Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự là hành vi đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm trực tiếp đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Do tính chất đặc thù của đối tượng tác động và yêu cầu quản lý chặt chẽ trong lĩnh vực quốc phòng, việc xác định đúng dấu hiệu pháp lý của tội phạm có ý nghĩa hết sức quan trọng. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.
1. Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Điều 304. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự
1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.
2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Có tổ chức;
b) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;
c) Làm chết người;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
e) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
g) Vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc có giá trị lớn;
h) Tái phạm nguy hiểm.
3.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 02 người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
d) Vật phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc có giá trị rất lớn.
4.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên;
d) Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn hoặc có giá trị đặc biệt lớn.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.
2. Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP ngày 09/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 304, Điều 305, Điều 306, Điều 307 và Điều 308 của Bộ luật Hình sự
1. “Vũ khí” là thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những phương tiện được chế tạo, sản xuất có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
2. “Vũ khí quân dụng” là thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những phương tiện quy định tại khoản 2 và khoản 6 Điều 3 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
3. “Phương tiện kỹ thuật quân sự” là các loại xe, khí tài, phương tiện khác được thiết kế, chế tạo và trang bị cho lực lượng vũ trang để huấn luyện, chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
[…]
Điều 3. Về một số tình tiết là dấu hiệu định tội
1. “Chế tạo trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là làm mới hoàn toàn hoặc lắp ráp từ những bộ phận chi tiết của vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự và có giá trị sử dụng theo tính năng tác dụng của chúng mà không được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền.
Cũng được coi là chế tạo trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự đối với trường hợp cơ sở sản xuất của lực lượng vũ trang và những cơ sở khác có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được sản xuất, lắp ráp vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (theo danh mục) nhưng lại sản xuất, lắp ráp vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự loại khác (ngoài danh mục) hoặc chế tạo nhiều hơn số lượng cho phép, trừ trường hợp nghiên cứu cải tiến sản xuất vũ khí mới theo đề tài khoa học đã được cấp thẩm quyền phê duyệt.
2. “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là cất giữ vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Nơi tàng trữ có thể là nơi ở, nơi làm việc, mang theo trong người, trong hành lý hoặc cất giấu bất kỳ ở một vị trí nào khác mà người phạm tội đã chọn.
Cũng được coi là tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự đối với trường hợp vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự có từ bất kỳ nguồn nào (ví dụ: cho, tặng, gửi, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố, thế chấp, đào được, nhặt được) mà không khai báo, giao nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. “Vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là hành vi chuyển dịch vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự từ nơi này đến nơi khác, từ vị trí này sang vị trí khác, từ người này sang người khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác hoặc hành vi khác chuyển dịch vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự khác mà không có mệnh lệnh của người có thẩm quyền hoặc giấy phép vận chuyển của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng bất kỳ phương tiện nào (trừ hình thức chiếm đoạt), nhưng không nhằm mục đích mua bán.
4. “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là sử dụng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự mà không có giấy phép hoặc không được phép của người hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm phát huy tác dụng của vũ khí, phương tiện đó. Ví dụ: Hành vi sử dụng súng quân dụng là lên đạn, bóp cò; hành vi sử dụng lựu đạn là rút chốt, giật nụ xùy.
5. “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là hành vi mua bán không có giấy phép hoặc không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
6. “Chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự bao gồm các hành vi cướp, cưỡng đoạt, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, tham ô, trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt hoặc các hành vi chiếm đoạt khác.
Cũng được coi là chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự khi quân nhân, nhân viên, công nhân quốc phòng và những người khác được trang bị vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự để thực hiện nhiệm vụ trong thời gian công tác đến khi xuất ngũ, phục viên, nghỉ việc về hưu hoặc chuyển sang công tác khác không còn được phép sử dụng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự nhưng đã cố ý không giao nộp lại theo quy định của Nhà nước.
Điều 4. Về một số tình tiết định khung hình phạt
1. “Vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc có giá trị lớn” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 304 của Bộ luật Hình sự:
a) Súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên: từ 03 đến 10 khẩu;
b) Đạn bộ binh cỡ 11,43 ly trở xuống: từ 301 đến 1.000 viên;
c) Đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7 ly đến 25 ly: từ 201 đến 600 viên;
d) Bom, mìn, lựu đạn: từ 06 đến 20 quả;
đ) Súng trung liên, súng chống tăng, súng phóng lựu: từ 01 đến 05 khẩu;
e) Súng đại liên, súng cối, súng ĐKZ, súng máy phòng không, tên lửa chống tăng cá nhân: từ 01 đến 02 khẩu;
g) Đạn cối, đạn pháo: từ 01 đến 10 quả;
h) Thủy lôi: từ 01 đến 02 quả;
i) Vật phạm pháp có giá trị từ 10.000.000 đến dưới 200.000.000 đồng;
k) Vật phạm pháp khác có số lượng lớn theo quy định của pháp luật.
2. “Vật phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc có giá trị rất lớn” quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 304 của Bộ luật Hình sự:
a) Súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên: từ 11 đến 30 khẩu;
b) Đạn bộ binh cỡ 11,43 ly trở xuống: từ 1.001 đến 3.000 viên;
c) Đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7 ly đến 25 ly: từ 601 đến 2.000 viên;
d) Bom, mìn, lựu đạn: từ 21 đến 50 quả;
đ) Súng trung liên, súng chống tăng, súng phóng lựu: từ 06 đến 30 khẩu;
e) Súng đại liên, súng cối, súng ĐKZ, súng máy phòng không, tên lửa chống tăng cá nhân: từ 03 đến 20 khẩu;
g) Đạn cối, đạn pháo: từ 11 đến 30 quả;
h) Thủy lôi: từ 03 đến 10 quả;
i) Ngư lôi: từ 01 đến 02 quả;
k) Pháo mặt đất, pháo phòng không: từ 01 đến 02 khẩu;
l) Vật phạm pháp có giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
m) Vật phạm pháp khác có số lượng rất lớn theo quy định của pháp luật.
3. “Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn hoặc có giá trị đặc biệt lớn” quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 304 của Bộ luật Hình sự:
a) Súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên: từ 31 khẩu trở lên;
b) Đạn bộ binh cỡ 11,43 ly trở xuống: từ 3.001 viên trở lên;
c) Đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7 ly đến 25 ly: từ 2.001 viên trở lên;
d) Bom, mìn, lựu đạn: từ 51 quả trở lên;
đ) Súng trung liên, súng chống tăng, súng phóng lựu: từ 31 khẩu trở lên;
e) Súng đại liên, súng cối, súng ĐKZ, súng máy phòng không, tên lửa chống tăng cá nhân: từ 21 khẩu trở lên;
g) Đạn cối, đạn pháo: từ 31 quả trở lên;
h) Thủy lôi: từ 11 quả trở lên;
i) Ngư lôi: từ 03 quả trở lên;
k) Pháo mặt đất, pháo phòng không: từ 03 khẩu trở lên;
l) Máy bay chiến đấu, trực thăng vũ trang: từ 01 chiếc trở lên;
m) Xe tăng, xe thiết giáp: từ 01 chiếc trở lên;
n) Tàu chiến, tàu ngầm: từ 01 chiếc trở lên;
o) Tên lửa: từ 01 quả trở lên;
p) Vật phạm pháp có giá trị là từ 1.000.000.000 đồng trở lên;
q) Vật phạm pháp khác có số lượng đặc biệt lớn theo quy định của pháp luật.
[…]
9. “Vận chuyển, mua bán qua biên giới” quy định tại khoản 2 các điều 304, 305, 306 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội đã hoặc đang đưa vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ ra khỏi biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, trên không và trong lòng đất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc ngược lại.
Cũng được coi là “vận chuyển, mua bán qua biên giới” nếu đã hoàn thành các thủ tục thông quan đối với vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ.
Điều 6. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp cụ thể
1. Trường hợp người phạm tội có hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ gây hậu quả chết người, gây tổn hại sức khoẻ cho người khác, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự theo các điều 304, 305, 306 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung hình phạt tương ứng mà không truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về các tội quy định tại các điều 128, 138, 180 của Bộ luật Hình sự.
2. Trường hợp người sử dụng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự có giấy phép hoặc được phép của người hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu là những người được quy định tại Điều 392 của Bộ luật Hình sự mà có hành vi vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 412 của Bộ luật Hình sự; nếu không phải là những người được quy định tại Điều 392 của Bộ luật Hình sự thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 128 của Bộ luật Hình sự mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp người được trang bị vũ khí quân dụng đã sử dụng trái phép vũ khí quân dụng được trang bị thực hiện tội phạm hoặc người tuy không được trang bị nhưng đã dùng vũ khí quân dụng thực hiện tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 của Bộ luật Hình sự và tội phạm đã thực hiện theo điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự. Nếu tội phạm đã thực hiện mà điều luật có quy định “sử dụng vũ khí”, “dùng vũ khí” là tình tiết định khung hình phạt thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự về khoản tương ứng của điều luật.
3. Người nào thực hiện hành vi quy định tại các điều 304, 305, 306 của Bộ luật Hình sự với mục đích là chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện một tội phạm tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật Hình sự thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả 02 tội.
4. Trường hợp người phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau quy định các điều 304, 305, 306 của Bộ luật Hình sự thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về 01 tội hay về nhiều tội độc lập đối với từng hành vi đã thực hiện. Khi quyết định hình phạt, Tòa án áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt chung, cụ thể như sau:
a) Nếu người phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội mà những hành vi phạm tội này liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện, là hậu quả tất yếu của hành vi phạm tội kia) đối với cùng nhiều đối tượng hay một đối tượng thì chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về 01 tội với tên tội danh đầy đủ các hành vi đã được thực hiện.
Ví dụ: Một người chế tạo vũ khí quân dụng rồi tàng trữ và đưa ra sử dụng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “chế tạo, tàng trữ và sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
b) Nếu người phạm tội thực hiện nhiều hành vi độc lập đối với các đối tượng độc lập khác nhau thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về nhiều tội độc lập với từng hành vi độc lập đã được thực hiện.
Ví dụ: Một người tàng trữ 02 khẩu súng quân dụng và mua 05 quả lựu đạn thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” và tội “mua bán trái phép vũ khí quân dụng”.
5. Trường hợp một người biết là vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ giả nhưng làm cho người khác tưởng là vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ thật nên mua bán, trao đổi… thì không truy cứu trách nhiệm hình sự theo các điều 304, 305, 306 của Bộ luật Hình sự mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 174 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
6. Người nào đã tàng trữ, vận chuyển vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ một thời gian, sau đó giao nộp theo vận động của chính quyền địa phương thì tùy trường hợp cụ thể xử lý như sau:
a) Trường hợp người đã tàng trữ, vận chuyển vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ theo quy định Điều 63 và Điều 67 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Trường hợp chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật hình sự khác, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự tương ứng với hành vi phạm tội, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
7. Thiệt hại do hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự quy định tại Điều 304 của Bộ luật Hình sự gây ra không bao gồm giá trị của vật phạm pháp. Trường hợp người phạm tội vừa chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự có giá trị vừa gây thiệt hại về tài sản mà giá trị của vật phạm pháp, thiệt hại về tài sản đều trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự thì xử lý như sau:
a) Nếu giá trị của vật phạm pháp, thiệt hại về tài sản đều thuộc khung hình phạt cơ bản thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt cơ bản;
b) Nếu giá trị của vật phạm pháp, thiệt hại về tài sản đều thuộc các khung hình phạt khác nhau thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt cao hơn;
c) Nếu giá trị của vật phạm pháp, thiệt hại về tài sản cùng một khung hình phạt tăng nặng thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo cả 02 tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự.
8. Xử lý hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt bom, mìn sót lại sau chiến tranh như sau:
a) Nếu bom, mìn chưa bị tháo rời các bộ phận (ngòi nổ, thuốc nổ), kết quả giám định kết luận còn nguyên tính năng, tác dụng của vũ khí quân dụng thì xác định là tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo Điều 304 của Bộ luật Hình sự;
b) Nếu bom, mìn đã bị tháo rời các bộ phận (ngòi nổ, thuốc nổ), kết quả giám định kết luận thuốc nổ, ngòi nổ vẫn còn tính năng, tác dụng của vật liệu nổ thì xác định là tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ theo Điều 305 của Bộ luật Hình sự.
9. Trường hợp người chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt thuốc nổ, phụ kiện nổ, đạn bộ binh, dây cháy chậm, dây nổ với số lượng hoặc giá trị nhỏ, tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc được xử lý bằng các biện pháp khác.
3. Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an quy định chi tiết một số điểu của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
Điều 6. Danh mục vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ, dao có tính sát thương cao
1. Ban hành kèm theo Thông tư này phụ lục danh mục vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ, dao có tính sát thương cao, bao gồm:
a) Phụ lục 1: Danh mục vũ khí quân dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ;
Tải về
Phụ lục 1 (Ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Công an)
4. Công văn 989/VKSTC-V1 2021 ngày 17/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn nghiệp vụ áp dụng Điều 304 và Điều 305 BLHS
1. Đối với một số vướng mắc chung
Khoản 1 các điều 304, 305 BLHS không quy định mức tối thiểu vật phạm pháp; tại các khoản 2, 3, 4 các điều 304, 305 BLHS không quy định cụ thể vật phạm pháp, như: Điều 304 BLHS quy định “Vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc có giá trị lớn” (điểm g khoản 2), “Vật phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc có giá trị rất lớn” (điểm d khoản 3), “vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn hoặc có giá trị đặc biệt lớn” (điểm d khoản 4) hoặc tại Điều 305 BLHS quy định “Các loại phụ kiện nổ có số lượng lớn” (điểm c khoản 2), “Các loại phụ kiện nổ có số lượng rất lớn” (điểm b khoản 3), “Các loại phụ kiện nổ có số lượng đặc biệt lớn” (điểm b khoản 4) nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng các điều luật trên, dẫn đến việc nhận thức, áp dụng pháp luật chưa thống nhất.
Để áp dụng pháp luật thống nhất, căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản kiến nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng.
Trong khi chờ hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, đối với các trường hợp cụ thể, Viện kiểm sát địa phương cần đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, động cơ, mục đích và nhân thân người phạm tội, yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của địa phương, những tình tiết khác có liên quan để quyết định xử lý; trường hợp có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về đường lối giải quyết, cần tổ chức họp liên ngành tố tụng hoặc báo cáo thỉnh thị liên ngành tố tụng Trung ương để bảo đảm không làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm.
2. Đối với một số vướng mắc cụ thể
Trên cơ sở tổng hợp vướng mắc của Viện kiểm sát địa phương, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề cụ thể sau:
2.1. Trường hợp tàng trữ quả lựu đạn (mô hình) nhưng lại lầm tưởng đó là quả lựu đạn thật thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” không?.
Trường hợp trên cần trưng cầu giám định, nếu kết luận không phải là vũ khí quân dụng thì không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
2.2. Trường hợp đã tàng trữ vũ khí quân dụng một thời gian, sau đó giao nộp theo vận động của chính quyền địa phương thì có bị xử lý hình sự về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” không?
Tùy trường hợp cụ thể để quyết định xử lý cho phù hợp; căn cứ các điều 63, 67 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, trường hợp giao nộp vũ khí quân dụng theo vận động của chính quyền địa phương thì không bị xử lý hình sự về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, trừ trường hợp người tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng hoặc hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng đó liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật khác, cần thiết phải xử lý hình sự.
2.3. Đối tượng tàng trữ nhiều loại vật liệu nổ khác nhau, trong đó có 01 loại đã đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 305 BLHS, các loại vật liệu nổ khác số lượng, trọng lượng mỗi loại đều dưới khoản 2 Điều 305 BLHS thì truy cứu trách nhiệm hình sự như thế nào?
Trường hợp này vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 305 BLHS.
2.4. Hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt bom, mìn sót lại sau chiến tranh thì xác định là tội phạm liên quan đến vũ khí quân dụng hay tội phạm liên quan đến vật liệu nổ?
Trường hợp bom, mìn chưa bị tháo rời các bộ phận (ngòi nổ, thuốc nổ), kết quả giám định kết luận còn nguyên tính năng, tác dụng của vũ khí quân dụng thì xác định là tội phạm liên quan đến vũ khí quân dụng quy định tại Điều 304 BLHS.
Trường hợp bom, mìn đã bị tháo rời thuốc nổ, ngòi nổ, kết quả giám định kết luận thuốc nổ, ngòi nổ vẫn còn tính năng, tác dụng của vật liệu nổ thì xác định là tội phạm liên quan đến vật liệu nổ quy định tại Điều 305 BLHS.
2.5. Đối tượng tàng trữ 01 khẩu súng, sau đó mang đi bán bị bắt giữ thì xác định tội danh như thế nào?
Trường hợp tàng trữ 01 khẩu súng, sau đó mang đi bán bị bắt giữ, nếu giám định kết luận khẩu súng là vũ khí quân dụng, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”.
2.6. “Đầu đạn”, “đầu ngòi nổ đạn” có được coi là đạn không?
Trường hợp này cần phải trưng cầu giám định cơ quan chuyên môn để kết luận.
2.7. Đối tượng bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện khởi tố về 02 tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”. Theo quy định của pháp luật, tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra. Vậy trường hợp này có phải tách và chuyển vụ án “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” về Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh để điều tra theo thẩm quyền không?
Theo quy định tại Điều 17 Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự thì tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” quy định tại Điều 305 BLHS thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh, nếu việc tách vụ án không ảnh hưởng đến việc điều tra, truy tố, xét xử thì tách vụ “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” để chuyển cho Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Trường hợp không thể tách vụ án thì căn cứ Điều 17, 20, 21 Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự; điểm đ, khoản 6 Điều 9 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 hướng dẫn về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đó cần trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát cùng cấp để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan An ninh điều tra cấp tỉnh tiến hành điều tra.
2.8. Quá trình điều tra về hành vi “Mua bán trái phép vũ khí quân dụng” (01 khẩu súng Rulo) còn phát hiện bị can còn có hành vi tàng trữ trái phép 50 viên đạn quân dụng. Trong trường hợp này, về thủ tục tố tụng, cần ra Quyết định khởi tố bổ sung vụ án, bị can về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” hay ra Quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án, bị can?
Trong trường hợp này, hành vi tàng trữ 50 viên đạn quân dụng của bị can đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập là tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 156 và Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự, ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
5. Công văn số 01/TANDTC-PC ngày 05/1/2026 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự
1. Về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác
1.1. Về thời điểm truy cứu trách nhiệm hình sự
Theo quy định tại điểm d khoản 2 và khoản 6 Điều 2 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 thì dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành được sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật là vũ khí quân dụng. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2025.
Ngày 15/11/2024, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 75/2024/TT-BCA quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, trong đó Phụ lục số 05 đã xác định danh mục dao có tính sát thương cao. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2025.
Do vậy, kể từ ngày 01/01/2025, người thực hiện hành vi phạm tội sử dụng dao có tính sát thương cao xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304) và tội phạm tương ứng xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người theo quy định của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
1.2. Về hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
a) Người thực hiện hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới 11% và không có tình tiết định tội khác quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự quy định tại Điều 304 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp này, xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe là nguyên đơn dân sự. Nếu người thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả thì được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
b) Người thực hiện hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên 11% thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về 02 tội; Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304) và Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134) của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Trường hợp này, không xác định hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao là tình tiết dùng vũ khí để định khung hình phạt đối với trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2, điểm c và d khoản 3, điểm d và đ khoản 4, điểm b khoản 5 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
c) Người thực hiện hành vi chuẩn bị dao có tính sát thương cao nhằm mục đích gây thương tích, tổn hại sức khỏe của người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự quy định tại Điều 304 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
6. Thông báo số 30/TB-VC1-V1 ngày 03/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội rút kinh nghiệm đối với 02 vụ án “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, bị hủy án để xét xử lại; tổng hợp hình phạt lại
Sơ lược nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ ‘Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 là không đúng vì hành vi vi phạm tội ‘Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” không phụ thuộc vào việc bị cáo có sử dụng vũ khí này để gây thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho người khác.
Tải về
7. Thông báo số 747/TB-VKS-P1 ngày 18/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng rút kinh nghiệm đối với vụ án “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”
Sơ lược nội dung: Trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án, Cơ quan điều tra huyện có nhiều vi phạm, thiếu sót trong việc thu thập và bảo quản vật chứng; kiểm tra, đánh giá chứng cứ; và chuyển giao tài liệu để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án nhưng Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án không phát hiện.
Tải về
8. Thông báo số 62/TB-VC2-V1 ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Đỗ T H cùng đồng phạm, phạm tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”
Sơ lược nội dung: Bị cáo Nguyễn H Đ là người “từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” phạm tội ít nghiêm trọng, cho nên phải coi bị cáo Nguyễn H Đ là không có án tích. Tại bản Kết luận điều tra, Cáo trạng, đề ngị của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh đều xác định bị cáo Nguyễn H Đ có án tích, thuộc trường hợp “Tái phạm” là chưa áp dụng đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự.
Tải về
9. Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2023/HS-ST ngày 06/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Sơ lược nội dung: Ngày 26/6/2021 Trịnh Xuân D có gửi cho A hình ảnh cánh tay (có hình xăm) cầm khẩu súng qua ứng dụng chat messenger kèm dòng tin nhắn “Đang chưa dùng”, “Nói là làm”. A nhận ra cánh tay có hình xăm giống cánh tay của Trịnh Xuân D. Theo như A đánh giá hình ảnh cánh tay cầm khẩu súng là D tự dùng điện thoại chụp hình ảnh cánh tay D cầm khẩu súng tại phòng trọ tầng 2 số nhà 101 TBT, phường QH, thành phố T, tỉnh T.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận Trịnh Xuân D có hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, hành vi phạm tội của bị cáo được quy định tại Điều 304 BLHS như cáo trạng của VKSND tỉnh T truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Tải về
10. Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang
Sơ lược nội dung: Bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận do thích sưu tầm súng ZP-5 nên bị cáo đã liên hệ đặt mua trên facebook 01 khẩu súng và 06 viên đạn, được shipper giao hàng đến nhà. Sau khi nhận được súng và đạn bị cáo đem bắn thử hết đạn, còn lại 06 vỏ đạn kẹt trong ổ xoay, bị cáo đem súng cất phía sau nhà. Cách mấy tháng sau, bị cáo tiếp tục mua trên trang bán hàng điện tử Lazada 01 trục con lăn, mua trên Shopee mua 01 khẩu súng đồ chơi nguy hiểm hiệu Sky Marshal, có 10 viên đạn xốp, bị cáo cũng bắn thử không gây tiếng nổ. Bị cáo mang trục con lăn và khẩu súng đồ chơi đến nhà của H mượn máy cắt, máy mài để chế tạo lại súng theo hướng dẫn trên mạng. Bị cáo đã chế tạo lại nòng súng, siêu khế, kim hỏa trên súng đồ chơi đã mua, rồi mang đi cất giấu cùng với khẩu súng mua trước đó. Do có mâu thuẫn với anh bị cáo nên bị cáo có cầm khẩu chẩu súng ZP-5 rượt và dọa bắn nên bị Công an mời làm việc và giao nộp cả hai khẩu súng.
Tải về
11. Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2025/HS-ST ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
Sơ lược nội dung: Vào khoảng tháng 5/2024, Trần Văn H nhặt được 01 khẩu súng hơi bắn đạn cỡ 6,5mm thuộc vũ khí quân dụng tại khu vực cánh đồng thuộc xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh rồi đưa về cất giấu trái phép tại nhà bà Hoàng Thị L1 nhằm mục đích sử dụng để bắn chim. Trần Văn H lên mạng internet tìm hiểu cách sử dụng khẩu súng, đặt mua đạn và nhiều lần đưa khẩu súng ra sử dụng. Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 10/02/2025, Trần Văn H đã sử dụng khẩu súng quân dụng nói trên kể vào của số nhà bà Hoàng Thị L1 bắn 02 phát đạn vào một con chim đậu trên cây chanh nhà ông Phùng Văn C2 nhưng không trúng vào con chim mà 01 viên đạn vào nhà ông C2 trúng vào mạn sườn phía sau bên trái, xuyên trúng anh Phùng Văn P đang ngồi tại bàn làm việc trong phòng ngủ của anh P. Hậu quả, anh Phùng Văn P tử vong trên đường đi cấp cứu do mất máu cấp. Cáo trạng số 52/CT-VKSHT-P1, ngày 02 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 304 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tải về
Các tổng hợp nội dung có liên quan:
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội Giết người
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội Cố ý gây thương tích
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội Gây rối trật tự công cộng
—————————————————–
CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)
– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
– Điện thoại: 0941.767.076
– Email: amilawfirmdn@gmail.com
– Website: https://amilawfirm.com/
– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm







