà nước để giải quyết, nghĩa là lãi suất cho vay cùng loại ở đây được xác định là mức lãi suất cho vay cùng loại tại thời Điểm vay vốn được ghi trên hợp đồng hay khế ước vay tiền đến ngày 19-4-1993, còn từ ngày 19-4-1993 trở về sau thì lãi suất được xác định theo mức lãi suất cho vay cùng loại theo quy định tại Quyết định số 79/QĐ-NH1 nói trên.
20. Trường hợp hợp đồng vay tài sản được xác lập sau khi Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành các bên đương sự tự thoả thuận thanh toán tiền lãi còn thiếu với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự, thì Toà án có quyền công nhận sự thoả thuận đó hay không?
Vấn đề này cần phân biệt như sau:
– Nếu khi các bên giao kết hợp đồng vay tài sản mà có thoả thuận thanh toán tiền lãi cao hơn mức lãi suất được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự, nay có tranh chấp yêu cầu Toà án giải quyết (kể cả việc thanh toán tiền lãi còn thiếu) thì việc giải quyết tranh chấp này đã được hướng dẫn tại Khoản 4 Mục I Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính “Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản”; cụ thể là: “Đối với các hợp đồng vay tài sản giao kết từ ngày 1-7-1996 trở đi thì việc tính lãi phải tuân thủ theo các quy định của Bộ luật dân sự, số tiền lãi đã trả cũng phải được giải quyết lại, nếu mức lãi suất mà các bên thoả thuận cao hơn mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 473 Bộ luật dân sự”. (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế và tố tụng; năm 1998, trang 162 – 163).
– Nếu trong quá trình Toà án giải quyết vụ án mà các bên vẫn thoả thuận thanh toán tiền lãi còn thiếu với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự, thì Toà án không được công nhận sự thoả thuận đó mà giải thích cho các đương sự biết là Toà án chỉ có quyền công nhận mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Khoản 1 Điều 473 Bộ luật dân sự.
21. Việc vay thóc có được tính lãi không? cách tính lãi suất của hợp đồng vay thóc nói riêng và tính lãi suất của các hợp đồng vay tài sản là hiện vật nói chung như thế nào?
Vấn đề này đã được hướng dẫn trong Kết luận của Chánh án Toà án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Toà án năm 1993; cụ thể là: “Đây là hợp đồng vay nợ giữa các cá nhân với nhau nên khi giải quyết vụ án, Toà án căn cứ vào sự thoả thuận với nhau khi ký kết hợp đồng vay nợ. Nếu các đương sự thoả thuận không phải thanh toán lãi thì Toà án cũng chấp nhận sự thoả thuận đó. Nếu bên vay không có thóc để trả thì Toà án tính thóc thành tiền theo giá thị trường tự do lúc xét xử sơ thẩm. Nếu các đương sự thoả thuận trả lãi thì Toà án chấp nhận mức lãi mà họ đã thoả thuận. Nếu các đương sự không thống nhất với nhau về mức lãi vì bên cho vay đòi lãi cao, còn bên vay đồng ý trả lãi với mức thấp hơn hoặc nếu khi vay và cho vay các đương sự không đề cập đến vấn đề lãi, chỉ đến khi quá hạn trả nợ bên cho vay mới yêu cầu trả lãi, thì chỉ tính lãi từ thời Điểm nợ quá hạn theo thoả thuận về thời Điểm trả nợ. Mức lãi mà Toà án áp dụng cho cả hai trường hợp này là mức lãi suất tiền cho vay của các tổ chức tín dụng ngoài quốc doanh do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời Điểm cho vay. Trong trường hợp này Toà án phải tính giá trị số thóc cho vay thành tiền theo giá thị trường tự do khi xét xử sơ thẩm để tính lãi…”. (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế và tố tụng; năm 1995; trang 290).
Tuy nhiên khi giải quyết các tranh chấp loại này, Toà án cần chú ý là ngoài việc thực hiện theo hướng dẫn trên đây việc chấp nhận sự thoả thuận của các đương sự về mức lãi suất kể từ ngày 1-7-1996 trở đi còn phải theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 473 Bộ luật dân sự và theo đúng hướng dẫn tại Khoản 4 Mục I Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính “Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản”.
[…]
17. Thông báo số 21/TB-VC1-DS ngày 15/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội rút kinh nghiệm về tranh chấp Hợp đồng mua bán nhà và Hợp đồng vay tài sản
Sơ lược nội dung: Sau khi vụ án được xét xử lại theo quyết định giám đốc thẩm, nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện do đã được thi hành một phần nghĩa vụ. Tuy nhiên, trước khi ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, Tòa án không xác minh, làm rõ bị đơn có yêu cầu phản tố hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hay không. Việc đình chỉ giải quyết vụ án trong khi chưa xem xét đầy đủ các yêu cầu tố tụng của các đương sự là không đúng quy định tại Điều 24 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên. Cần rút kinh nghiệm trong việc kiểm tra đầy đủ yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập trước khi quyết định đình chỉ vụ án khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện.
Tải về
18. Thông báo số 40/TB-VC2-V2 ngày 04/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm vụ án dân sự “Tranh chấp Hợp hợp đồng vay tài sản”
Sơ lược nội dung: Tòa án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào kết luận giám định chữ ký để chấp nhận yêu cầu khởi kiện, trong khi kết luận giám định này không đúng thẩm quyền, không có giá trị pháp lý và các kết luận giám định khác lại có nội dung mâu thuẫn. Đồng thời, chưa xem xét đầy đủ các chứng cứ khác như những dấu hiệu bất thường của giấy vay tiền, lời khai mâu thuẫn của nguyên đơn, nguồn gốc khoản tiền cho vay, khả năng giao nhận tiền và lời khai của các nhân chứng dẫn đến nhận định không đúng bản chất vụ án, phải hủy bản án phúc thẩm để giải quyết lại.
Tải về
19. Thông báo số 42/TB-VC3-V2 ngày 20/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh rút kinh nghiệm vụ án “Tranh chấp Hợp hợp đồng vay tài sản”
Sơ lược nội dung: Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn sau thời điểm đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, trái quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, tự xác định, tính toán tiền lãi và cấn trừ nghĩa vụ giữa các bên khi bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh, nguyên đơn không thừa nhận các khoản lãi, vi phạm nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ chứng minh và vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện. Quan hệ vay nợ trước đó đã được các bên tất toán bằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và biên nhận nợ mới, Toà án vẫn xem xét lại các khoản vay đã chấm dứt để xác định nghĩa vụ thanh toán, dẫn đến nhận định không đúng bản chất quan hệ tranh chấp và giải quyết vụ án không có căn cứ.
Tải về
20. Thông báo số 18/TB-VKS-DS ngày 13/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm vụ án dân sự “Đòi tài sản”
Sơ lược nội dung: Tòa án hai cấp sơ chưa làm rõ bản chất khoản tiền tranh chấp 1.425.000.000 đồng, trong khi lời khai của các đương sự còn nhiều mâu thuẫn và tồn tại tài liệu thể hiện khả năng khoản tiền này liên quan đến người thứ ba là bà Trần Thị Cẩm Ly. Việc không giám định chữ ký, chữ viết theo yêu cầu của đương sự; không lấy lời khai của những người làm chứng về việc lập giấy xác nhận nợ giữa ba bên; không làm rõ tình tiết chuyển giao nghĩa vụ trả nợ; đồng thời xác định không đúng quan hệ pháp luật tranh chấp khi áp dụng quan hệ “đòi tài sản” thay vì “tranh chấp hợp đồng vay tài sản dẫn đến phán quyết không có căn cứ, ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, phải hủy cả bản án sơ thẩm và phúc thẩm để giải quyết lại.
Tải về
21. Thông báo số 20/TB-VC2-V2 ngày 18/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm vụ án dân sự “Tranh chấp Hợp hợp đồng vay tài sản”
Sơ lược nội dung: Tòa án cấp phúc thẩm đánh giá chứng cứ chưa khách quan, toàn diện khi chấp nhận yêu cầu khởi kiện mặc dù kết luận giám định xác định nội dung về khoản vay 800.000.000 đồng và thỏa thuận lãi suất đã được chèn thêm vào giấy biên nhận mượn tài sản. Việc chỉ căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn để xác định có quan hệ vay tài sản và buộc bị đơn thanh toán khoản tiền 800.000.000 đồng là không đủ căn cứ, không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tải về
22. Thông báo số 66/TB-VC2-V2 ngày 02/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm vụ án dân sự “Tranh chấp Hợp hợp đồng vay tài sản”
Sơ lược nội dung: Quá trình giải quyết nhiều vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa các chủ nợ với vợ chồng ông Nguyễn Chí Dũng, bà Nguyễn Thị Kim Trang, Tòa án đã công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là nhà hàng Kim Gia Trang cho bên thứ ba. Tại thời điểm chuyển nhượng, vợ chồng ông Dũng đang là bị đơn trong nhiều vụ kiện đòi nợ với tổng số tiền rất lớn. Chỉ một số chủ nợ được thanh toán hoặc đồng ý cho bên nhận chuyển nhượng trả nợ thay, nhiều chủ nợ còn lại không được bảo đảm quyền lợi và không có điều kiện thi hành án do vợ chồng ông Dũng không còn tài sản khác. Vụ việc cho thấy dấu hiệu tẩu tán tài sản trong thời gian đang phát sinh nghĩa vụ trả nợ. Ngoài ra, nhà hàng Kim Gia Trang được xây dựng vượt phạm vi được cấp phép, lấn sang diện tích đất nông nghiệp, đã bị xử phạt vi phạm hành chính và buộc khắc phục hậu quả nhưng chưa được thực hiện.
Tải về
23. Thông báo số 33/TB-VKS-DS ngày 11/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm vụ án dân sự “Tranh chấp Hợp hợp đồng vay tài sản”
Sơ lược nội dung: Sau khi Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm, Tòa án thụ lý giải quyết lại vụ án nhưng không triệu tập được bị đơn theo đúng địa chỉ cư trú mà nguyên đơn đã cung cấp khi khởi kiện. Qua xác minh, bị đơn đã rời khỏi nơi cư trú, không thông báo địa chỉ mới nhằm trốn tránh nghĩa vụ. Trường hợp này phải được xác định là cố tình giấu địa chỉ và tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tuy nhiên, Tòa án lại đình chỉ giải quyết vụ án với lý do không xác định được địa chỉ của bị đơn, áp dụng không đúng quy định của pháp luật tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Tải về
24. Thông báo số 40/TB-VC2-V2 ngày 04/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm vụ án dân sự “Tranh chấp Hợp hợp đồng vay tài sản” bị cấp giám đốc thẩm huỷ án
Sơ lược nội dung: Tại thời điểm giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà Phạm Thị Nổi và bà Phạm Thị Thành, bị đơn đang phải thi hành nhiều bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và là bị đơn trong nhiều vụ án khác về nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, Tòa án không xác minh đầy đủ nghĩa vụ thi hành án của bà Thành, vẫn ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự đối với việc thế chấp và xử lý thửa đất là tài sản duy nhất của bà Thành. Quyết định được ban hành trong thời điểm cơ quan thi hành án đang áp dụng biện pháp ngăn chặn, dẫn đến việc hủy quyết định kê biên tài sản để thi hành các bản án khác.
Tải về
25. Thông báo số 64/TB-VC2-V2 ngày 23/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm vụ án dân sự “Tranh chấp Hợp hợp đồng vay tài sản”
Sơ lược nội dung: Trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, vợ chồng ông Phan Văn Bằng và bà Nguyễn Thị Hoa vay của ông Nguyễn Thanh Nghị 300.000.000 đồng, đồng thời thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ. Sau khi bà Hoa qua đời, Tòa án đã đưa các đồng thừa kế của bà Hoa tham gia tố tụng với tư cách người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm chỉ buộc ông Phan Văn Bằng thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà không buộc các đồng thừa kế của bà Hoa cùng thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản thừa kế đối với khoản nợ chung của vợ chồng, không đúng quy định của Bộ luật Dân sự, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Tải về
26. Thông báo số 43/TB-VC3-V2 ngày 30/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh rút kinh nghiệm đối với vụ án “Tranh chấp Hợp hợp đồng vay tài sản”
Sơ lược nội dung: Hồ sơ thể hiện có các biên lai nộp tiền do con trai bà Vui trực tiếp nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự, lời khai của những người làm chứng và người cho bà Vui vay tiền đều phù hợp với việc bà Vui là người thực tế bỏ tiền để thi hành án. Tuy nhiên, Tòa án không làm rõ số tiền bà Vui đã nộp, không làm rõ nguyên nhân bà Vui giữ các biên lai thu tiền trong khi ông Trung cho rằng mình là người nộp tiền, đồng thời chưa đánh giá đầy đủ sự phù hợp giữa lời khai của các đương sự, người làm chứng và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ. Việc bác yêu cầu khởi kiện trong khi còn nhiều tình tiết chưa được làm rõ là chưa có đủ căn cứ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Tải về
27. Thông báo số 78/TB-VKS-DS ngày 20/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm về kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự
Sơ lược nội dung: Mặc dù có tài liệu do nguyên đơn lập xác nhận đã nhận khoản tiền lãi 740.300.000 đồng, Tòa án không chấp nhận khoản tiền này để xác định nghĩa vụ thanh toán còn lại, dẫn đến việc tính toán số nợ không khách quan. Đồng thời, các hợp đồng vay được xác lập trước ngày 01/01/2017 nhưng Tòa án áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi suất thay vì áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 và mức lãi suất cơ bản theo quy định tại thời điểm giao kết hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Tải về
28. Thông báo số 19/TB-VC2-V2 ngày 15/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm về việc kiểm sát giải quyết vụ án dân sự
Sơ lược nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai bản chất ý kiến của bị đơn khi coi việc xuất trình tài liệu về khoản tiền 2.380.000.000 đồng là yêu cầu phản tố nên không xem xét, trong khi đây chỉ là ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện. Cả 2 cấp Toà án chưa thu thập, đánh giá đầy đủ chứng cứ để làm rõ bản chất khoản nợ 4.097.000.000 đồng, các khoản tiền bị đơn cho rằng đã thanh toán (2.380.000.000 đồng, 1.868.200.000 đồng và 597.000.000 đồng), vai trò của bà Lộc trong việc thu tiền, cũng như chưa đưa chị Tuyền tham gia tố tụng để xác minh các khoản tiền đã nhận, dẫn đến việc chấp nhận yêu cầu buộc bị đơn thanh toán 3.476.000.000 đồng là chưa đủ căn cứ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Tải về
29. Thông báo số 35/TB-VKS-DS ngày 24/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm về kiểm sát giải quyết vụ án dân sự
Sơ lược nội dung: Đối với các khoản vay không kỳ hạn, không có lãi, Tòa án lại buộc bị đơn trả lãi kể từ ngày khởi kiện mà không xem xét việc bên cho vay đã thông báo đòi nợ trước một thời gian hợp lý theo quy định của pháp luật. Hồ sơ vụ án không có tài liệu chứng minh việc thông báo trước khi khởi kiện, nên thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả lãi phải được xác định sau khi hết thời hạn báo trước theo quy định. Việc tính lãi từ ngày khởi kiện là áp dụng pháp luật chưa đúng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Tải về
30. Thông báo số 36/TB-VC1-V2 ngày 08/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội rút kinh nghiệm vụ án “Tranh chấp Hợp hợp đồng vay tài sản”
Sơ lược nội dung: Sau khi phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất bị hoãn do bị đơn vắng mặt, các đương sự đã tự thỏa thuận được việc giải quyết vụ án và giữ nguyên nội dung thỏa thuận tại phiên tòa mở lại. Tòa án ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là đúng quy định. Tuy nhiên, Tòa án xác định nghĩa vụ chịu án phí như trường hợp các bên thỏa thuận trước khi mở phiên tòa, chỉ buộc các đương sự chịu 50% án phí dân sự sơ thẩm. Việc áp dụng quy định này không đúng, bởi các bên chỉ đạt được thỏa thuận sau khi phiên tòa đã được mở và hoãn. Sai sót trong việc tính án phí làm giảm số tiền án phí phải nộp, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước.
Tải về
31. Thông báo số 58/TB-VC2-V2 ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm về kiểm sát giải quyết vụ án dân sự
Sơ lược nội dung: Tòa án cấp phúc thẩm xác định chưa đúng hậu quả pháp lý của việc bà Châu Thị M đã nhận 2.187,7kg hạt tiêu khô để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ. Mặc dù có đủ căn cứ xác định việc giao tiêu diễn ra vào tháng 3/2019 nhằm thanh toán khoản vay ngày 18/4/2017, Tòa án vẫn tính lãi đến thời điểm xét xử sơ thẩm và tính cả lãi quá hạn khi bị đơn không có yêu cầu. Đồng thời, sau khi khấu trừ giá trị số tiêu đã nhận và xác định lại tiền lãi, bà M còn phải hoàn trả cho ông Phan Thanh S số tiền 16.647.027 đồng, nhưng Tòa án không xem xét, giải quyết, dẫn đến việc bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện và xác định nghĩa vụ án phí không đúng quy định, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Tải về
32. Thông báo số 78/TB-VKS-DS ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm về kiểm sát giải quyết vụ án dân sự
Sơ lược nội dung: Hồ sơ thể hiện sau khi đến hạn thanh toán theo các hợp đồng vay năm 2013 và năm 2014, các bên đã tiếp tục trao đổi qua thư điện tử, phía Công ty SG nhiều lần thừa nhận nghĩa vụ trả nợ và đề nghị gia hạn đến khi hoàn tất việc chuyển nhượng cổ phần. Đây là tình tiết cần được xác minh để xem xét việc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện và xác định lại thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả nợ. Đồng thời, đối với yêu cầu đòi lại tài sản vay (nợ gốc), pháp luật không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Việc Tòa án căn cứ yêu cầu áp dụng thời hiệu của bị đơn để đình chỉ toàn bộ vụ án là không đúng quy định, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn; cần hủy quyết định đình chỉ để tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Tải về
33. Bản án số 559/2024/DS-PT ngày 31/10/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Sơ lược nội dung: Bà Phạm Thị Thúy D cho ông Bùi Vĩnh L vay hai lần, tổng cộng 1,2 tỷ đồng (ngày 10/10/2021 vay 1,15 tỷ đồng và ngày 12/10/2021 vay 50 triệu đồng) không lãi suất, thời hạn 1 tháng. Hết hạn, ông L không trả. Bà D khởi kiện yêu cầu ông L và vợ là bà Lê Thị Kim N liên đới trả 1,439 tỷ đồng, gồm nợ gốc và lãi chậm trả. Ông L thừa nhận vay và đồng ý trả nhưng cho rằng bà N không liên quan, còn bà N khai vợ chồng làm ăn riêng, không biết việc vay. Cấp sơ thẩm chỉ buộc ông L trả nợ, không buộc bà N liên đới, nên bà D kháng cáo.
Tải về
34. Bản án số 173/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện B tỉnh Bến Tre về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Sơ lược nội dung: Ngày 31/3/2023, vợ chồng ông Huỳnh Văn P1 và bà Hồ Kim P2 có mượn bà Bé P 180.000.000 đồng, việc mượn tiện có biên nhận bằng giấy viết tay. Vợ chồng bà P2, ông P1 cam kết sẽ hoàn trả cho bà Bé P mỗi tháng là 10.000.000 đồng bắt đầu từ ngày 29/4/2023 cho đến khi hết số tiền 180.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay vợ chồng bà P2 không thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Nay bà Nguyễn Thị Bé P khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn P1 và bà Hồ Kim P2 phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà B P1 số tiền còn nợ là 180.000.000, không yêu cầu tính lãi suất.
Tải về
35. Bản án số 353/2023/DS-PT ngày 22/9/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Sơ lược nội dung: Ngày 21/11/2021, chị Trần Thị L cho anh Trần Hồng H vay số tiền 100.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất, có biên nhận hẹn ngày 21/3/2022 trả tiền. Đến hẹn, anh H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Thời điểm vay tiền anh H với chị P1 đang tồn tại mối quan hệ hôn nhân. Ngày 11/01/2023, chị L khởi kiện yêu cầu anh H, chị P1 cùng có trách nhiệm thanh toán cho chị L nợ gốc 100.000.000 đồng và lãi suất tính từ ngày 21/3/2022 đến ngày 11/01/2023, mức lãi suất 0.83%/tháng bằng số tiền 8.049.600 đồng.
Tải về
—————————————————–
CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)
– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
– Điện thoại: 0941.767.076
– Email: amilawfirmdn@gmail.com
– Website: https://amilawfirm.com/
– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm










