Trang chủ / Tài liệu / TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN TỘI TRỐN THUẾ

TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN TỘI TRỐN THUẾ

Tội trốn thuế là hành vi xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, được quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự. Quy định này xác định rõ các hành vi cấu thành tội phạm như không nộp hồ sơ khai thuế, không xuất hóa đơn, sử dụng hóa đơn – chứng từ không hợp pháp, khai sai doanh thu, lợi dụng chính sách tự khai, tự nộp để làm giảm số thuế phải nộp. Bên cạnh chế tài hình sự đối với cá nhân và pháp nhân thương mại, Nghị định 125/2020/NĐ-CP còn quy định mức xử phạt hành chính theo số lần và mức độ vi phạm. Thực tiễn xét xử qua nhiều bản án sơ thẩm, phúc thẩm cho thấy việc định tội danh phụ thuộc chủ yếu vào số tiền trốn thuế, tính chất hành vi và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.

 

MỤC LỤC

1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025

Điều 200. Tội trốn thuế

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật;

b) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;

c) Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán;

d) Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;

đ) Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn;

e) Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;

g) Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;

h) Câu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;

i) Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Số tiền trốn thuế từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

 

3. Phạm tội trốn thuế với số tiền 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 4.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

 

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

 

5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này trốn thuế với số tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195 và 196 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d và đ khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.


2. Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định 310/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 16/01/2026

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

[…]

3. Số tiền thuế trốn là số tiền thuế phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế mà người nộp thuế bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện và xác định trong biên bản vi phạm hành chính, biên bản thanh tra (kiểm tra) thuế.

[…]

7. Vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp là vụ việc được phát hiện qua thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế; vụ việc cần tham vấn từ các cơ quan, tổ chức chuyên ngành; vụ việc có hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn hoặc hành vi trốn thuế.

8. Vụ việc đặc biệt nghiêm trọng là vụ việc có hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn hoặc hành vi trốn thuế liên tiếp từ ba kỳ tính thuế trở lên.

 

Điều 8. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn; thời hạn được coi là chưa bị xử phạt; thời hạn truy thu thuế

2. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế

b) Thời hiệu xử phạt đối với hành vi trốn thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn là 05 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.

Ngày thực hiện hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn hoặc hành vi trốn thuế (trừ hành vi tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định này) là ngày tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế mà người nộp thuế thực hiện khai thiếu thuế, trốn thuế hoặc ngày tiếp theo ngày cơ quan có thẩm quyền ra quyết định miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế.

Đối với hành vi không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định này là hành vi vi phạm hành chính về thuế đang được thực hiện, ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm. Đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày quy định tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định này thì ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế.”.

 

Điều 17. Xử phạt hành vi trốn thuế

1. Phạt tiền 1 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế có từ một tình tiết giảm nhẹ trở lên khi thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc kể từ ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, trừ trường hợp quy định tại điểm b, c khoản 4 và khoản 5 Điều 13 Nghị định này;

b) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp, không khai, khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm thuế, trừ hành vi quy định tại Điều 16 Nghị định này;

c) Không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp người nộp thuế đã khai thuế đối với giá trị hàng hóa, dịch vụ đã bán, đã cung ứng vào kỳ tính thuế tương ứng; lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ sai về số lượng, giá trị hàng hóa, dịch vụ để khai thuế thấp hơn thực tế và bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế;

d) Sử dụng hóa đơn không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp hóa đơn để khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm;

đ) Sử dụng chứng từ không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp chứng từ; sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, giảm, số tiền thuế được hoàn; lập thủ tục, hồ sơ hủy vật tư, hàng hóa không đúng thực tế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, được miễn, giảm;

e) Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng, khai thuế với cơ quan thuế;

g) Người nộp thuế có hoạt động kinh doanh trong thời gian xin ngừng, tạm ngừng hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan thuế, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều 10 Nghị định này.

 

2. Phạt tiền 1,5 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này mà không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

 

3. Phạt tiền 2 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này mà có một tình tiết tăng nặng.

 

4. Phạt tiền 2,5 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này có hai tình tiết tăng nặng.

 

5. Phạt tiền 3 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này có từ ba tình tiết tăng nặng trở lên.

 

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc nộp đủ số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước đối với các hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này.

Trường hợp hành vi trốn thuế theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 ,4, 5 Điều này đã quá thời hiệu xử phạt thì người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế nhưng người nộp thuế phải nộp đủ số tiền thuế trốn, tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước theo thời hạn quy định tại khoản 6 Điều 8 Nghị định này.

b) Buộc điều chỉnh lại số lỗ, số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ trên hồ sơ thuế (nếu có) đối với hành vi quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này.

 

7. Các hành vi vi phạm quy định tại điểm b, đ, e khoản 1 Điều này bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế nhưng không làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc chưa được hoàn thuế, không làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định này.

 

Điều 19. Xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với tổ chức, cá nhân liên quan

1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế, tài khoản của người nộp thuế theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu của cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ 05 ngày trở lên.

 

2. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Cung cấp không chính xác thông tin liên quan đến tài sản, quyền, nghĩa vụ về tài sản của người nộp thuế do mình nắm giữ; thông tin, tài liệu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế;

b) Cung cấp không chính xác thông tin liên quan đến tài khoản của người nộp thuế tại tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế;

c) Cung cấp không chính xác thông tin liên quan đến tiền lương, tiền công hoặc thu nhập của người nộp thuế do mình nắm giữ theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế.

 

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không cung cấp thông tin liên quan đến tài sản, quyền, nghĩa vụ về tài sản của người nộp thuế do mình nắm giữ; thông tin, tài liệu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế;

b) Không cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản của người nộp thuế tại tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế;

c) Không cung cấp thông tin liên quan đến tiền lương, tiền công hoặc thu nhập của người nộp thuế do mình nắm giữ theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế;

d) Thông đồng, bao che người nộp thuế trốn thuế, không thực hiện quyết định cưỡng chế hành chính thuế, trừ hành vi không trích chuyển tiền từ tài khoản của người nộp thuế quy định tại Điều 18 Nghị định này.

 

4. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác đối với hành vi quy định tại khoản 2 và điểm a, b, c khoản 3 Điều này.”.


3. Thông tư liên tịch số 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 26/3/2013 của Bộ Tư pháp – Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính – kế toán và chứng khoán

Điều 1. Về tội trốn thuế (Điều 161 BLHS)

1. Người phạm tội trốn thuế là người thực hiện một trong các hành vi được quy định tại Điều 108 của Luật Quản lý thuế, đồng thời thỏa mãn các dấu hiệu được quy định tại Điều 161 của BLHS.

2. Phạm tội trốn thuế trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại khoản 3 Điều 161 của BLHS được hiểu là trường hợp tuy số tiền trốn thuế có giá trị từ 300 triệu đồng đến dưới 600 triệu đồng, nhưng người phạm tội đồng thời thực hiện một trong các hành vi liên quan khác mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm độc lập, như: đưa hối lộ; chống người thi hành công vụ; gây thương tích cho người thi hành công vụ; hủy hoại tài sản của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế và các cơ quan nhà nước khác có trách nhiệm trong việc thực hiện quản lý thuế. Trường hợp các hành vi này có đủ yếu tố cấu thành tội phạm khác thì ngoài tội trốn thuế, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng.


4. Công văn số 4819/TCT-PC ngày 12/11/2020 của Tổng cục thuế về việc chuyển lỗ và xử phạt hành vi trốn thuế qua thanh tra thuế

1. Về việc chuyển hành vi trốn thuế sang hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn khi xử phạt vi phạm hành chính.

Điểm c, d khoản 1 Điều 10 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 quy định:

“Điều 10. Xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn

1.Các trường hợp khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, bao gồm:

c) Hành vi khai sai của người nộp thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản kiểm tra thuế, kết luận thanh tra thuế xác định là có hành vi khai man trốn thuế, nhưng người nộp thuế vi phạm lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ và đã tự giác nộp đủ số tiền thuế vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt thì cơ quan thuế lập biên bản ghi nhận để xác định lại hành vi khai thiếu thuế.

d) Sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm nhưng khi cơ quan thuế kiểm tra phát hiện, người mua chứng minh được lỗi vi phạm sử dụng hóa đơn bất hợp pháp thuộc về bên bán hàng và người mua đã hạch toán kế toán đầy đủ theo quy định.”

 

Khoản 7 Điều 67 Thông tư số 156/TT-BTC ngày 06/11/2013 quy định việc chuyển hồ sơ thanh tra thuế sang cơ quan điều tra như sau:

“Điều 66. Trình tự, thủ tục thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế

7. Trường hợp qua thanh tra thuế mà phát hiện hành vi trốn thuế có dấu hiệu tội phạm thì đoàn thanh tra lập biên bản tạm dừng thanh tra tại đơn vị và có trách nhiệm báo cáo lãnh đạo bộ phận thanh tra để trình người ban hành quyết định thanh tra chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật.”

 

Điều 24 Thông tư số 166/2013/TT-BTC quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính về thuế ngày 15/11/2013 quy định:

1. Trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính về thuế, nếu xét thấy tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về thuế có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

2. Trường hợp, người có thẩm quyền xử phạt đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, đang trong thời gian thi hành quyết định xử phạt, nếu hành vi vi phạm được phát hiện có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đó và trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ phải chuyển hồ sơ xử lý vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền để xử lý; trường hợp đã thi hành xong quyết định xử phạt thì người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự để xử lý.

Hồ sơ chuyển giao bao gồm: quyết định chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xử lý; bản sao biên bản về hành vi vi phạm hành chính về thuế hoặc biên bản kiểm tra, thanh tra thuế; bản sao kết quả giám định, xác minh (nếu có); bản sao tài liệu khác có liên quan; bản sao quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế (nếu có); quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định xử phạt đối với trường hợp chưa thi hành quyết định xử phạt. Việc chuyển giao hồ sơ phải được lập thành biên bản.

3. Theo quy định tại Điều 62 Luật xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã nhận hồ sơ vụ việc theo Khoản 1, 2 Điều này có trách nhiệm xem xét, kết luận vụ việc và thông báo kết quả giải quyết bằng văn bản cho người có thẩm quyền đã chuyển hồ sơ trong thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; trường hợp không khởi tố vụ án hình sự thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải trả hồ sơ vụ việc cho người có thẩm quyền xử phạt đã chuyển hồ sơ đến.

Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có quyết định khởi tố vụ án thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuế phải hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính thuế và chuyển tài liệu về việc thi hành quyết định xử phạt cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

4. Việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự phải được thông báo cho cá nhân vi phạm.

5. Trường hợp người có thẩm quyền xử phạt đã chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, nhưng quá thời hạn 03 ngày, kể từ ngày hết hạn ra quyết định khởi tố hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật về luật tố tụng hình sự mà người có thẩm quyền xử phạt chưa nhận được thông báo của cơ quan tiến hành tố tụng về việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế, có văn bản đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã nhận hồ sơ, chuyển trả lại hồ sơ vụ vi phạm đề người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế hoặc tiếp tục thi hành quyết định xử phạt đối với trường hợp khi chuyển hồ sơ người có thẩm quyền xử phạt đã ban hành quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định xử phạt.”

 

Điều 25 Thông tư số 166/2013/TT-BTC quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính về thuế ngày 15/11/2013 quy định:

“1. Theo quy định tại Điều 63 Luật xử lý vi phạm hành chính thì đối với những vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính về thuế, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật của vụ vi phạm và để nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế.

Trường hợp, cơ quan Kiểm toán Nhà nước, cơ quan thanh tra, thanh tra, kiểm tra theo chức năng trong quá trình thanh tra, kiểm tra phát hiện các hành vi vi phạm hành chính về thuế của người nộp thuế nhưng không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì sau thời hạn 03 ngày, kể từ ngày có kết luận về hành vi vi phạm hành chính về thuế phải chuyển hồ sơ và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính về thuế.

Trường hợp, cơ quan thanh tra tiến hành thanh tra theo chức năng nhiệm vụ, trong quá trình thanh tra phát hiện hành vi vi phạm hành chính về thuế mà có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thì phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Trường hợp, cơ quan thanh tra cấp dưới vượt thẩm quyền xử phạt thì chuyển hồ sơ lên cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để xử lý theo quy định.

Trong trường hợp vi phạm hành chính về thuế thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thì vụ xử phạt vi phạm hành chính do người thụ lý đầu tiên thực hiện.

2. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế căn cứ vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan nêu trên chuyển đến để ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế. Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền xử phạt tiến hành xác minh thêm tình tiết để làm căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế.

3. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được các quyết định quy định tại Khoản 1, 2 Điều này kèm theo hồ sơ vụ vi phạm. Trường hợp cần xác minh thêm theo quy định tại Khoản 2 Điều này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được các quyết định nêu trên.”

 

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp chuyển hành vi trốn thuế để xử phạt như đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn thuộc điểm c khoản 1 Điều 10 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 nêu trên chỉ áp dụng khi đáp ứng đồng thời ba điều kiện: vi phạm lần đầu; có tình tiết giảm nhẹ và đã tự giác nộp đủ số tiền thuế thiếu vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt. Việc chuyển hành vi này phải được các cơ quan có thẩm quyền thanh tra thuế, kiểm tra thuế ghi nhận tại biên bản thanh tra, kiểm tra thuế.

 

Đối với hành vi trốn thuế do sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm để được chuyển sang xử lý theo điểm d khoản 1 Điều 10 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 nêu trên thì người mua hàng hóa, dịch vụ phải chứng minh được lỗi vi phạm sử dụng hóa đơn bất hợp pháp thuộc về bên bán hàng, bên cung cấp dịch vụ và người mua đã hạch toán kế toán đầy đủ theo quy định.

 

Theo báo cáo của Cục Thuế, doanh nghiệp có hành vi trốn thuế nhưng chưa nêu cụ thể, rõ ràng từng hành vi vi phạm và các tình tiết liên quan nên đề nghị Cục Thuế căn cứ vào hồ sơ, tài liệu và tình hình thực tế tại doanh nghiệp để xem xét, quyết định việc chuyển hành vi theo đúng quy định. Trường hợp hành vi trốn thuế có dấu hiệu tội phạm. Cục thuế thực hiện việc chuyển hồ sơ sang cơ quan công an yêu cầu cơ quan công an điều tra, xử lý vụ việc theo quy định.


5. Công văn số 292/TCT-PC ngày 03/02/2023 của Tổng cục thuế về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trốn thuế

Trả lời Công văn số 9/CTHNA-NVDTPC ngày 05/01/2023 của Cục Thuế tỉnh Hà Nam về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trốn thuế đã quá thời hiệu xử phạt, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

– Khoản 2, 3 Điều 110 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH1 ngày 29/11/2006 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 35 Điều 1 Luật số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012) quy định:

“2. Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn, thời hiệu xử phạt là năm năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.

3. Quá thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Trường hợp người nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.”

 

– Khoản 2, 4 Điều 2 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 quy định:

“2. Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn thì thời hiệu xử phạt là 05 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm đến ngày ra quyết định xử phạt.

Thời điểm xác định hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn; hành vi trốn thuế, gian lận thuế là ngày tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế mà người nộp thuế thực hiện khai thiếu thuế, hành vi trốn thuế, gian lận thuế hoặc ngày tiếp theo ngày cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế.”

“4. Thời hạn truy thu thuế

Quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.

Trường hợp người nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp tiền thuế cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. ”

 

– Khoản 6 Điều 11 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP quy định: “6. Các hành vi trốn thuế, gian lận thuế bị xử phạt quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này còn bị buộc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là nộp đủ số tiền thuế trốn, gian lận vào ngân sách nhà nước là số tiền thuế phải nộp ngân sách nhà nước, nhưng không phải nộp tiền chậm nộp tiền thuế đối với số thuế trốn, số thuế gian lận.”

Căn cứ các quy định nêu trên, người nộp thuế có hành vi trốn thuế, có số tiền thuế trốn phải truy thu thuộc trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không bị tính tiền chậm nộp trong trường hợp người nộp thuế bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế theo số lần thuế trốn theo quy định tại Luật quản lý thuế 2006 và Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 11 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP. Trường hợp cơ quan thuế phát hiện người nộp thuế thực hiện hành vi trốn thuế, có phát sinh số tiền thuế trốn thuộc trường hợp xử phạt vi phạm hành chính, đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế nhưng còn thời hạn truy thu thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế nhưng phải nộp đủ số tiền thuế trốn và tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước theo quy định.


6. Công văn số 2109/TCT-PC ngày 29/5/2023 của Tổng cục thuế về việc vướng mắc xử phạt vi phạm hành chính

1. Về tính tiền chậm nộp khi người nộp thuế bị xử phạt hành vi trốn thuế

– Căn cứ điểm b, điểm c khoản 4, khoản 5 Điều 13 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ;

– Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2, khoản 6 Điều 17 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ.

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp người nộp thuế chậm nộp tờ khai trên 90 ngày, có phát sinh số tiền thuế phải nộp, chưa nộp NSNN (không có tình tiết tăng nặng giảm nhẹ; chưa quá thời hiệu xử phạt) thì bị xử phạt về hành vi trốn thuế theo khoản 2 Điều 17 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp đủ số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước, không bị tính tiền chậm nộp.

 

2. Về xác định mức phạt vi phạm hành chính

– Căn cứ khoản 6 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020);

– Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020);

– Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ;

– Căn cứ điểm d khoản 4 Điều 7 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ;

– Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 118/2020/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ;

– Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 118/2020/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ;

– Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 13 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ.

Căn cứ quy định nêu trên, người nộp thuế thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà trước đó đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính này nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý thì được xác định là tình tiết tăng nặng vi phạm nhiều lần. Trường hợp người nộp thuế cùng một thời điểm nộp nhiều hồ sơ khai thuế GTGT của nhiều kỳ khác nhau thuộc trường hợp bị xử phạt về thủ tục thuế thì chỉ bị xử phạt về một hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế có khung phạt tiền cao nhất trong số các hành vi đã thực hiện với 01 tình tiết tăng nặng vi phạm nhiều lần.

 

3. Về bất cập trong xử phạt đối với hành vi trốn thuế trong các trường hợp số tiền thuế trốn nhỏ

– Căn cứ khoản 4, khoản 5 Điều 13 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ;

– Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 17 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ;

– Căn cứ Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung bởi Bộ luật Hình sự năm 2017).

 

Trong hệ thống hành vi vi phạm pháp luật về thuế, hành vi trốn thuế có tính chất, mức độ nghiêm trọng nhất nên mức tiền phạt không cố định như mức phạt đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế mà được xác định theo số lần tiền thuế trốn, thường có số tiền phạt lớn. Đồng thời, hành vi trốn thuế còn bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung bởi Bộ luật Hình sự năm 2017). Ngoài ra, việc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế mà còn vi phạm về hành vi này còn là tình tiết để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế khi mức tiền thuế trốn dưới mức quy định. Đối với hành vi vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, mức phạt tiền cao nhất đối với cá nhân là 12.500.000 đồng. Do đó, việc căn cứ vào số tiền phạt cụ thể đối với 02 hành vi này trong tình huống có tính đặc thù như của Cục Thuế nêu để cho rằng có sự không công bằng là không phù hợp do không phản ánh đúng tính chất, hậu quả của mức phạt đối với hành vi trốn thuế và mục đích ngăn chặn, phòng ngừa của các quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về thuế.


7. Công văn số 2865/TCT-PC ngày 11/7/2023 của Tổng cục thuế về việc vướng mắc về xử phạt vi phạm hành chính 

Điều 16, Điều 17 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn quy định:

– “Điều 16. Xử phạt hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn

1. Phạt 20% số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế đã được miễn, giảm, hoàn cao hơn so với quy định đối với một trong các hành vi sau đây:

c) Khai sai làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản thanh tra, kiểm tra thuế, biên bản vi phạm hành chính xác định là hành vi trốn thuế nhưng người nộp thuế vi phạm hành chính lần đầu về hành vi trốn thuế, đã khai bổ sung và nộp đủ số tiền thuế vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt và cơ quan thuế đã lập biên bản ghi nhận để xác định là hành vi khai sai dẫn đến thiếu thuế;”

 

– “Điều 17. Xử phạt hành vi trốn thuế

1. Phạt tiền 1 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế có từ một tình tiết giảm nhẹ trở lên khi thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc kể từ ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, trừ trường hợp quy định tại điểm b, c khoản 4 và khoản 5 Điều 13 Nghị định này;

b) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp, không khai, khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm thuế, trừ hành vi quy định tại Điều 16 Nghị định này; ”

 

Căn cứ các quy định pháp luật nên trên, trường hợp người nộp thuế không nộp hồ sơ khai thuế nhà thầu nước ngoài đã được xác định là hành vi trốn thuế theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP thì không thuộc trường hợp được chuyển hành vi sang hành vi khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP. Người nộp thuế sẽ bị xem xét xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định. Việc người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế nhà thầu nước ngoài lần đầu theo mô tả của Cục Thuế không phải là trường hợp người nộp thuế có hành vi khai sai và đã khai bổ sung hồ sơ khai thuế được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP.


8. Bản án hình sự phúc thẩm số 326/2025/HS-PT ngày 31/12/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Sơ lược nội dung: Bị cáo Nguyễn Văn T là Giám đốc Công ty TNHH M, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh vật liệu xây dựng tại tỉnh Đắk Lắk. Trong quá trình hoạt động kinh doanh năm 2021 và 2022, nhằm giảm số thuế phải nộp, bị cáo đã mua hóa đơn giá trị gia tăng không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo của các doanh nghiệp khác để hợp thức hóa chi phí đầu vào, kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng và giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Qua kiểm tra, cơ quan thuế xác định tổng giá trị hàng hóa ghi trên các hóa đơn sử dụng trái pháp luật là nhiều tỷ đồng, làm giảm số thuế phải nộp, với tổng số tiền trốn thuế trên 300.000.000 đồng.

Tải về

Bản án số 326/2025/HS-PT


9. Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST ngày 23/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Đắk Lắk 

Sơ lược nội dung: Công ty TNHH X1 do Phạm Xuân L làm Giám đốc, Phạm Thị L3 (vợ L) đã liên hệ mua 26 hóa đơn GTGT không kèm hàng hóa, sau đó sử dụng để kê khai thuế GTGT và thuế TNDN năm 2020, với tổng số tiền trốn thuế là 581.900.271 đồng. Đối với Công ty cổ phần T7 do Nguyễn Văn C làm Giám đốc, Lê Thị L4 (vợ C) đã mua 11 hóa đơn GTGT không hợp pháp để kê khai khấu trừ thuế GTGT và giảm thuế TNDN năm 2020, với tổng số tiền trốn thuế là 173.040.000 đồng. Đối với Công ty TNHH T8 do Trịnh Bá G1 làm Giám đốc, bị cáo đã mua 10 hóa đơn GTGT để hợp thức hóa hàng hóa đầu vào và sử dụng 08 hóa đơn để kê khai thuế, trốn thuế với số tiền 166.801.998 đồng.

Hành vi của các bị cáo Phạm Xuân L, Phạm Thị L3, Nguyễn Văn C, Lê Thị L4 và Trịnh Bá G1 đã phạm vào “Tội trốn thuế” theo Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án xác định: Phạm Xuân L và Phạm Thị L3 trốn thuế với số tiền trên 300 triệu đồng nên bị truy tố, xét xử theo điểm b khoản 2 Điều 200; các bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Thị L4 và Trịnh Bá G1 trốn thuế từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng nên bị truy tố, xét xử theo khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự.

Tải về

Bản án số 16/2025/HS-ST


10. Bản án hình sự phúc thẩm số 566/2025/HS-PT ngày 17/11/2025 của Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

Sơ lược nội dung: Bị cáo Trần Trí M là Giám đốc, đại diện theo pháp luật Công ty TNHH T3, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh phụ tùng xe gắn máy, dầu nhớt. Từ năm 2018 đến năm 2020, lợi dụng chính sách doanh nghiệp tự kê khai, tự nộp thuế, bị cáo đã chỉ đạo nhân viên bán hàng không xuất hóa đơn, không kê khai đầy đủ doanh thu thực tế, lập sổ theo dõi nội bộ riêng và chỉ cung cấp một phần chứng từ cho người làm dịch vụ kế toán để kê khai thuế, nhằm làm giảm số thuế phải nộp. Tổng doanh thu thực tế của Công ty T3 trong giai đoạn này là 176.776.941.000 đồng nhưng chỉ kê khai 21.955.092.725 đồng; phần doanh thu không kê khai là 154.821.848.275 đồng, dẫn đến tổng số tiền trốn thuế là 46.446.545.483 đồng (gồm thuế GTGT 15.482.181.828 đồng và thuế TNDN 30.964.363.655 đồng).

Hành vi của bị cáo Trần Trí M đã phạm vào “Tội trốn thuế”. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trốn thuế” theo khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt 03 năm tù; tổng hợp hình phạt với các bản án trước đó, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 22 năm tù; đồng thời phạt bổ sung 100.000.000 đồng và truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 46.446.545.483 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tải về

Bản án số 566/2025/HS-PT


Các tổng hợp nội dung có liên quan

 

Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội rửa tiền

 

Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội tham ô tài sản

 

Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội nhận hối lộ

 

Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội buôn lậu

—————————————————–

CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)

– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

– Điện thoại: 0941.767.076

– Email: amilawfirmdn@gmail.com

– Website: https://amilawfirm.com/

– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm

Bài viết liên quan