Trang chủ / Hình sự / TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC GÂY THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ

TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC GÂY THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ

Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước, gây thất thoát, lãng phí và đặc biệt gây ra dư luận xấu trong nhân dân. Hành vi này thường gắn với việc quản lý, sử dụng không đúng quy định, thiếu trách nhiệm hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản công. Việc áp dụng pháp luật đòi hỏi xác định rõ hành vi vi phạm, trách nhiệm quản lý của chủ thể và thiệt hại thực tế xảy ra. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.

 

1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Điều 219. Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí

1. Người nào được giao quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước mà vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản, gây thất thoát, lãng phí từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm:

a) Vì vụ lợi;

b) Có tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

d) Gây thất thoát, lãng phí từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

3. Phạm tội gây thất thoát, lãng phí1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

 

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.


2. Thông tư 11/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP-BTC-BCT-BXD-BNN&MT-KTNN-TTCP ngày 10/12/2025 hướng dẫn việc xác định lãng phí để áp dụng trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm liên quan đến lãng phí theo quy định của Bộ luật Hình sự

Điều 3. Nguyên tắc phối hợp, thực hiện

1. Tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Hình sự, quy định khác của pháp luật có liên quan và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2. Bảo đảm khách quan, thận trọng, chặt chẽ, thống nhất trong việc xác định lãng phí.

3. Bảo đảm bí mật nhà nước, bí mật công tác, bảo mật thông tin trong quá trình xác định lãng phí.

4. Trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, nếu xác định có dấu hiệu quy định tại các điều 5, 6, 7, 8 và 9 của Thông tư liên tịch này, các hành vi vi phạm khác theo quy định pháp luật hoặc theo kết luận của thanh tra, kiểm toán, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc cơ quan chuyên môn có liên quan xác định gây lãng phí hoặc có khả năng gây lãng phí thì cơ quan, người tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ việc, vụ án chủ trì phối hợp với các cơ quan tố tụng, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chuyên môn có liên quan để xác định hậu quả lãng phí.

5. Quá trình xem xét, xử lý đối với các dấu hiệu vi phạm về lãng phí được quy định tại các điều 5, 6, 7, 8 và 9 của Thông tư liên tịch này, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải căn cứ yếu tố như lỗi, mục đích vụ lợi, động cơ cá nhân, nguyên nhân, điều kiện xảy ra hành vi vi phạm để xem xét miễn trách nhiệm hình sự, khoan hồng đặc biệt và các chính sách có lợi khác cho người thực hiện hành vi vi phạm theo quy định.

 

Điều 4. Nguồn thông tin, tài liệu xác định lãng phí

Việc xác định lãng phí để áp dụng trong giải quyết vụ việc, vụ án hình sự đối với các tội phạm liên quan đến lãng phí được thực hiện trên cơ sở nguồn thông tin, tài liệu sau:

1. Qua chứng cứ, tài liệu của vụ việc, vụ án được cơ quan, người tiến hành tố tụng thu thập, đánh giá;

2. Qua kết luận giám định, định giá tài sản;

3. Qua việc lấy ý kiến của cơ quan chuyên môn; kết luận của thanh tra, kiểm toán hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

4. Nguồn thông tin, tài liệu khác theo quy định của pháp luật.

 

Điều 5. Dấu hiệu vi phạm trong lãnh đạo, chỉ đạo việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công có khả năng gây lãng phí

Việc xác định hậu quả lãng phí trong lãnh đạo, chỉ đạo việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công có thể căn cứ vào một trong các dấu hiệu sau:

1. Chỉ đạo hoặc cho chủ trương thực hiện trái quy định của pháp luật gây lãng phí tài chính công, tài sản công;

2. Thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý để xảy ra lãng phí trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp có tài sản, vốn nhà nước thuộc phạm vi trực tiếp quản lý hoặc được phân công phụ trách;

3. Không xử lý, bao che, dung túng cho tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm gây lãng phí trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công thuộc phạm vi trực tiếp quản lý, phụ trách; chỉ đạo chỉ xử lý nội bộ hoặc xử lý hành chính, kinh tế đối với hành vi vi phạm gây lãng phí có dấu hiệu tội phạm.

 

Điều 6. Dấu hiệu vi phạm trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước có khả năng gây lãng phí

Việc xác định hậu quả lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước có thể căn cứ vào một trong các dấu hiệu sau:

1. Cố ý lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ và giao dự toán ngân sách nhà nước không đúng thẩm quyền, trình tự, nội dung, thời gian, mục đích, đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức, sai chế độ quy định gây lãng phí;

2. Sử dụng ngân sách nhà nước không đúng mục đích, đối tượng đã được phê duyệt, dự toán được giao; vượt tiêu chuẩn, định mức, sai chế độ quy định. Từ chối, trì hoãn việc chi ngân sách khi đã bảo đảm các điều kiện chi theo quy định của pháp luật gây lãng phí;

3. Quyết toán chi ngân sách nhà nước không đúng thời hạn (trừ các nguyên nhân khách quan), thủ tục; sai nội dung, mục đích, đối tượng; vượt tiêu chuẩn, định mức, chế độ quy định gây lãng phí;

4. Quản lý, sử dụng quỹ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước và các quỹ khác được nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật không đúng tôn chỉ, mục đích, quy chế hoạt động và cơ chế tài chính của quỹ gây lãng phí;

5. Thực hiện các khoản vay trái quy định của pháp luật, vượt quá khả năng cân đối của ngân sách nhà nước; sử dụng ngân sách nhà nước để cho vay, tạm ứng, góp vốn trái quy định của pháp luật gây lãng phí.

 

Điều 7. Dấu hiệu vi phạm trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, đầu tư xây dựng, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản công có khả năng gây lãng phí

Việc xác định hậu quả lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, đầu tư xây dựng, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản công có thể căn cứ vào một trong các dấu hiệu sau:

1. Quyết định chủ trương đầu tư hoặc quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư không phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; không xác định được nguồn vốn và khả năng cân đối vốn (trừ dự án không phải quyết định chủ trương đầu tư theo quy định pháp luật); không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật gây lãng phí;

2. Quyết định đầu tư chương trình, dự án khi chưa được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư theo quy định; quyết định đầu tư hoặc quyết định điều chỉnh chương trình, dự án không đúng thẩm quyền, không đúng với các nội dung về mục tiêu, địa điểm, vượt mức vốn đầu tư công trong chủ trương đầu tư đã được cấp có thẩm quyền quyết định gây lãng phí;

3. Thông đồng với tổ chức tư vấn, thẩm định, định giá, nhà thầu dẫn tới quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư gây lãng phí vốn, tài sản của Nhà nước, tài nguyên quốc gia;

4. Đầu tư xây dựng, mua sắm không đúng mục đích, đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức quy định; giao tài sản công cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân không có nhu cầu sử dụng; giao, bán, cho thuê, cho mượn, sử dụng, không sử dụng, xử lý không đúng mục đích tài sản công; sử dụng vốn đầu tư công trái pháp luật gây lãng phí;

5. Cố ý trì hoãn, chậm giải ngân vốn đầu tư công, không quyết toán, chậm quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công gây lãng phí;

6. Thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng tài sản công, vốn đầu tư công gây lãng phí.

 

Điều 8. Dấu hiệu vi phạm trong quản lý, khai thác, sử dụng đất đai và các tài nguyên khác có khả năng gây lãng phí

Việc xác định hậu quả lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng đất đai và các tài nguyên khác có thể căn cứ vào một trong các dấu hiệu sau:

1. Quy hoạch đất đai và quy hoạch các tài nguyên khác không đúng pháp luật gây lãng phí;

2. Gây ô nhiễm, hủy hoại tài nguyên, năng lượng quốc gia gây lãng phí;

3. Giao đất, giao rừng, cho thuê đất, cho thuê rừng, thu hồi đất, thu hồi rừng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, sử dụng rừng không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền, không phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, sử dụng rừng đã được phê duyệt. Giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước; không thực hiện đấu giá, đấu thầu theo quy định đối với trường hợp giao đất, cho thuê đất phải đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư; chậm thực hiện các thủ tục theo quy định để xác định giá đất, dẫn đến chậm hoặc không thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước gây lãng phí;

4. Sử dụng đất không đúng mục đích đã được nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất; đất không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư; không thực hiện đúng thời hạn trả lại đất theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây lãng phí;

5. Cố ý trì hoãn, chậm giải phóng mặt bằng, triển khai thực hiện dự án so với tiến độ đã được phê duyệt; thực hiện dự án, khởi công công trình trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư không đúng quy định gây lãng phí;

6. Quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng nhà ở không phù hợp quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị và nông thôn, chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt gây lãng phí;

7. Cấp phép, thăm dò, khai thác tài nguyên không đúng quy định, thẩm quyền, đối tượng, không phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và kết quả phê duyệt trữ lượng của cơ quan có thẩm quyền; tổ chức hoạt động khoáng sản không đúng với nội dung giấy phép hoạt động khoáng sản đã cấp; khai thác, chế biến tài nguyên gây ô nhiễm và suy thoái nguồn nước, môi trường gây lãng phí.

 

Điều 9. Dấu hiệu vi phạm về quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), vốn của nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, vốn của nhà nước đầu tư ra nước ngoài có khả năng gây lãng phí

Việc xác định hậu quả lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), vốn của nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, vốn của nhà nước đầu tư ra nước ngoài có thể căn cứ vào một trong các dấu hiệu sau:

1. Quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP không phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; không xác định được nguồn vốn nhà nước trong dự án PPP đối với dự án có yêu cầu sử dụng vốn nhà nước; không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục gây lãng phí;

2. Phê duyệt dự án PPP khi chưa có chủ trương đầu tư; không phù hợp với chủ trương đầu tư; không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật gây lãng phí (trừ dự án PPP không thuộc trường hợp phải quyết định chủ trương đầu tư);

3. Quyết định đầu tư vốn của nhà nước vào doanh nghiệp không đúng thẩm quyền, phạm vi, trình tự, thủ tục; quản lý, sử dụng vốn của nhà nước đầu tư ra nước ngoài; đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp nhà nước không đúng mục đích, kém hiệu quả gây lãng phí;

4. Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước trong việc đầu tư, quản lý, sử dụng vốn của nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp gây lãng phí tài sản của nhà nước;

5. Thiếu trách nhiệm trong quản lý tài sản, quản lý nợ của doanh nghiệp có vốn của nhà nước gây lãng phí tài sản của nhà nước;

6. Trích lập, quản lý, sử dụng các quỹ tại doanh nghiệp có vốn của nhà nước không đúng quy định gây lãng phí.

 

Điều 10. Xác định hậu quả lãng phí qua trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản

1. Trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, nếu xác định có dấu hiệu vi phạm có khả năng gây lãng phí thì cơ quan, người tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ việc, vụ án xem xét, quyết định việc trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản để xác định hậu quả lãng phí.

2. Khi quyết định việc trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, cơ quan, người tiến hành tố tụng phải xác định rõ nội dung, lĩnh vực, chuyên ngành cần giám định, tài sản cần định giá; lựa chọn tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện thực hiện giám định, định giá tài sản. Quyết định trưng cầu giám định, văn bản yêu cầu định giá tài sản cần yêu cầu làm rõ các nội dung sau:

a) Việc vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ theo quy định; hậu quả lãng phí cụ thể từ việc vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ;

b) Hiệu quả, mục tiêu trong việc quản lý, sử dụng tài sản công, tài chính công so với hiệu quả, mục tiêu đã đề ra; hậu quả lãng phí cụ thể nếu không đạt hiệu quả, mục tiêu đã định.

3. Trình tự, thủ tục, thời hạn trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản để xác định hậu quả lãng phí được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Giám định tư pháp, pháp luật về định giá tài sản trong tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Trường hợp cần thiết, trước khi ban hành quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, cơ quan, người tiến hành tố tụng phối hợp, trao đổi với cơ quan, tổ chức, cá nhân dự kiến được trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để thống nhất về nội dung, thời hạn giám định, định giá tài sản và vấn đề khác (nếu có).

 

Điều 11. Xác định hậu quả lãng phí không qua trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản

Căn cứ vào vụ việc, vụ án hình sự đang giải quyết, khi thấy không cần thiết phải tiến hành trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản thì cơ quan, người tiến hành tố tụng căn cứ quy định của pháp luật, có thể phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, trao đổi, lấy ý kiến của cơ quan chuyên môn có liên quan để xác định hậu quả lãng phí theo các cách thức như sau:

1. Hậu quả lãng phí bằng số tiền thực tế đã sử dụng vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành;

 

2. Hậu quả lãng phí bằng diện tích thực tế đã xây dựng vượt tiêu chuẩn, định mức, chế độ nhân suất vốn đầu tư.

Ví dụ: Trong quá trình xây dựng Trụ sở Cơ quan B, Chủ đầu tư cố ý xây dựng vượt tiêu chuẩn, định mức trụ sở theo quy định của Chính phủ là 3.000 m2 dẫn đến toàn bộ diện tích 3.000 m2 trên không được đưa vào sử dụng. Suất vốn đầu tư đã được phê duyệt là 15.000.000 đồng/01 m2 .

Trong trường hợp này, hậu quả lãng phí sẽ được tính bằng 3.000 m2 x 15.000.000 đồng/01 m2 = 45.000.000.000 đồng;

 

3. Hậu quả lãng phí bằng số tiền tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định theo quy định trong thời gian tài sản không được đưa vào sử dụng do hành vi cố ý, sai phạm của đơn vị quản lý, sử dụng.

Ví dụ: Cơ quan B (đơn vị sự nghiệp công lập) triển khai thực hiện Trạm dừng nghỉ đã khánh thành kỹ thuật, đưa vào hoạt động vào năm 2023, với nguyên giá của tài sản cố định hình thành từ Dự án đầu tư là 300.000.000.000 đồng. Theo quy định, Cơ quan B phải thực hiện chế độ quản lý, tính hao mòn tài sản đối với Trạm dừng nghỉ với tỷ lệ hao mòn 2,5%/năm. Do lỗi cố ý của Cơ quan B, Trạm dừng nghỉ đã ngừng hoạt động từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2024.

Theo quy định của pháp luật, số tiền tính hao mòn tài sản là 300.000.000.000 đồng x 2,5%/năm = 7.500.000.000 đồng. Đây được xác định là hậu quả lãng phí;

 

4. Hậu quả lãng phí bằng số tiền thực tế từ nguồn vốn nhà nước đã đầu tư xây dựng công trình nhân với trung bình lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thấp nhất của các Ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ trong khoảng thời gian công trình, dự án dừng thi công do lỗi cố ý thực hiện các hành vi sai phạm trong quá trình thực hiện Dự án.

Ví dụ: Dự án đầu tư công của Bộ A có tổng mức đầu tư 10.000.000.000.000 đồng, thời gian thực hiện dự án ban đầu từ năm 2014 đến năm 2017 và được gia hạn đến hết năm 2020. Dự án chưa có hồ sơ thiết kế, chưa lập dự toán, chưa đủ điều kiện để triển khai theo quy định pháp luật nhưng Bộ A đã tổ chức đấu thầu lựa chọn Nhà thầu xây lắp và tiến hành thi công. Tổng số tiền từ nguồn vốn Nhà nước đã giải ngân là 5.000.000.000.000 đồng. Sau đó, Dự án đã ngừng thi công trong khoảng thời gian từ 01/01/2021 đến 31/12/2024 do hành vi sai phạm nêu trên.

Hậu quả lãng phí trong trường hợp này được tính trên cơ sở trung bình lãi suất tiền gửi VNĐ có kỳ hạn 01 tháng của 04 Ngân hàng (Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Agribank) trong khoảng thời gian ngừng thi công từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/12/2024 trên tổng số tiền 5.000.000.000.000 đồng đã giải ngân.

Số tiền lãng phí là 5.000.000.000.000 đồng x 4 năm x 1,5%/năm (trung bình lãi suất tiền gửi VNĐ có kỳ hạn 01 tháng) = 300.000.000.000 đồng;

 

5. Hậu quả lãng phí bằng tổng chi phí đã bỏ ra để thi công, xây dựng và chi phí tháo dỡ, phục hồi hiện trạng ban đầu khi công trình đó không đảm bảo mục tiêu đầu tư do lỗi cố ý, vi phạm của Chủ đầu tư trong quá trình triển khai dự án.

Ví dụ: Ủy ban nhân dân tỉnh X là Chủ đầu tư thực hiện Dự án công trình dẫn nước sạch về bản Y. Do lỗi cố ý vi phạm, gian dối trong quá trình khảo sát thực tế, xây dựng báo cáo kinh tế kỹ thuật của Dự án, sau khi hoàn thành công trình không thể kết nối, đưa nước về bản Y theo mục tiêu đầu tư ban đầu dẫn đến phải tháo bỏ toàn bộ công trình. Tổng số tiền thực tế đã đầu tư vào công trình là 500.000.000 đồng; chi phí tháo dỡ công trình là 200.000.000 đồng.

Hậu quả lãng phí được xác định là tổng số tiền đã đầu tư và chi phí tháo dỡ là 500.000.000 đồng + 200.000.000 đồng = 700.000.000 đồng.

 

Điều 12. Trách nhiệm phối hợp để xác định lãng phí trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án

1. Việc phối hợp giữa các cơ quan, người tiến hành tố tụng để xác định hậu quả lãng phí áp dụng trong giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Thông tư liên tịch này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, Cơ quan điều tra có trách nhiệm thu thập đầy đủ chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử cần thiết theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự để xác định hậu quả lãng phí và chuyển cho Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

3. Trong quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ việc, vụ án, trường hợp cần phối hợp để xác định dấu hiệu vi phạm quy định tại các điều 5, 6, 7, 8 và 9 hoặc xác định hậu quả lãng phí theo quy định tại Điều 11 của Thông tư liên tịch này thì cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ việc, vụ án chủ trì tổ chức họp hoặc trao đổi bằng văn bản với các cơ quan tiến hành tố tụng khác, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, cơ quan chuyên môn có liên quan (nếu thấy cần thiết) để đánh giá việc giải quyết vụ việc, vụ án.

4. Khi có yêu cầu của cơ quan, người tiến hành tố tụng thì Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, cơ quan chuyên môn có liên quan, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phải kịp thời cung cấp thông tin, cơ sở dữ liệu, tiêu chuẩn, định mức và các tài liệu cần thiết khác để làm căn cứ xem xét, xác định hậu quả lãng phí; tham gia có ý kiến theo lĩnh vực chuyên môn, quản lý nhà nước của mình. Trường hợp không cung cấp, cung cấp không đầy đủ hoặc không đúng thời hạn theo yêu cầu của các cơ quan, người tiến hành tố tụng thì phải có văn bản nêu rõ lý do.


3. Nghị định số 63/2019/NĐ-CP ngày 11/7/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc Nhà nước được sửa đổi, bổ sung một số điều bới Nghị định 55/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 09/02/2026

Điều 3. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc Nhà nước quy định tại Nghị định này là 01 năm. Riêng các hành vi vi phạm hành chính đối với tài sản công là nhà, đất và tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý thì thời hiệu xử phạt là 02 năm.

 

2. Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công quy định như sau:

a) Đối với hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm;

b) Đối với hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm;

c) Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về đầu tư, mua sắm tài sản công tại Điều 6 Nghị định này được xác định là hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc trong trường hợp đã thực hiện xong việc đầu tư, mua sắm tài sản và giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng; được xác định là hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện trong các trường hợp còn lại;

d) Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về đi thuê tài sản tại Điều 7 Nghị định này được xác định là hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc trong trường hợp đã thuê tài sản và đưa vào sử dụng; được xác định là hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện trong các trường hợp còn lại;

đ) Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về lấn chiếm trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp tại Điều 11 Nghị định này được xác định như sau:

– Hành vi tổ chức, cá nhân đang sử dụng đất liền kề tự chuyển dịch mốc giới thửa đất để mở rộng diện tích đất hoặc xây dựng công trình lấn chiếm sang không gian phần diện tích đất thuộc khuôn viên trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của cơ quan, tổ chức, đơn vị được xác định là hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc trong trường hợp đã thực hiện mở rộng diện tích đất hoặc xây dựng xong công trình lấn chiếm; được xác định là hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện trong các trường hợp còn lại.

– Hành vi tổ chức, cá nhân tự ý sử dụng nhà, đất thuộc trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của cơ quan, tổ chức, đơn vị xác định là hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện.

e) Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công đang được thực hiện là các hành vi quy định tại các Điều 8, 9, 10, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 20, 21, 22, 23, 24, 25 và 26 Nghị định này.

 

Điều 6. Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về đầu tư, mua sắm tài sản công

1. Phạt tiền đối với hành vi thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản khi không có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền theo các mức phạt sau:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp đầu tư, mua sắm tài sản là máy móc, thiết bị, tài sản khác (trừ trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô) có tổng giá trị một lần mua dưới 100.000.000 đồng;

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp đầu tư, mua sắm tài sản là máy móc, thiết bị, tài sản khác (trừ trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô) có tổng giá trị một lần mua từ 100.000.000 đồng trở lên;

c) Từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp đầu tư, mua sắm tài sản là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô.

 

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện mua sắm tập trung đối với các loại tài sản thuộc danh mục mua sắm tập trung theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.

 

3. Phạt tiền đối với hành vi đầu tư, mua sắm tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định theo các mức phạt sau:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp đầu tư, mua sắm tài sản có giá trị vượt dưới 50.000.000 đồng/01 đơn vị tài sản;

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp đầu tư, mua sắm tài sản có giá trị vượt từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng/01 đơn vị tài sản;

c) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp đầu tư, mua sắm tài sản có giá trị vượt từ 100.000.000 đồng/01 đơn vị tài sản trở lên.

 

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc nộp lại số tiền tương ứng với giá trị tài sản đầu tư, mua sắm vượt tiêu chuẩn, định mức đối với hành vi quy định tại khoản 3 Điều này.

 

5. Việc xác định phần giá trị vượt so với tiêu chuẩn, định mức để làm căn cứ xử phạt được quy định như sau:

a) Trường hợp đầu tư, mua sắm tài sản là xe ô tô, máy móc, thiết bị, tài sản khác vượt về số lượng so với tiêu chuẩn, định mức: Giá trị vượt/01 đơn vị tài sản được xác định bằng đơn giá của tài sản đó theo giá mua ghi trên hóa đơn hoặc hợp đồng mua sắm tài sản;

b) Trường hợp đầu tư, mua sắm tài sản là xe ô tô, máy móc, thiết bị, tài sản khác đúng về số lượng nhưng vượt về mức giá so với tiêu chuẩn, định mức: Giá trị vượt được xác định bằng giá trị của tài sản theo giá mua ghi trên hóa đơn hoặc hợp đồng mua sắm tài sản trừ đi (-) giá trị tài sản theo tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định;

c) Trường hợp đầu tư, mua sắm trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp vượt tiêu chuẩn, định mức: Giá trị vượt được xác định bằng chênh lệch giữa diện tích thực tế trừ đi (-) diện tích được sử dụng theo tiêu chuẩn, định mức nhân với (x) đơn giá mua bình quân theo hóa đơn (hoặc theo hợp đồng mua sắm tài sản);

d) Người có thẩm quyền xử phạt quy định tại Điều 29, Điều 30 Nghị định này xác định giá trị vượt làm căn cứ xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và chịu trách nhiệm về việc xác định đó.

 

Điều 7. Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về đi thuê tài sản

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định về đi thuê tài sản trong trường hợp hợp đồng thuê tài sản có giá trị dưới 100.000.000 đồng đối với các hành vi:

a) Hành vi thực hiện đi thuê tài sản khi không có quyết định về thuê tài sản của cơ quan, người có thẩm quyền;

b) Hành vi đi thuê tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định;

c) Hành vi lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ cho thuê tài sản không đúng hình thức, trình tự theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật có liên quan.

 

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định về thuê tài sản nêu tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hợp đồng thuê tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên.

 

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc nộp lại số tiền đã thuê tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều này.

 

4. Giá trị hợp đồng đi thuê tài sản để làm căn cứ xử phạt được xác định như sau:

a) Trường hợp hợp đồng đi thuê tài sản ghi cụ thể giá trị hợp đồng thì căn cứ xử phạt là giá trị ghi trong hợp đồng;

b) Trường hợp đi thuê tài sản mà không lập thành hợp đồng hoặc có lập hợp đồng nhưng không đủ thông tin để xác định giá trị theo quy định tại khoản a điểm này thì giá trị làm căn cứ xử phạt xác định bằng giá đi thuê của tài sản cùng loại hoặc có tiêu chuẩn, kỹ thuật tương đương trên thị trường tại thời điểm xảy ra vi phạm nhân với (x) thời hạn đi thuê tài sản tính từ thời điểm bắt đầu đi thuê đến thời điểm ra quyết định xử phạt hành chính.

Người có thẩm quyền xử phạt quy định tại Điều 29, Điều 30 Nghị định này xác định giá trị làm căn cứ xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và chịu trách nhiệm về việc xác định đó.

 

Điều 8. Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về giao, sử dụng tài sản công, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản công

1. Phạt tiền đối với hành vi giao tài sản công vượt tiêu chuẩn, định mức do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành (không đúng đối tượng, vượt diện tích, vượt số lượng, vượt mức giá) theo các mức phạt sau:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp giao, sử dụng tài sản có giá trị vượt dưới 50.000.000 đồng;

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp giao, sử dụng tài sản có giá trị vượt từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

c) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp giao, sử dụng tài sản có giá trị vượt từ 100.000.000 đồng trở lên.

 

2. Phạt tiền đối với hành vi giao, sử dụng tài sản công không đúng mục đích (sử dụng tài sản công không đúng với mục đích, công năng sử dụng của tài sản được đầu tư, trang bị, mua sắm; sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp làm nhà ở hoặc sử dụng vào mục đích cá nhân; sử dụng xe ô tô đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc đối với chức danh không có tiêu chuẩn; sử dụng xe ô tô phục vụ công tác cho các chức danh không có tiêu chuẩn sử dụng xe mà không được cấp có thẩm quyền phê duyệt; giao, sử dụng xe ô tô vào mục đích cá nhân; sử dụng máy móc, thiết bị, tài sản khác vào mục đích cá nhân) theo các mức phạt sau:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp giao, sử dụng tài sản là máy móc, thiết bị, tài sản khác (trừ trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô) có nguyên giá theo sổ kế toán dưới 100.000.000 đồng/01 đơn vị tài sản (sau đây gọi chung là tài sản có giá trị dưới 100.000.000 đồng);

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp giao, sử dụng tài sản là máy móc, thiết bị, tài sản khác (trừ trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô) có nguyên giá theo sổ kế toán từ 100.000.000 đồng trở lên/01 đơn vị tài sản (sau đây gọi chung là tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên);

c) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp giao, sử dụng tài sản là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô.

 

3. Phạt tiền đối với hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản công nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo các mức phạt sau:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp cố ý làm hư hỏng tài sản là máy móc, thiết bị, tài sản khác có nguyên giá theo sổ kế toán dưới 100.000.000 đồng/01 đơn vị tài sản;

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp cố ý làm hư hỏng tài sản là máy móc, thiết bị, tài sản khác có nguyên giá theo sổ kế toán từ 100.000.000 đồng trở lên/01 đơn vị tài sản;

c) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp cố ý làm hư hỏng tài sản là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô.

 

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc nộp lại số tiền tương ứng với giá trị tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản đã bị thay đổi do hành vi vi phạm hành chính gây ra; trường hợp không khôi phục lại được tình trạng ban đầu của tài sản thì phải trả lại bằng tiền hoặc tài sản có công năng và giá trị sử dụng tương đương với tài sản ban đầu đối với hành vi quy định tại khoản 3 Điều này.

 

5. Việc xác định giá trị vượt so với tiêu chuẩn, định mức được quy định như sau:

a) Trường hợp giao, sử dụng tài sản là xe ô tô, máy móc, thiết bị, tài sản khác vượt về số lượng so với tiêu chuẩn, định mức: Giá trị vượt được xác định bằng số lượng tài sản vượt nhân với (x) nguyên giá của tài sản trên sổ kế toán; trường hợp trên sổ kế toán không theo dõi nguyên giá tài sản thì lấy theo giá trị mua sắm mới tài sản cùng loại hoặc có tiêu chuẩn kỹ thuật, công năng sử dụng tương đương trên thị trường tại thời điểm xảy ra vi phạm;

b) Trường hợp giao, sử dụng tài sản là xe ô tô, máy móc, thiết bị, tài sản khác đúng về số lượng nhưng vượt về mức giá so với tiêu chuẩn, định mức: Giá trị vượt được xác định bằng số lượng vượt nhân với (x) (chênh lệch giữa nguyên giá của tài sản trên sổ kế toán trừ đi (-) giá trị tài sản theo tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định);

c) Trường hợp tài sản là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp: Giá trị vượt được xác định bằng chênh lệch giữa diện tích thực tế trừ đi (-) diện tích được sử dụng theo tiêu chuẩn, định mức nhân với (x) đơn giá bình quân theo sổ kế toán; trường hợp trên sổ kế toán không theo dõi thì đơn giá tính theo suất đầu tư của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ Xây dựng ban hành áp dụng tại thời điểm hành vi vi phạm xảy ra;

d) Người có thẩm quyền xử phạt quy định tại Điều 29, Điều 30 Nghị định này xác định giá trị vượt làm căn cứ xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và chịu trách nhiệm về việc xác định đó.

 

Điều 9. Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về cho mượn tài sản công

1. Phạt tiền đối với hành vi cho mượn, sử dụng tài sản công không đúng quy định (cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng tài sản công không phân biệt có hợp đồng cho mượn hay không có hợp đồng cho mượn, không phân biệt thời hạn cho mượn) theo các mức phạt sau:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp cho mượn tài sản có giá trị dưới 100.000.000 đồng;

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp cho mượn tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên;

c) Từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng trong trường hợp cho mượn tài sản là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô.

 

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Tổ chức có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau:

a) Buộc hoàn trả lại tài sản cho mượn. Trường hợp tài sản đã bị thay đổi do hành vi vi phạm hành chính gây ra thì phải khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản; trường hợp không khôi phục lại được tình trạng ban đầu của tài sản thì phải trả lại bằng tiền hoặc tài sản có công năng và giá trị sử dụng tương đương với tài sản ban đầu;

b) Buộc nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền tương ứng với số tiền thuê tài sản trong thời gian cho mượn. Việc xác định số tiền thuê tài sản để làm căn cứ xử phạt thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị định này.

 

Điều 10. Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về trao đổi, tặng cho tài sản công không đúng quy định

1. Phạt tiền đối với hành vi trao đổi tài sản công không đúng quy định (dùng tài sản công của tổ chức để đổi lấy tài sản của tổ chức, cá nhân khác mà không được cơ quan, người có thẩm quyền cho phép) theo các mức phạt sau:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp tài sản dùng để trao đổi có giá trị dưới 100.000.000 đồng;

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp tài sản dùng để trao đổi có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên;

c) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp tài sản dùng để trao đổi là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô.

 

2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi tặng cho tài sản công không đúng quy định (sử dụng tài sản công để làm quà tặng vi phạm Quy chế tặng quà do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành).

 

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc hoàn trả tài sản hoặc trả lại bằng tiền tương ứng với giá trị tài sản đã trao đổi, tặng cho đối với hành vi quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.

 

Điều 11. Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về lấn chiếm trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi lấn chiếm trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp (tổ chức, cá nhân đang sử dụng đất liền kề tự chuyển dịch mốc giới thửa đất để mở rộng diện tích đất hoặc xây dựng công trình lấn chiếm sang không gian phần diện tích đất thuộc khuôn viên trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; tổ chức, cá nhân tự ý sử dụng nhà, đất thuộc trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của cơ quan, tổ chức, đơn vị).

 

2. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này.

 

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp và trả lại trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp bị lấn chiếm;

b) Buộc phá dỡ công trình đã xây dựng trên phần diện tích lấn chiếm;

c) Buộc nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền tương ứng với số tiền thuê tài sản trong thời gian lấn chiếm. Việc xác định số tiền thuê tài sản để làm căn cứ xử phạt thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị định này.

 

Điều 12. Hành vi chiếm đoạt tài sản công

1. Phạt tiền đối với hành vi chiếm đoạt tài sản công mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự (nắm giữ, sử dụng tài sản công mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép) theo các mức phạt sau:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với tài sản công có giá trị dưới 100.000.000 đồng;

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tài sản công có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên;

c) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp chiếm đoạt trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô.

 

2. Hình thức xử phạt bổ sung: tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này.

 

3. Biện pháp khắc phục hậu quả: tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản đã bị thay đổi do hành vi vi phạm hành chính gây ra để trả lại tổ chức; trường hợp không khôi phục lại được tình trạng ban đầu của tài sản thì phải bồi thường bằng tiền hoặc tài sản có công năng và giá trị sử dụng tương đương với tài sản ban đầu;

b) Buộc nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền tương ứng với tiền thuê tài sản trong thời gian chiếm đoạt. Việc xác định số tiền thuê tài sản để làm căn cứ xử phạt thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị định này.

 

Điều 13. Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết

1. Phạt tiền đối với hành vi sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết khi không có quyết định phê duyệt Đề án của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công tại thời điểm thực hiện hành vi theo các mức phạt sau:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp sử dụng tài sản có giá trị dưới 100.000.000 đồng;

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp sử dụng tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên;

c) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp sử dụng tài sản là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô.

 

2. Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về xác định giá trị tài sản vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết theo các mức phạt sau:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi thành lập Hội đồng định giá, Hội đồng thẩm định giá tài sản không đúng thành phần;

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lựa chọn tổ chức thẩm định giá để xác định giá trị của tài sản sử dụng vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết không đúng trình tự theo quy định của pháp luật.

 

3. Phạt tiền đối với hành vi sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết sai mục đích so với đề án đã được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước giao theo các mức phạt sau:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp sử dụng tài sản có giá trị dưới 100.000.000 đồng;

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp sử dụng tài sản là xe ô tô; tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên;

c) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp sử dụng tài sản là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô.

 

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản đã bị thay đổi do hành vi quy định tại khoản 1 Điều này gây ra; trường hợp không khôi phục lại được tình trạng ban đầu của tài sản thì phải trả lại bằng tiền hoặc tài sản có công năng và giá trị sử dụng tương đương với tài sản ban đầu;

b) Buộc phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này.

 

Điều 14. Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về không thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa tài sản theo quy định của pháp luật

1. Tổ chức đã được cấp có thẩm quyền giao dự toán bảo dưỡng, sửa chữa tài sản theo quy định của pháp luật nhưng không thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa tài sản dẫn đến tài sản bị hư hỏng thì bị xử phạt theo các mức phạt sau:

a) Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng trong trường hợp tài sản có giá trị dưới 50.000.000 đồng;

b) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

c) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên và tài sản là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

2. Việc xác định số tiền phải nộp lại tương ứng với giá trị tài sản bị hư hỏng được quy định như sau:

a) Đối với tài sản bị hư hỏng không thể khắc phục được, số tiền phải nộp lại được xác định tương ứng với giá mua mới tài sản cùng loại hoặc có tiêu chuẩn, công năng sử dụng tương đương trên thị trường nhân với tỷ lệ chất lượng còn lại tại thời điểm xác định giá trị;

b) Đối với tài sản bị hư hỏng có thể khắc phục được, số tiền phải nộp lại là chi phí để sửa chữa tài sản đó;

c) Người đứng đầu tổ chức giao cơ quan tài chính thuộc phạm vi quản lý làm đầu mối xác định số tiền phải nộp; trên cơ sở đó người đứng đầu tổ chức quyết định số tiền phải nộp và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

 

Điều 15. Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về xử lý tài sản công

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không thực hiện kê khai, lập phương án sắp xếp lại, xử lý tài sản công theo quy định của pháp luật;

b) Thực hiện kê khai, lập phương án sắp xếp lại, xử lý tài sản công không đúng thời hạn theo quy định;

c) Không báo cáo cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi, điều chuyển, bán, thanh lý, tiêu hủy tài sản khi đủ điều kiện theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp tài sản công hết hạn sử dụng theo quy định của pháp luật nhưng vẫn còn sử dụng được và cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp vẫn còn nhu cầu sử dụng thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quyết định hình thức xử lý cho phù hợp).

 

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức để hư hỏng, thất thoát tài sản trong thời gian chờ xử lý.

 

3. Phạt tiền đối với hành vi xử lý tài sản khi không có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền theo các mức phạt sau:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp bán, điều chuyển, thanh lý, tiêu hủy tài sản có giá trị dưới 100.000.000 đồng;

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp bán, điều chuyển, thanh lý, tiêu hủy tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên;

c) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp bán, điều chuyển, thanh lý tài sản là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô.

 

4. Hành vi kê khai không đúng danh mục, hiện trạng tài sản đề nghị xử lý (dẫn đến việc quyết định xử lý tài sản không đúng quy định) thì bị xử phạt như sau:

a) Phạt cảnh cáo trong trường hợp kê khai tài sản có giá trị dưới 50.000.000 đồng;

b) Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng trong trường hợp kê khai tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

c) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp kê khai tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên;

d) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp kê khai tài sản là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô.

 

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản đã bị thay đổi do hành vi quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này gây ra; trường hợp không khôi phục lại được tình trạng ban đầu của tài sản thì phải trả lại bằng tiền hoặc tài sản có công năng và giá trị sử dụng tương đương với tài sản ban đầu;

b) Buộc phải nộp lại số tiền tương ứng với giá trị tài sản bị thất thoát, hư hỏng đối với hành vi quy định tại khoản 2 Điều này.

 

6. Việc xác định số tiền phải nộp lại tương ứng với giá trị tài sản bị thất thoát, hư hỏng quy định tại điểm b khoản 5 Điều này được quy định như sau:

a) Đối với tài sản bị mất hoặc hư hỏng không thể khắc phục được, số tiền phải nộp lại được xác định tương ứng với giá mua mới tài sản cùng loại hoặc có tiêu chuẩn, công năng sử dụng tương đương trên thị trường tại thời điểm xảy ra hành vi vi phạm.

Giá trên thị trường có thể căn cứ báo giá của các nhà cung cấp trên thị trường đã được niêm yết, thông báo trên thị trường hoặc từ thông tin chính thống do các nhà cung cấp công bố được khai thác qua mạng Internet.

b) Đối với tài sản bị hư hỏng có thể khắc phục được, số tiền phải nộp lại là chi phí để sửa chữa tài sản đó.

 

Điều 16. Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về tổ chức xử lý tài sản công

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Quá thời hạn quy định mà vẫn chưa triển khai thực hiện phương án xử lý đã được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt.

Hành vi quá thời hạn được xác định theo thời hạn xử lý quy định tại quyết định xử lý tài sản. Trường hợp tại quyết định xử lý tài sản không quy định thời hạn cụ thể thì thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Trường hợp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý gia hạn việc xử lý tài sản thì thời hạn quy định được xác định theo thời hạn sau khi đã được gia hạn.

b) Không thực hiện bàn giao tài sản có quyết định điều chuyển, thu hồi cho cơ quan tiếp nhận đúng thời hạn quy định.

 

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Thành lập không đúng thẩm quyền Hội đồng định giá theo quy định của pháp luật;

b) Thành lập không đúng thành phần Hội đồng định giá theo quy định của pháp luật;

c) Lựa chọn tổ chức thẩm định giá, tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp để xử lý tài sản không đúng hình thức, trình tự theo quy định của pháp luật;

d) Thực hiện không đầy đủ thông báo công khai bán đấu giá tài sản công theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công (không thực hiện niêm yết về việc bán đấu giá tài sản công tại những địa điểm quy định; không thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc thông báo nhưng không đủ thời gian đối với việc bán đấu giá tài sản công theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản; nội dung niêm yết, thông báo công khai không đầy đủ thông tin theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản).

 

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không thành lập Hội đồng định giá theo quy định của pháp luật;

b) Không thực hiện thông báo công khai bán đấu giá tài sản công theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều này.

 

4. Phạt tiền đối với hành vi không thực hiện thẩm định giá để làm căn cứ xác định giá khởi điểm khi xử lý tài sản là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức bán; không thực hiện bán đấu giá tài sản đối với những trường hợp theo quy định của pháp luật phải thực hiện bán đấu giá:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp tài sản có giá trị dưới 100.000.000 đồng;

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên;

c) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp tài sản là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô.

 

Điều 17. Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về việc đăng nhập và sử dụng số liệu về tài sản công

Phạt tiền đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định về việc đăng nhập và sử dụng số liệu về tài sản công như sau:

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Lập Báo cáo kê khai về tài sản để đăng nhập dữ liệu vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công không đúng hồ sơ, giấy tờ pháp lý, không phù hợp với hiện trạng tài sản của đơn vị;

b) Thực hiện phân cấp nhập dữ liệu cho đơn vị cấp dưới khi không có sự thống nhất bằng văn bản của Bộ Tài chính;

c) Nhập, duyệt dữ liệu về tài sản công không đúng so với báo cáo kê khai của tổ chức được giao quản lý, sử dụng tài sản.

 

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Tẩy, xóa, sửa chữa báo cáo kê khai tài sản làm sai lệch số liệu về tài sản công so với hiện trạng của tài sản;

b) Truy cập, xâm nhập hoặc tìm cách xâm nhập, phá hoại, làm thay đổi số liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công, cấu trúc chương trình phần mềm;

c) Khai thác thông tin tài sản công trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công của các cơ quan, tổ chức, đơn vị không thuộc phạm vi quản lý;

d) Sử dụng số liệu về tài sản công trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công vào mục đích cá nhân mà không được cơ quan có thẩm quyền quản lý cơ sở dữ liệu đó cho phép (sử dụng thông tin lưu giữ trong Cơ sở vào các mục đích khác ngoài các mục đích theo quy định pháp luật về quản lý, khai thác Phần mềm Quản lý đăng ký tài sản công mà không được cơ quan có thẩm quyền quản lý cơ sở dữ liệu đó cho phép).

 

3. Biện pháp khắc phục hậu quả

a) Buộc hủy các báo cáo kê khai bị khai man, giả mạo;

b) Buộc sửa chữa số liệu cho khớp đúng với thực tế hiện trạng tài sản của đơn vị;

c) Buộc lập bổ sung báo cáo kê khai chưa được lập khi nghiệp vụ tài sản có biến động phát sinh;

d) Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn;

đ) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính.

 

Điều 18. Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về trang cấp tài sản của các dự án sử dụng vốn Nhà nước

1. Xử phạt tổ chức có hành vi thực hiện mua sắm tài sản khi không có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định này.

2. Xử phạt tổ chức có hành vi không thực hiện mua sắm tập trung đối với các loại tài sản thuộc danh mục mua sắm tập trung theo quy định của pháp luật thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định này.

3. Xử phạt tổ chức có hành vi mua sắm tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định này.

Việc xác định giá trị tài sản vượt so với tiêu chuẩn, định mức thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 6 Nghị định này.

4. Xử phạt tổ chức có hành vi vi phạm quy định về thuê tài sản để phục vụ công tác quản lý của các dự án sử dụng vốn Nhà nước thực hiện theo quy định tại Điều 7 Nghị định này.

 

Điều 19. Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về giao, sử dụng tài sản của các dự án sử dụng vốn Nhà nước

1. Xử phạt tổ chức có hành vi giao, sử dụng tài sản của dự án sử dụng vốn Nhà nước vượt tiêu chuẩn, định mức hoặc không đúng mục đích thực hiện theo quy định tại Điều 8 Nghị định này.

2. Xử phạt tổ chức có hành vi cho mượn tài sản của dự án sử dụng vốn Nhà nước không đúng quy định thực hiện theo quy định tại Điều 9 Nghị định này.

3. Xử phạt tổ chức có hành vi trao đổi, biếu, tặng cho tài sản của dự án sử dụng vốn Nhà nước không đúng quy định thực hiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định này.

4. Xử phạt tổ chức, cá nhân có hành vi lấn chiếm trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của Ban quản lý dự án sử dụng vốn Nhà nước thực hiện theo quy định tại Điều 11 Nghị định này.

5. Xử phạt tổ chức, cá nhân có hành vi chiếm đoạt tài sản của dự án sử dụng vốn Nhà nước thực hiện theo quy định tại Điều 12 Nghị định này.

6. Xử phạt tổ chức có hành vi vi phạm quy định về sử dụng tài sản của dự án sử dụng vốn Nhà nước vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định này.

7. Xử phạt tổ chức có hành vi không thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa tài sản của dự án sử dụng vốn Nhà nước theo quy định của pháp luật thực hiện theo quy định tại Điều 14 Nghị định này.

 

Điều 20. Hành vi vi phạm hành chính đối với các quy định về xử lý tài sản của các dự án khi dự án kết thúc hoặc không còn nhu cầu sử dụng

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không thực hiện kiểm kê, báo cáo cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xử lý tài sản theo thời hạn quy định;

b) Không báo cáo cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác lập quyền sở hữu toàn dân đối với các tài sản do các chuyên gia ODA, nhà thầu tư vấn, giám sát chuyển giao cho Chính phủ Việt Nam theo quy định.

 

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Để tài sản bị hư hỏng, thất thoát trong thời gian chờ xử lý;

b) Tháo dỡ, thay đổi kết cấu, phụ tùng, linh kiện của tài sản.

 

3. Xử phạt tổ chức có hành vi bán, điều chuyển, thanh lý, tiêu hủy tài sản khi không có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định này.

 

4. Xử phạt tổ chức có hành vi kê khai không đúng danh mục, hiện trạng tài sản đề nghị xử lý thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 15 Nghị định này.

 

5. Xử phạt tổ chức có hành vi vi phạm quy định về tổ chức xử lý tài sản đã được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt thực hiện theo quy định tại Điều 16 Nghị định này.

 

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Tổ chức có hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản đã bị thay đổi do hành vi vi phạm hành chính gây ra; trường hợp không khôi phục lại được tình trạng ban đầu của tài sản thì phải trả lại bằng tiền hoặc tài sản có công năng và giá trị sử dụng tương đương với tài sản ban đầu;

b) Buộc nộp lại số tiền tương ứng với giá trị tài sản bị thất thoát, hư hỏng. Việc xác định số tiền phải nộp lại tương ứng với giá trị tài sản bị thất thoát, hư hỏng thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 15 Nghị định này.

 

Điều 21. Hành vi vi phạm quy định về xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản, bảo quản, chuyển giao tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền để xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản theo quy định;

b) Chuyển giao tài sản cho các cơ quan chức năng để xử lý không đúng thời hạn quy định.

 

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Để tài sản bị hư hỏng, thất thoát trong thời gian chờ xử lý;

b) Tháo dỡ, thay đổi kết cấu, phụ tùng, linh kiện của tài sản.

 

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Tổ chức có hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản đã bị thay đổi do hành vi vi phạm hành chính gây ra; trường hợp không khôi phục lại được tình trạng ban đầu của tài sản thì phải trả lại bằng tiền hoặc tài sản có công năng và giá trị sử dụng tương đương với tài sản ban đầu;

b) Buộc nộp lại số tiền tương ứng với giá trị tài sản bị thất thoát, hư hỏng. Việc xác định số tiền phải nộp lại tương ứng với giá trị tài sản bị thất thoát, hư hỏng thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 15 Nghị định này.

 

Điều 22. Hành vi vi phạm quy định về xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi:

a) Không báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền lập phương án xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân;

b) Báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền lập phương án xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

 

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi:

a) Không lập phương án xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân;

b) Lập phương án xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

 

3. Xử phạt tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định về tổ chức xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân đã được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt thực hiện theo quy định tại Điều 16 Nghị định này.

 

Điều 23. Hành vi vi phạm quy định về việc đăng nhập và sử dụng số liệu về tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân

Xử phạt đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong việc đăng nhập và sử dụng số liệu về tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân thực hiện theo quy định tại Điều 17 Nghị định này.

 

Điều 24. Hành vi vi phạm trong khai thác tài sản kết cấu hạ tầng

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi cho thuê quyền khai thác, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng khi không có quyết định phê duyệt Đề án của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.

2. Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về xác định giá cho thuê quyền khai thác, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng theo các mức phạt sau:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi thành lập Hội đồng định giá không đúng thành phần hoặc không đúng thẩm quyền;

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lựa chọn tổ chức thẩm định giá để xác định giá cho thuê quyền khai thác, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng không đúng hình thức, trình tự theo quy định của pháp luật.

3. Phạt tiền 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi cho thuê quyền khai thác, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng sai mục đích so với đề án đã được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc nộp lại số tiền thu được do thực hiện hành vi quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.

 

Điều 25. Hành vi vi phạm trong xử lý tài sản kết cấu hạ tầng

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không thực hiện kê khai, lập phương án xử lý tài sản theo quy định của pháp luật;

b) Không báo cáo cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi, điều chuyển, bán, thanh lý, tiêu hủy tài sản khi đủ điều kiện theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp tài sản công hết hạn sử dụng theo quy định của pháp luật nhưng cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp vẫn còn nhu cầu sử dụng thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quyết định hình thức xử lý cho phù hợp);

c) Không báo cáo cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản trong trường hợp bị mất, bị hủy hoại.

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:

a) Để hư hỏng, thất thoát tài sản trong thời gian chờ xử lý;

b) Kê khai không đúng danh mục, hiện trạng tài sản đề nghị xử lý, dẫn đến việc quyết định xử lý tài sản không đúng quy định.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi xử lý tài sản khi không có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc phải nộp lại số tiền tương ứng với giá trị tài sản bị thất thoát, hư hỏng đối với hành vi quy định tại khoản 2 Điều này. Việc xác định số tiền phải nộp lại tương ứng với giá trị tài sản bị thất thoát, hư hỏng thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 15 Nghị định này.

 

Điều 26. Hành vi vi phạm quy định về tổ chức xử lý tài sản kết cấu hạ tầng

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Quá thời hạn quy định mà vẫn chưa triển khai thực hiện phương án xử lý đã được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt;

b) Không thực hiện bàn giao tài sản có quyết định điều chuyển, thu hồi cho cơ quan tiếp nhận đúng thời hạn quy định.

 

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Thành lập không đúng thẩm quyền, không đúng thành phần Hội đồng xác định giá, Hội đồng tiêu hủy tài sản theo quy định của pháp luật;

b) Thực hiện không đầy đủ việc thông báo công khai bán đấu giá tài sản công theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản (không thực hiện niêm yết về việc bán đấu giá tài sản tại những địa điểm quy định; không thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc thông báo nhưng không đủ thời gian đối với việc bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản; nội dung niêm yết, thông báo công khai không đầy đủ thông tin theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản).

 

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không thành lập Hội đồng xác định giá, Hội đồng tiêu hủy tài sản theo quy định của pháp luật;

b) Lựa chọn tổ chức thẩm định giá, tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp để xử lý tài sản không đúng hình thức, trình tự theo quy định của pháp luật;

c) Không thực hiện việc thông báo công khai bán đấu giá tài sản công theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này.

 

4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện thẩm định giá để làm căn cứ xác định giá khởi điểm khi xử lý tài sản kết cấu hạ tầng theo hình thức bán.

 

Điều 27. Hành vi vi phạm quy định về việc đăng nhập và sử dụng số liệu về tài sản kết cấu hạ tầng

Xử phạt đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định về việc đăng nhập và sử dụng số liệu về tài sản kết cấu hạ tầng thực hiện theo quy định tại Điều 17 Nghị định này.


4. Bản án hình sự sơ thẩm số 301/2022/HSST ngày 08/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Sơ lược nội dung: Với vai trò Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc, người đại diện pháp luật của Công ty FICO Trading, người đại diện vốn của Công ty FICO tại Công ty FICO Trading, Trịnh Bửu T cùng với Vũ Khải H và Lê Thị Cẩm D lập, ký các hợp đồng, hoá đơn, chứng từ khống nhằm rút và sử dụng tiền của Công ty FICO, Công ty FICO Trading cho các hoạt động chung của công ty không đúng quy định về quản lý tài sản của Doanh nghiệp có vốn Nhà nước, vi phạm quy định tại Điều 14, Luật doanh nghiệp 2014, Điều 39 Điều lệ Công ty FICO, Điều 12 Quy chế người đại diện của Công ty FICO, từ đó gây thất thoát cho Công ty FICO, Công ty FICO Trading số tiền 4.366.894.297 đồng, trong đó thất thoát tài sản Nhà nước là 1.781.692.873 đồng (tương ứng 40.08% vốn nhà nước tại Công ty FICO).

Tải về

Bản án số 301/2022/HSST


5. Bản án hình sự phúc thẩm số 02/2023/HS-PT ngày 04/01/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh

Sơ lược nội dung: Quá trình thực hiện nhiệm vụ giao và quản lý, sử dụng nguồn kinh phí sửa chữa thường xuyên tài sản cố định năm 2016 để sửa chữa 07 trường học trên địa bàn huyện Củ Chi gồm: Trường Mầm non Thị trấn Củ Chi 2, Trường Mầm non Thái Mỹ, Trường Mầm non Tân Thông Hội 2, Trường Mầm non Tân Phú Trung 2, Trường Tiểu học Tân Phú Trung, Trường Tiểu học Tân Phú và Trường Tiểu học Lê Thị Pha, bị cáo Nguyễn Thị L và bị cáo Lê Thị Thanh T không thực hiện theo đúng các quy định pháp luật liên quan để cho nhà thầu lợi dụng các mối quan hệ để lập thủ tục về khảo sát thiết kế, nghiệm thu không đúng quy định, thi công sửa chữa các trường học, nâng khống khối lượng, dẫn đến thất thoát tài sản nhà nước số tiền là 17.763.394.218 đồng

Tải về

Bản án số 02/2023/HS-PT


6. Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 15/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn

Sơ lược nội dung: Từ năm 2016 đến năm 2018, sau khi đã trả cho các đại lý, tổng số tiền hoa hồng còn lại là 184.835.975đ (một trăm tám mươi tư triệu, tám trăm ba năm nghìn, chín trăm bảy năm đồng) – tương ứng với 5% hoa hồng xổ số truyền thống và 3% xổ số bóc được giữ lại tại phòng Kế hoạch – Kinh doanh. Số tiền này Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết tỉnh không đưa vào sổ sách doanh thu của Công ty để quản lý, sử dụng và cũng không giao cho phòng Kế hoạch – Kinh doanh quản lý, sử dụng số tiền này như thế nào, chi vào nội dung gì mà để phòng Kế hoạch – Kinh doanh tự quản lý và sử dụng hết vào các nội dung theo quy định của pháp luật là không được chi, hóa đơn, chứng từ chi không đúng, không đầy đủ, thẩm quyền duyệt chi không đúng dẫn đến gây thất thoát, lãng phí.

Tải về

Bản án số 10/2023/HS-ST


7. Bản án hình sự phúc thẩm số 264/2024/HS-PT ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

Sơ lược nội dung: Năm 2013, Cienco 1 là một trong số 11 doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước được Bộ GTVT đưa vào cổ phần hoá để trở thành công ty cổ phần theo Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 08/01/2013, Bộ trưởng Bộ GTVT ra Quyết định số 50/QĐ ngày 08/01/2013 thành lập Ban CĐCPH và phân công Phạm D2 – Chủ tịch HĐTV làm Trưởng ban, Cấn Hồng L – Tổng giám đốc làm Phó trưởng ban thường trực, cùng một số cán bộ của Bộ GTVT, Bộ tài chính, cán bộ Phòng tài chính kế toán của Cienco 1 tham gia ban cổ phần hoá. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, các cá nhân trong bộ máy lãnh đạo của Cienco 1 trong đó có lãnh đạo của Bộ phận tài chính của Cienco 1 có hành vi vi phạm pháp luật, xử lý xoá các khoản nợ trái quy định, để ngoài GTDN các khoản nợ phải thu hồi là 184.990.923.151 đồng, không xác định giá trị quyền sử dụng đất của 04 khu đất tại tỉnh Gia Lai, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Long An, tỉnh An Giang … là tài sản của Cienco 1 phải đưa vào để xác định GTDN theo giá thị trường gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 54.754.963.922 đồng. Để xảy ra hậu quả trên còn có trách nhiệm của các cán bộ Công ty TNHH kiểm toán và Tư vấn A&C-Chi nhánh Hà Nội là đơn vị tư vấn thẩm định xác định GTDN, cụ thể là Nguyễn Anh T1 thẩm định viên và Nguyễn Ngọc T5 kiểm toán viên, không thực hiện được vai trò minh bạch trong nhiệm vụ được giao, đồng ý với đề xuất của phòng kế toán Cienco 1, bỏ ngoài khoản nợ của 47/50 Doanh nghiệp còn đang hoạt động số tiền 184.990.923.151 đồng, đồng thời vận dụng phương pháp tạm tính giá trị quyền sử dụng đất là sai với hướng dẫn của Nhà nước quy định tại Nghị định số 59 làm thiệt hại cho Nhà nước 54.754.963.922 đồng. Hành vi của các bị cáo làm giảm đi GTDN, thất thoát vốn của Nhà nước trong công ty cổ phần. Đây được xác định là một trong các nguyên nhân cơ bản dẫn đến những thiệt hại đặc biệt lớn cho ngân sách Nhà nước.

Tải về

Bản án số 264/2024/HS-PT


8. Bản án hình sự phúc thẩm số 346/2025/HS-PT ngày 15/5/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh

Sơ lược nội dung: Các bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí”, cơ quan Tố tụng tại cấp sơ thẩm xác định họ đã thực hiện hành vi, vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản. Tuy vậy, căn cứ lịch sử giao dịch mua bán gạo giữa Công ty T7 và công ty L4 diễn ra từ năm 2011 đến năm 2013 thể hiện: Cũng với các hành vi nêu trên của các lãnh đạo, nhân viên có liên quan trong giao dịch đã ký rất nhiều Hợp đồng mua bán gạo với Công ty T7 mà tổng giá trị lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Hầu hết các hợp đồng đều thực hiện thành công nhưng chỉ có 15 hợp đồng (bị truy cứu trách nhiệm hình sự) với tổng giá trị hàng chưa thanh toán (làm tròn) là 146 tỷ. Do vậy, việc quy kết các hành vi sai nêu trên là nguyên nhân dẫn đến việc không thu hồi được số tiền 146 tỷ là chưa phù hợp với thực tế khách quan. Nghĩa là cơ quan điều tra chưa chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa việc làm sai nêu trong kết luận điều tra là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả thất thoát tài sản. Việc xác định hành vi sai trái nào và do ai làm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thất thoát tiền của công ty L4 chưa được là rõ. Dẫn đến việc xác định thiếu người tham gia tố tụng là công ty T10, gây khó khăn cho việc truy thu dòng tiền bị thất thoát của Công ty L4.

Tải về

Bản án số 346/2025/HS-PT


Các tổng hợp nội dung có liên quan:

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội trốn thuế

—————————

CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)

– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

– Điện thoại: 0941.767.076

– Email: amilawfirmdn@gmail.com

– Website: https://amilawfirm.com/

– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm

Bài viết liên quan