Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy là hành vi không tuân thủ các quy định của pháp luật về an toàn phòng cháy, chữa cháy. Đây là loại tội phạm tiềm ẩn nguy cơ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy, gây thiệt hại đến quyền sở hữu về tài sản luôn được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Việc áp dụng pháp luật đòi hỏi xác định rõ nghĩa vụ tuân thủ quy định về phòng cháy, chữa cháy và mối quan hệ giữa hành vi vi phạm với hậu quả xảy ra. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.
1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Điều 313. Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy
1. Người nào vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 08 năm:
a) Làm chết 02 người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
2. Nghị quyết số 02/2024/NQ-HĐTP ngày 24/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 313 Bộ luật Hình sự
Điều 2. Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy
Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy quy định tại Điều 313 của Bộ luật Hình sự bao gồm:
1. Hành vi vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy theo quy định của Luật Phòng cháy, chữa cháy;
2. Hành vi vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy theo quy định của pháp luật khác có liên quan.
Điều 3. Truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 313 của Bộ luật Hình sự
Người nào vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 313 của Bộ luật Hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Thực hiện một hoặc nhiều hành vi hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết này;
2. Có thiệt hại xảy ra theo quy định tại một trong các khoản 1, 2 và 3 Điều 313 của Bộ luật Hình sự;
3. Hành vi vi phạm phải có mối quan hệ nhân quả với thiệt hại xảy ra. Thiệt hại xảy ra phải là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm và ngược lại hành vi vi phạm là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
Điều 4. Truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 4 Điều 313 của Bô luật Hình sự
1. “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời” quy định tại khoản 4 Điều 313 của Bộ luật Hình sự là hành vi vi phạm hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết này mà thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Chưa xảy ra cháy nhưng nếu không được ngăn chặn kịp thời thì chắc chắn sẽ cháy và dẫn đến thiệt hại quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều 313 của Bộ luật Hình sự;
b) Đã xảy ra cháy và tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều 313 của Bộ luật Hình sự nhưng do được ngăn chặn kịp thời nên thiệt hại dưới mức quy định tại khoản 1 Điều 313 của Bộ luật Hình sự.
2. “Ngăn chặn kịp thời” là trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các biện pháp ngăn chặn ngay sau khi có hành vi vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy như: dập tắt đám cháy, di chuyển chất nguy hiểm về cháy ra khỏi nơi đông người, mang nguồn lửa, nguồn nhiệt ra khỏi nơi có quy định cấm,… để không xảy ra cháy hoặc đã xảy ra cháy nhưng thiệt hại dưới mức quy định tại khoản 1 Điều 313 của Bộ luật Hình sự.
Ví dụ: khi vào đổ xăng, A đang hút thuốc lá (lúc này tại cây xăng có 10 người). B yêu cầu A ra ngoài dập tắt thuốc nhưng A không thực hiện mà còn ném điếu thuốc lá đang cháy xuống đất làm lửa bùng cháy, ngay lập tức B đã dùng bình cứu hỏa để dập tắt đám cháy nên chưa có hậu quả xảy ra. Hành vi của A vi phạm quy định về “mang nguồn lửa vào nơi có quy định cấm lửa” và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 4 Điều 313 của Bộ luật Hình sự.
Điều 5. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp cụ thể
1. Trường hợp người phạm tội thực hiện công việc bắt buộc phải tuân theo quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người nhưng trong quá trình thực hiện họ vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người xảy ra cháy và gây thiệt hại thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 313 của Bộ luật Hình sự mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 295 của Bộ luật Hình sự.
Ví dụ: A được B thuê hàn mái nhà các phòng Karaoke. Trong quá trình hàn, A không trang bị tấm chắn tia kim loại nóng chảy bắn ra, đồng thời không theo dõi quá trình hàn một cách an toàn nên khi các hạt kim loại nóng mang nhiệt độ cao bắn ra xung quanh đã hình thành các đám cháy lớn gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng. Hành vi của A đã vi phạm quy định tại Mục 2.2.12 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 03:2011/BLĐTBXH ngày 29 tháng 7 năm 2011 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện. Trường hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 313 của Bộ luật Hình sự.
2. Trường hợp người phạm tội thực hiện nhiều lần hành vi phạm tội, nếu mỗi lần phạm tội có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với tổng số thiệt hại của các lần phạm tội, còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
3. Nghị định số 106/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ
Điều 11. Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy trong sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, thiết bị, dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, thiết bị, dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt mà không bảo đảm khoảng cách phòng cháy, chữa cháy theo quy định.
2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, thiết bị, dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt ở những khu vực có quy định cấm;
b) Hàn, cắt kim loại mà không có biện pháp phòng cháy, chữa cháy theo quy định.
3. Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt đối với các hành vi quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này khi để xảy ra cháy nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 12. Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy trong lắp đặt, sử dụng điện
1. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi lắp đặt, sử dụng dây dẫn điện, thiết bị điện, thiết bị đóng ngắt, bảo vệ không bảo đảm an toàn phòng cháy.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không duy trì thiết bị điện phòng nổ đã được trang bị, lắp đặt.
3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi không trang bị, lắp đặt, sử dụng thiết bị điện phòng nổ.
4. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Không có giải pháp ngăn cháy đối với khu vực sạc điện cho xe động cơ điện tập trung trong nhà;
b) Không có hệ thống điện phục vụ phòng cháy và chữa cháy;
c) Không duy trì nguồn điện phục vụ phòng cháy và chữa cháy.
5. Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt đối với các hành vi quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 3 Điều này khi để xảy ra cháy nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
6. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc thực hiện giải pháp ngăn cháy đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 4 Điều này.
Điều 13. Vi phạm quy định về an toàn phòng cháy và chữa cháy trong lắp đặt, kiểm tra, bảo trì hệ thống tiếp địa, chống sét
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không kiểm tra, bảo trì định kỳ hệ thống tiếp địa, chống sét.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Lắp đặt hệ thống tiếp địa, chống sét không bảo đảm theo quy định;
b) Không duy trì hệ thống tiếp địa, chống sét đã được lắp đặt.
3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi không lắp đặt hệ thống tiếp địa, chống sét cho nhà, công trình.
4. Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt đối với các hành vi quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 3 Điều này khi để xảy ra cháy nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 14. Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy trong quản lý, bảo quản, sử dụng chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ
1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Sắp xếp hoặc bố trí chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ không bảo đảm theo quy định;
b) Bảo quản chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ vượt quá số lượng, khối lượng theo quy định.
2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi bảo quản hoặc sử dụng chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ không đúng nơi quy định.
3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi để hình thành môi trường nguy hiểm cháy, nổ có chỉ số nguy hiểm cháy, nổ vượt quá giới hạn dưới của giới hạn nồng độ bắt cháy.
4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi tàng trữ trái phép chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
5. Phạt tiền từ 45.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng trái phép chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
6. Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt đối với các hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3 và khoản 4 Điều này khi để xảy ra cháy nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tịch thu tang vật vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 4 và khoản 5 Điều này.
8. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc giảm số lượng, khối lượng chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
b) Buộc di chuyển chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ đúng nơi quy định đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.
Điều 15. Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy trong sản xuất, kinh doanh chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ
1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Không duy trì thiết bị phát hiện rò rỉ chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ đã được trang bị, lắp đặt;
b) Không duy trì thiết bị, hệ thống chống tĩnh điện đã được trang bị, lắp đặt.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Không trang bị, lắp đặt thiết bị phát hiện rò rỉ chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ;
b) Không trang bị, lắp đặt thiết bị, hệ thống chống tĩnh điện.
3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) San, chiết, nạp chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ không đúng nơi quy định;
b) San, chiết, nạp chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ sang thiết bị chứa không đúng chủng loại hoặc không phù hợp với loại chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ.
4. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất hoặc kinh doanh trái phép chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
5. Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt đối với các hành vi quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 3 Điều này khi để xảy ra cháy nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
a) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 và khoản 4 Điều này;
b) Tước quyền sử dụng giấy phép là văn bản thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy, văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy từ 06 tháng đến 12 tháng đối với hành vi vi phạm tại khoản 4 Điều này.
4. Bản án hình sự phúc thẩm số 27/2017/HSPT ngày 01/08/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Sơ lược nội dung: “Khoảng 14h ngày 11/3/2016, anh Trần Văn H là tổ trưởng tổ cơ khí công ty N nói với K: “Em đến khu hầm sấy xem hầm nào mở có sắt hình chữ U thì cắt về làm khuôn pallet”. Do biết việc cắt sắt này phải có thêm người mới làm được, nên K bảo anh Trần Phương N và anh Hà Văn G làm cùng tổ với K đi làm cùng. Anh N và G mang theo máy hàn điện, K mang theo que hàn rồi cho lên xe đẩy đi đến xưởng số 3 của Công ty. K đấu nối nguồn điện vào máy hàn. Sau đó, K đứng lên các chồng gỗ dùng que hàn kim loại gắn vào đầu mỏ hàn chấm liên tục để cắt đứt hai đầu thanh sắt gắn ở tường ngăn giữa hầm số 14 và hầm số 15. Quá trình cắt sắt, các vảy hàn bắn xuống khu vực để gỗ đang sấy ở trong hầm số 14. Khi K đang cắt thì anh G và N phát hiện gỗ ở vị trí cuối hầm giáp với tường ngăn hầm số 15 bốc cháy và hô “Cháy, cháy”. K, anh N và anh G chạy ra khỏi hầm lấy bình chữa cháy để dập lửa và hô hào mọi người đến cùng chữa cháy nhưng không được, ngọn lửa cháy lan ra toàn bộ xưởng 3. Do chiếc máy hàn còn ở trong hầm nên K chạy vào hầm số 14 mang chiếc máy hàn ra ngoài thì bị bỏng ở hai mu bàn tay, vành tai phải và gò má phải. Sau đó, K được đưa đi bệnh viện cấp cứu và lực lượng phòng cháy, chữa cháy Công an tỉnh Bắc Ninh đến chữa cháy, nhưng đến ngày 12/3/2016 thì đám cháy mới được khống chế.”
Tải về
5. Bản án hình sự phúc thẩm số 190/2021/HS-PT ngày 07/05/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Sơ lược nội dung: “Nguyễn Anh T là giám đốc Công ty Chí Tài. Ngoài phần nhà xưởng của bản thân, ông H còn cho bà Trần Thị Huế Minh và ông Trần Quang Hải thuê nhà xưởng làm nơi sản xuất và chứa phế liệu. Khoảng 11 giờ ngày 07/3/2018, Nguyễn Ngọc V thực hiện việc sử dụng thiết bị cắt ray thép kim loại khung nhà xưởng công ty Chí Tài, cắt tiếp giáp với hộ kinh doanh Song Đất thì xảy ra cháy tại khu vực đống kiện mút cao su bên hộ Song Đất, sát vách tường bên phải ngăn cách giữa hai cơ sở, sau đó phát triển đi các hướng. Lửa cháy lớn lan qua gây cháy hai nhà xưởng kinh doanh nhựa phế liệu tiếp giáp bên cạnh của bà Trần Thị H M và ông Trần Quang Hải. Vụ việc trên được ông Nguyễn Văn H cùng mọi người phát hiện nên dùng vòi xịt chữa cháy và thông báo cho Cơ quan Công an Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy đến tiến hành chữa cháy, đến 21 giờ cùng ngày thì đám cháy được dập tắt hoàn toàn.”
Tải về
6. Bản án hình sự phúc thẩm số 39/2020/HS-PT ngày 17/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Sơ lược nội dung: “Khoảng 07h30, ngày 28/6/2019, Dương Văn C dọn dẹp nhà cửa của mình. Sau khi dọn xong, C gom rác là các túi ni long, bạt ni long đã mục ra phía sau nhà cách khoảng 10 mét châm lửa để đốt. Đến khoảng 08h00 cùng ngày, khi thấy rác đã cháy gần hết, C mang 03 gáo nước tưới lên chỗ đốt rác để dập lửa. Sau khi quan sát thấy đám cháy không còn lửa đỏ nên C nghĩ lửa đã tắt, rồi rời đi ra ngoài khỏi nhà. Khoảng 9h30, người dân xung quanh phát hiện thấy lửa bốc cháy phía sau nhà C nên điện báo lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy để dập tắt đám cháy. Vụ cháy làm rừng keo phía sau nhà đã bốc cháy. Kiểm tra xác định diện tích thực tế bị cháy là 6,589 ha rừng keo non, bạch đàn và lau lách thực bì.”
Tải về
7. Bản án hình sự sơ thẩm số 195/2019/HS-ST ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Sơ lược nội dung: “Sáng ngày 22/3/2019, Lò Thị P cùng chồng là anh Hà Văn T1 đi làm nương của gia đình giáp với rừng khu M thuộc tiểu khu C, xã C. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, P và anh T1 nghỉ ngơi ăn cơm tại lán nương. Sau khi ăn cơm xong, P đi vệ sinh tại khu vực bụi bương giáp với bìa rừng. Quá trình đi vệ sinh, P bị kiến đốt nên đã gom lá bương khô lại thành một đống chỗ tổ kiến rồi dùng bật lửa ga châm lửa đốt tổ kiến. Sau khi đốt tổ kiến xong, P dùng que đập vào đống lửa cho lửa tắt, còn than đỏ thì P không dập nốt mà đi xuống đường để cùng anh T1 đi về nhà. Khi P đi cách vị trí đã đốt tổ kiến khoảng 50m thì quay lại quan sát thấy bùng lên một ngọn lửa nhỏ, P nghĩ ngọn lửa nhỏ và nương của gia đình đã dọn sạch nên không có khả năng cháy lan vào rừng. Sau đó P đi đến vị trí anh T1 đợi, anh T1 có hỏi P tại sao lại đốt lửa thì P kể việc đốt tổ kiến cho anh T1 biết, anh T1 không nói gì. Sau đó anh T1 điều khiển xe mô tô chở P đi đến Bệnh viện đa khoa huyện Mộc Châu để thăm mẹ P bị ốm. Sau khi P và anh T1 đi về thì đống lửa do P đốt đã cháy to rồi cháy lan vào rừng khu M thuộc tiểu khu C, xã C và cháy lan sang rừng bản L, bản V của xã M, huyện M. Sau đó nhân dân phát hiện cháy rừng nên đã trình báo cơ quan chức năng tiến hành tổ chức chữa cháy và điều tra làm rõ vụ việc. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày thì đám cháy được dập tắt.”
Tải về
Bản án số 195/2019/HS-ST
8. Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2020/HS-ST ngày 09/06/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam
Sơ lược nội dung: “Lúc 13 giờ 30, ngày 10/7/ 2019, Đinh Văn H, Đinh Văn B, Đinh Văn Tr, Đinh Văn Tr1, Đinh Văn T và Đinh Văn H đang khai thác keo cho ông Huỳnh Văn Th. Huynh sử dụng cưa máy để cưa cây. Tr, T và H dùng rựa phát nhánh keo. Tr1 và B bóc vỏ keo. Đến 14 giờ nghỉ ngơi, Đinh Văn B thấy có nhiều dây leo, bụi rậm cản trở việc khai thác keo nên nảy sinh ý định dùng lửa đốt để thuận tiện cho việc khai thác. B lấy bật lửa đi lên một đoạn cách mọi người khoảng 01 đến 02 mét thì thấy có một đống lá keo khô. B dùng tay bật lửa lên đốt. Lúc này, trời nắng nóng, gió mạnh làm ngọn lửa bùng phát nhanh lan rộng đến các khu vực khác. B, H, Tr, Tr1, T và H cùng nhau dập lửa, nhưng vì ngọn lửa bùng phát quá lớn, lan rộng nên không dập lửa được dẫn đến vụ cháy rừng.”
Tải về
9. Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2017/HSST ngày 22/11/2017 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh
Sơ lược nội dung: “Vào ngày 11/8/2017 Phan Thanh T cùng với Nguyễn Văn H7, Nguyễn Văn N1 rủ nhau đi vào khu vực núi S thuộc thôn B2, xã S tìm tổ ong đốt. Khi đi đến đập M gần núi S thì N1 đứng ở dưới còn T và H7 đi lên núi S thì gặp anh Phạm Đức T3 và anh Nguyễn Đình L2 đang phát rừng ở đó. Tại đây, T và H7 tìm thấy một tổ ong nhưng vì xung quanh có nhiều lá khô sợ xẩy ra cháy rừng nên cả hai người không đốt mà đi xuống chổ N1 đang đứng chờ. Sau đó anh H7 đi về trước. T tiếp tục rủ N1 lên núi tìm tổ ong đốt. T và N1 đi lên núi M mỗi người một hướng. T phát hiện ra một tổ ong nên đi lại gần và lấy một cành thông khô dài khoảng 1m, lấy một ít lá khô buộc vào đầu cành thông rồi lấy bật lửa ga châm lửa để đốt. Do thời tiết nắng nóng, hanh khô, có gió lào thổi mạnh, xung quanh tổ ong có nhiều cành lá khô nên khi đốt ong ngọn lửa đã bén lan ra cháy khi vực xung quanh. Thấy ngọn lửa cháy to lan ra các vùng xung quanh nên T đã gọi N1 cùng với anh L2 và anh T3 đến dập lửa cùng. Sau đó T tiếp tục gọi điện cho người dân và chính quyền xã S có cháy rừng để vào dập lửa. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì đám cháy được dập tắt. hiện trường xác định diện tích rừng bị cháy là 19.670 m2.”
Tải về
10. Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2021/HS-ST ngày 18/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum
Sơ lược nội dung: “Ngày 11/3/2021, A P dọn rẫy và làm đường ranh cản lửa giữa rẫy của gia đình với rừng trồng cây thông ba lá (6 năm tuổi), chức năng rừng sản xuất, tại khoảnh 5 và khoảnh 8, tiểu khu 288, lâm phần do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Tô quản lý. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, thấy trời âm u, nghĩ có mưa nên A P dùng bật lửa đốt cỏ khô phía tiếp giáp với rừng thông, do làm đường ranh cản lửa không đảm bảo, nghĩ lửa không cháy lan sang rừng thông nên không thông báo cho cơ quan chức năng biết, mặc dù trước đó đã được tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về phòng chống cháy rừng. Đến khoảng 15 giờ thì ngọn lửa cháy lan đến giáp đường ranh cản lửa có nhiều cỏ khô và gặp gió thổi mạnh nên tạo ra nhiều tàn lửa bốc lên cao bay vào rừng thông dẫn đến cháy rừng. Tại Kết luận giám định tư pháp của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum, xác định số cây thông ba lá bị thiệt hại 3.038 cây, diện tích thiệt hại 2,66 ha.”
Tải về
Các tổng hợp nội dung có liên quan:
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm
—————————————————–
CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)
– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
– Điện thoại: 0941.767.076
– Email: amilawfirmdn@gmail.com
– Website: https://amilawfirm.com/
– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm







