Trang chủ / Tài liệu / TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN TỘI BUÔN LẬU

TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN TỘI BUÔN LẬU

Trong các hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, hành vi buôn lậu vẫn diễn biến phức tạp, với tính chất, quy mô và thủ đoạn ngày càng tinh vi. Bộ luật Hình sự tiếp tục quy định tội “Buôn lậu” tại Điều 188 BLHS, với nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng liên quan đến cấu thành tội phạm, dấu hiệu định tội cũng như các tình tiết định khung hình phạt. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn áp dụng pháp luật có liên quan, qua đó tạo lập trục tham chiếu thống nhất phục vụ cho nghiên cứu và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự.

MỤC LỤC

1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Điều 188Tội buôn lậu

1. Người nào buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái quy định của pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 248, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này;

b) Di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

d) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Vật phạm pháp là bảo vật quốc gia;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

h) Phạm tội 02 lần trở lên;

i) Tái phạm nguy hiểm.

 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:

a) Vật phạm pháp trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

 

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên;

c) Lợi dụng chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác.

 

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

 

6. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Pháp nhân thương mại thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa mà đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản này, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này, thì bị phạt tiền từ 7.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng hoặc bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

đ) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

e) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.


2. Nghị quyết 03/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 324 của Bộ luật Hình sự về tội rửa tiền do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành

Điều 3. Tội phạm nguồn

1. Tội phạm nguồn là tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự và tài sản có được từ tội phạm đó trở thành đối tượng của tội rửa tiền (ví dụ: Tội giết người; Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Tội mua bán người; Tội mua bán người dưới 16 tuổi; Tội cướp tài sản; Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; Tội trộm cắp tài sản; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Tội buôn lậu; Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm; Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Tội trốn thuế; Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả; Tội thao túng thị trường chứng khoán; Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan; Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã; Tội gây ô nhiễm môi trường; Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Tội vận chuyển trái phép chất ma túy; Tội mua bán trái phép chất ma túy; Tội chiếm đoạt chất ma túy; Tội khủng bố; Tội tài trợ khủng bố; Tội bắt cóc con tin; Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; Tội đánh bạc; Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc; Tội tham ô tài sản; Tội nhận hối lộ; Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản…). Hành vi phạm tội nguồn có thể do công dân Việt Nam, pháp nhân thương mại Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam thực hiện trong hoặc ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cũng được coi là tội phạm nguồn đối với hành vi phạm tội thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do công dân nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài thực hiện mà theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam, pháp luật của quốc gia, vùng lãnh thổ sở tại quy định là tội phạm.

 

2. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội rửa tiền có thể được tiến hành đồng thời với việc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm nguồn và không loại trừ việc truy cứu trách nhiệm hình sự tội phạm nguồn.


3. Nghị quyết 04/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi liên quan đến khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép thủy sản do Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành

Điều 10. Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép thủy sản, dùng thủ đoạn gian dối mua, bán thủy sản

1. Người nào buôn bán thủy sản qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại mà không có giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản hoặc không đúng với nội dung giấy phép thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn lậu quy định tại Điều 188 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

 

2. Người nào vận chuyển thủy sản qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc vào vùng biển Việt Nam nhưng không có giấy phép, không đúng với nội dung giấy phép, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới quy định tại Điều 189 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

 

3. Người nào dùng thủ đoạn gian dối như hợp thức hóa hồ sơ, chứng từ, nguồn gốc thủy sản khai thác trái phép để mua, bán thì bị truy cứu trách nhiệm về tội lừa dối khách hàng quy định tại Điều 198 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Ví dụ: Nguyễn Văn A đánh bắt trái phép cá ngừ tại vùng biển Việt Nam nhưng làm hồ sơ, hợp thức hóa số cá ngừ nêu trên có nguồn gốc xuất xứ từ nước B để xuất khẩu đi nước C. Trường hợp này, Nguyễn Văn A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa dối khách hàng quy định tại Điều 198 của Bộ luật Hình sự.


4. Thông tư số 07/2017/TT-BTC ngày 24/01/2017 của Bộ tài chính hướng dẫn khoản 2 Điều 9 Quyết định số 20/2016/QĐ-TTG ngày 11 tháng 5 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ quy định hỗ trợ kinh phí cho hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và thanh toán chi phí quản lý, xử lý tài sản bị tịch thu theo quy định pháp luật trong lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả áp dụng trong lĩnh vực tài chính

Điều 3. Các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan

Các hành vi được coi là hành vi buôn lậu, gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan để làm cơ sở thực hiện việc hỗ trợ kinh phí theo Quyết định số 20/2016/QĐ-TTg được xác định theo các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định việc xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan; Nghị định số 45/2016/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 10 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan, bao gồm các hành vi tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.

Tải về

Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư


5. Thông tư liên ngành 11/TTLN năm 1990 về việc xử lý một số loại tội phạm do Toà án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Nội vụ – Bộ Tư pháp ban hành

1. Về việc nhập khẩu trái phép, buôn bán thuốc lá điếu của nước ngoài.

Trong việc xử lý các hành vi nhập khẩu trái phép, buôn bán thuốc lá điếu của nước ngoài nói chung vẫn áp dụng các hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 08-TTLN ngày 18-9-1990 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp. Tuy nhiên, do yêu cầu của tình hình mới, từ nay thống nhất lại một số điểm như sau:

… …

b) Đối với các trường hợp nhập khẩu trái phép, buôn bán thuốc lá điếu của nước ngoài với số lượng từ 500 bao trở lên hoặc dưới 500 bao, nhưng đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, tái phạm, thực hiện nhiều lần, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp hoặc kèm theo việc chống người thi hành công vụ khi bị phát hiện hoặc xử lý, thì tuỳ trường hợp cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn lậu qua biên giới, tội vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới (Điều 97 Bộ luật hình sự), tội buôn bán hàng cấm (Điều 166 Bộ luật hình sự) hoặc tội đầu cơ (Điều 165 Bộ luật hình sự nếu thuộc trường hợp đã nêu tại điểm 5 Thông tư liên ngành số 08-TTLN ngày 18-9-1990).

 

2. Việc buôn bán kim loại màu (đồng, chì, nhôm, niken)

Trong việc xử lý những hành vi buôn bán trái phép kim loại màu, cần lưu ý một số điểm sau đây:

a) Hiện nay, kim loại màu được coi là mặt hàng kinh doanh có điều kiện, chỉ những tổ chức, cá nhân được Nhà nước cho phép mới được kinh doanh.

b) Mọi trường hợp buôn bán kim loại màu ở các tỉnh biên giới, cũng như ở các địa phương không có biên giới với nước ngoài, nhằm bán trái phép qua biên giới đều bị coi là buôn lậu qua biên giới.

c) Đối với các trường hợp buôn lậu kim loại màu qua biên giới với số lượng dưới 50kg thì chưa coi là phạm tội, nhưng phải xử phạt hành chính.

d) Đối với các trường hợp buôn lậu kim loại màu qua biên giới với số lượng từ 50kg trở lên hoặc dưới 50kg nhưng đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, tái phạm, thực hiện nhiều lần, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp hoặc kèm theo việc chống người thi hành công vụ khi bị phát hiện hoặc xử lý thì truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn lậu qua biên giới theo Điều 97 Bộ Luật Hình sự.

đ) Đối với các trường hợp buôn lậu kim loại màu qua biên giới với số lượng từ 150kg đến dưới 450kg thì phải coi là phạm tội trong trường hợp “vật phạm pháp có số lượng lớn” (khoản 2 Điều 97 Bộ Luật Hình sự); nếu số lượng hàng phạm pháp là từ 450kg trở lên thì phải coi là “phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng” (khoản 3 Điều 97 Bộ Luật Hình sự).

e) Đối với các trường hợp buôn bán kim loại màu không nhằm bán trái phép qua biên giới thì không coi là buôn lậu qua biên giới và tuỳ trường hợp cụ thể mà xử lý như sau:

– Nếu buôn bán các loại dây điện, dây thông tin liên lạc… do người khác phạm tội mà có, thì xử lý về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Điều 201 Bộ Luật Hình sự.

– Nếu buôn bán trái phép các loại kim loại màu không phải do người khác phạm tội mà có, thì xử lý về tội kinh doanh trái phép theo Điều 168 Bộ Luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hành vi buôn lậu kim loại màu qua biên giới, các cơ quan tiến hành tố tụng cần quan tâm truy tìm những người đã huỷ hoại dây điện, dây thông tin liên lạc, vũ khí, công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; phương tiện kỹ thuật quân sự hoặc các loại tài sản xã hội chủ nghĩa khác để lấy kim loại.

g) Đối với các trường hợp huỷ hoại dây điện, dây thông tin liên lạc hoặc công trình phương tiện quan trọng khác về an ninh quốc gia, huỷ hoại vũ khí, phương tiện kỹ thuật quận sự hoặc các loại tài sản xã hội chủ nghĩa khác để lấy kim loại nhằm bán trái phép qua biên giới, thì tuỳ trường hợp cụ thể mà xử lý về tội phá huỷ công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 94 Bộ Luật Hình sự) hoặc tội huỷ hoại vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 269 Bộ Luật Hình sự), tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 138 Bộ Luật Hình sự) và xử lý thêm về tội buôn lậu qua biên giới; nếu không có mục đích bán trái phép qua biên giới thì không xử lý thêm về tội buôn lậu qua biên giới.

… …

6. Về việc buôn lậu qua biên giới các chất ma tuý

Đối với các trường hợp sản xuất, tàng trữ, mua bán các chất ma tuý nhằm bán trái phép qua biên giới thì truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất, mua bán, tàng trữ các chất ma tuý (Điều 96a Bộ Luật Hình sự) và tội buôn lậu qua biên giới (Điều 97 Bộ Luật Hình sự); nếu có kèm theo việc xuất cảnh trái phép thì còn bị xử lý thêm về tội xuất cảnh trái phép (Điều 89 Bộ Luật Hình sự).

 

7. Về việc xử lý phương tiện giao thông vận tải được dùng vào việc mua bán vận chuyển các chất ma tuý, buôn lậu qua biên giới, đầu cơ, buôn bán hàng cấm, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Theo Điều 33 Bộ luật hình sự thì Toà án có thể tịch thu vật và tiền bạc đã được dùng vào việc thực hiện tội phạm. Theo tinh thần của Chỉ thị số 308-CT ngày 10-11-1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về một số chủ trương và biện pháp tăng cường chống buôn lậu thì một số loại phương tiện giao thông vận tải được dùng vào việc buôn lậu qua biên giới có thể bị tịch thu, trong trường hợp không tịch thu thì phạt tiền.

Về vấn đề này cần lưu ý như sau:

– Mọi phương tiện giao thông vận tải của tư nhân, của tổ chức tư nhân, của tổ chức kinh tế dù thuộc bất cứ thành phần kinh tế nào, mà được chủ sở hữu dùng vào việc mua bán, vận chuyển các chất ma tuý, buôn lậu qua biên giới, đầu cơ, buôn bán hàng cấm, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, đều phải bị tịch thu theo Điều 33 Bộ Luật Hình sự.


6. Thông tư liên ngành số 05/TTLN của Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Hướng dẫn về việc áp dụng pháp luật đối với các hành vi buôn bán trái phép, vận chuyển trái phép chất ma tuý qua biên giới

Theo hướng dẫn tại điểm 7 Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 20-3-1993 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự” thì những người buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hoá là chất ma tuý bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới theo Điều 79 mà không bị truy cứu thêm về tội phạm quy định tại Điều 96a như đã hướng dẫn trước đó. Sau một thời gian thực hiện hướng dẫn nói trên, thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử cho thấy đối với các hành vi buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hoá là các chất ma tuý thì tội danh buôn bán hoặc vận chuyển trái phép chất ma tuý theo điều 96a Bộ luật Hình sự là sát đúng hơn và đề cao hơn ý nghĩa của cuộc đấu tranh chống loại tội phạm này. Vì vậy, từ nay trở đi đối với mọi hành vi mua bán trái phép vận chuyển trái phép qua biên giới chất ma tuý chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 96a của Bộ luật Hình sự. Trong trường hợp việc buôn bán trái phép, vận chuyển trái phép qua biên giới các chất ma tuý có kèm theo hành vi xuất cảnh trái phép thì kẻ phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội xuất cảnh trái phép theo Điều 98 Bộ luật Hình sự.

Hướng dẫn trên đây thay thế hướng dẫn về hành vi buôn bán trái phép, vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hoá là chất ma tuý tại Điểm 7 Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 20-3-1993.


7. Công văn số 3057/VKSTC-V3 ngày 11/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc trả lời thỉnh thị vụ án buôn lậu sừng tê giác tại Tây Ninh

Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ 3) nhận được Công văn số 499/VKS-P3 ngày 03/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh thỉnh thị vụ án buôn lậu sừng tê giác với nội dung: ngày 01/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh nhận được Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Cao Xuân Vinh, Hồ Văn Viết và Nguyễn Đức Nam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tây Ninh đề nghị phê chuẩn về tội Buôn lậu theo quy định tại Điều 153 Bộ luật hình sự. Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh thể hiện: ngày 20/7/2017, Cao Xuân Vinh bàn bạc, thống nhất với Hồ Văn Viết và Nguyễn Đức Nam sang Campuchia mua sừng tê giác đem về Việt Nam bán lại kiếm lời. Cụ thể, Vinh và Viết sẽ qua Campuchia mua sừng tê giác và thuê người vận chuyển về huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Nam sẽ điều khiển xe ô tô vận chuyển sừng tê giác từ huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh về thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 21/7/2017, Vinh, Viết sang Campuchia mua 10 đoạn sừng tê giác với giá 18.000 USD của một người Campuchia, đồng thời thuê người vận chuyển về Việt Nam với giá 2.000 USD. Ngày 22/7/2017, Nam sang Campuchia gặp Vinh, Viết định xem sừng tê giác nhưng Vĩnh đã thuê người đàn ông Campuchia vận chuyển về Việt Nam nên cả ba đón xe ôm về thành phố Hồ Chí Minh. Đến 19 giờ cùng ngày, người đàn ông Campuchia điện thoại nói đã chuyển sừng tê giác đến khu vực huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh nên Nam điều khiển xe ô tô chở Vĩnh, Viết đến huyện Gò Dầu nhận sừng tê giác. Khi cả ba nhận xong quay lại trên đường về đến ấp An Bình, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh thì bị Công an tỉnh Tây Ninh kiểm tra bắt quả tang cùng tang vật. Kết luận giám định xác định: 10 mẫu sừng tê giác thu giữ có tổng trọng lượng 5.184,47g là sừng loài tê giác 02 sừng có nguồn gốc từ Châu Phi (Diceros bicornis). Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là: hành vi do 03 bị can thực hiện có dấu hiệu của tội Buôn lậu theo Điều 153 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, theo điều luật để thỏa mãn dấu hiệu của tội phạm này cần làm rõ hàng cấm giá trị bao nhiêu và định lượng để xem là “số lượng lớn”. Trong khi đó, chưa có văn bản nào hướng dẫn thế nào là “số lượng lớn”, cũng như thực tế không thể định giá trị đối với mặt hàng là hàng cấm. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh thỉnh thị Viện kiểm sát nhân dân tối cao để chỉ đạo giải quyết vụ án. Sau khi nghiên cứu, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ 3) nhận thấy:

 

1. Theo Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 thì tội Buôn lậu (Điều 188); tội Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189) đã loại trừ tình tiết “hàng cấm có số lượng lớn” trong cấu thành tội phạm cơ bản (theo Bộ luật hình sự năm 1999 thì tình tiết này được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 153 và Điều 154). Căn cứ Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 thì các quy định có lợi cho người phạm tội được áp dụng ngay kể từ khi luật công bố. Do đó, không được áp dụng tình tiết “hàng cấm có số lượng lớn” với hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới theo Điều 153, Điều 154 Bộ luật hình sự năm 1999. Như vậy, việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tây Ninh như nội dung thỉnh thị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là không đúng pháp luật.


8. Thông báo số 65/TB-VC2-V1 ngày 15/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rúy kinh nghiệm đối với vụ án Huỳnh Tấn Lập và đồng phạm phạm tội “Buôn lậu”

Sơ lược nội dung: Chỉ trong một thời gian ngắn, các bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, giá trị hàng hóa phạm tội rất lớn, lẽ ra cần xử phạt các bị cáo hình phạt thật nghiêm khắc. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm quá trú trọng vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, từ đó xử phạt Huỳnh Tấn Lập 07 năm tù (mức thấp nhất của khung hình phạt nhẹ hơn liền kề); xử phạt Kim Chong và Kim Myeong Cheon, mỗi bị cáo 03 năm tù (mức thấp nhất của khung hình phạt nhẹ hơn liền kề) là nhẹ hơn, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo.

Tải về

Thông báo số 65/TB-VC2-V1


9. Bản án hình sự phúc thẩm số 201/2025/HS-PT ngày 04/11/2025 của Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng

Sơ lược nội dung: Lê Nguyên T (Giám đốc Công ty TNHH T5) nhận ủy thác nhập khẩu gạch ốp lát từ Trung Quốc cho Công ty TNHH V. Khi làm thủ tục hải quan, T đã khai gian số lượng hàng hóa (chỉ khai 679,8 m² thay vì thực tế 2.646,87 m²) nhằm trốn thuế, phần hàng khai thiếu có giá trị hơn 1,4 tỷ đồng. Hải quan kiểm tra phát hiện hành vi vi phạm. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt 12 năm tù về tội Buôn lậu, phạt bổ sung 20 triệu đồng và tịch thu số gạch khai gian. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ, Công ty TNHH V yêu cầu trả lại toàn bộ số gạch. Tòa phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức án 12 năm tù và quyết định xử lý vật chứng.

Tải về

Bản án số 201/2025/HS-PT


10. Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2023/HS-ST ngày 14/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng

Sơ lược nội dung: Ba bị cáo Hứa Văn N, Lương Văn S và Cam Văn H đã bàn bạc mua 08 con trâu (trị giá hơn 111 triệu đồng) nhằm dắt qua biên giới bán cho người Trung Quốc để kiếm lời. Khi đang đưa trâu ra khu vực gần biên giới thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Buôn lậu” theo khoản 1 Điều 188 BLHS. Tòa án xác định hành vi đủ yếu tố cấu thành tội buôn lậu, các bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo và có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

Xét xử: Hứa Văn N: phạt tiền 60 triệu đồng; Lương Văn S: 7 tháng tù cho hưởng án treo (thử thách 14 tháng); Cam Văn H: 6 tháng tù cho hưởng án treo (thử thách 12 tháng). Tòa án tịch thu sung công số tiền 72 triệu đồng và các điện thoại dùng liên lạc phạm tội; miễn án phí cho S và H, buộc N chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm.

Tải về

Bản án số 27/2023/HS-ST


11. Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Sơ lược nội dung: Trương Ngọc L tham gia thành lập Công ty TNHH S để nhập khẩu 1.300 bộ lò nướng thủy tinh nguyên chiếc từ nước ngoài nhưng khi làm thủ tục hải quan lại khai báo là linh kiện rời nhằm tránh việc kiểm tra chất lượng theo quy định. Tổng trị giá lô hàng được xác định là 414,7 triệu đồng. Cơ quan chức năng phát hiện hành vi khai gian, khởi tố bị cáo về tội “Buôn lậu” theo điểm c khoản 2 Điều 188 BLHS. Tòa án nhận định bị cáo phạm tội với động cơ vụ lợi, nhưng có tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và có vai trò giúp sức. Tuyên phạt 04 năm tù, tịch thu 1.300 lò nướng thủy tinh sung công quỹ nhà nước, trả lại điện thoại cho bị cáo và buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm.

Tải về

Bản án số 78/2024/HS-ST


12. Bản án hình sự phúc thẩm số 153/2025/HS-PT ngày 11/03/2025 về Tội buôn lậu tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Sơ lược nội dung: Các bị cáo là giám đốc doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đã mua xăng Ron 95 nhập lậu từ kho trung gian rồi đưa ra thị trường tiêu thụ, thu lợi bất chính với giá trị hàng hóa rất lớn. Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên các bị cáo phạm tội Buôn lậu (Điều 188 BLHS 2015), xử phạt từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm 6 tháng tù và phạt bổ sung tiền. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc xin hưởng án treo/phạt tiền. Tòa phúc thẩm nhận định hành vi phạm tội nghiêm trọng, mức án sơ thẩm đã áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có căn cứ giảm thêm

Tải về

Bản án số 153/2025/HS-PT


13. Bản án hình sự phúc thẩm số 550/2022/HS-PT ngày 15/08/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

Sơ lược nội dung: Các bị cáo tổ chức nhập lậu số lượng lớn thuốc bắc và hoa quả khô từ Trung Quốc vào Việt Nam, khai báo gian dối để thông quan rồi tiêu thụ trong nước, thu lợi bất chính hàng chục tỷ đồng. Tòa sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo từ 3 năm đến 12 năm tù về tội Buôn lậu, đồng thời phạt tiền và truy thu số tiền thu lợi bất chính. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Kết quả phúc thẩm: Tòa chấp nhận một phần kháng cáo, giảm án cho hai bị cáo chính từ 12 năm xuống 8 năm tù; một bị cáo được giữ mức 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm được giữ nguyên.

Tải về

Bản án số 550/2022/HS-PT


Các tổng hợp nội dung có liên quan:

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

 

Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

 

Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội trốn thuế

 

Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

—————————

CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)

– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

– Điện thoại: 0941.767.076

– Email: amilawfirmdn@gmail.com

– Website: https://amilawfirm.com/

– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm

Bài viết liên quan