Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có diễn biến ngày càng phức tạp với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, từ việc rủ rê, lôi kéo người khác sử dụng ma túy đến chuẩn bị địa điểm, cung cấp dụng cụ hoặc tạo điều kiện cho nhiều người cùng sử dụng trái phép chất ma túy nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng. Hiện nay, tội danh này được quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy; tuy nhiên trong thực tiễn áp dụng vẫn còn phát sinh một số vướng mắc, đặc biệt trong việc xác định dấu hiệu tổ chức và phân biệt với các hành vi liên quan như chứa chấp hoặc lôi kéo người khác sử dụng ma túy. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các quy định và nguồn hướng dẫn có liên quan, phục vụ cho việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật trong thực tiễn.
1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025
Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;
d) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;
đ) Đối với người đang cai nghiện;
e) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;
h) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;
b) Gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;
d) Đối với người dưới 13 tuổi.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
b) Làm chết 02 người trở lên.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
2. Thông tư liên lịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS 1999 được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Thông tư liên tịch 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP có hiệu lực ngày 30/12/2015
I. Về một số khái niệm và một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt
1.1. “Chất ma túy” là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành. Trong đó, cần phân biệt các trường hợp sau:
a) Đối với các chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch hoặc chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng thì không coi toàn bộ dung dịch hoặc dung dịch pha loãng này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng chất ma túy trong dung dịch để tính trọng lượng chất ma túy đó.
Ví dụ: Thuốc phiện, hêrôin được hòa thành dung dịch thì không coi toàn bộ dung dịch này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng moócphin cùng với các thành phần khác của thuốc phiện trong dung dịch để tính trọng lượng của thuốc phiện hoặc xác định hàm lượng moócphin cùng với các thành phần khác của hêrôin để tính trọng lượng hêrôin.
b) Đối với xái thuốc phiện thì không coi là nhựa thuốc phiện mà phải xác định hàm lượng moocphin trong xái thuốc phiện để tính trọng lượng của thuốc phiện.
[…]
1.4. Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại và trọng lượng chất ma túy, tiền chất thu giữ được. Bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng đẻ xác định trọng lượng chất ma túy trong các trường hợp sau:
a) Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch;
b) Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng;
c) Xái thuốc phiện;
d) Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần;
Ngoài các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d tiết 1.4 Mục này, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật.
Nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi phạm tội ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy.
Trường hợp một người biết là chất ma túy giả nhưng làm cho người khác tưởng là chất ma túy thật nên mua bán, trao đổi… thì người đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm về ma túy mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật Hình sự, nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác nữa trong cấu thành tội phạm của tội này.
Trường hợp không thu giữ được vật chứng là chất ma túy, tiền chất nhưng có căn cứ xác định được trọng lượng chất ma túy, tiền chất mà người phạm tội đã mua bán, vận chuyển, tàng trữ hoặc chiếm đoạt thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh và điều khoản tương ứng.
2. Về một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt
[…]
2.3. Tình tiết “phạm tội nhiều lần” quy định tại khoản 2 các điều 193, 194, 195, 196, 197, 198, 200 và 201 của BLHS được hiểu là đã có từ hai lần phạm tội trở lên (hai lần sản xuất trái phép chất ma túy trở lên, hai lần tàng trữ trái phép chất ma túy trở lên, hai lần bán trái phép chất ma túy trở lên…) mà mỗi lần phạm tội có đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 điều luật tương ứng, đồng thời trong số các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trong trường hợp này người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số lượng chất ma túy của các lần cộng lại, nếu điều luật có quy định về số lượng chất ma túy để định khung hình phạt.
Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy; cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy đối với một người từ hai lần trở lên cũng bị coi là phạm tội nhiều lần.
2.4. Tình tiết “phạm tội đối với nhiều người” quy định tại khoản 2 các điều 197,198 và 200 của BLHS được hiểu là trong một lần phạm tội, người phạm tội đã thực hiện tội phạm đối với từ hai người trở lên (ví dụ: Trong một lần phạm tội tổ chức cho từ hai người trở lên sử dụng trái phép chất ma túy; trong một lần phạm tội chứa chấp từ hai người trở lên sử dụng trái phép chất ma túy; trong một lần phạm tội cưỡng bức, lôi kéo từ hai người trở lên sử dụng trái phép chất ma túy).
6. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197)
6.1. “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây:
a) Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác;
b) Chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy.
Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác thì bị coi là đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; cung cấp trái phép chất ma túy cho người khác để họ sử dụng trái phép chất ma túy; chuẩn bị chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ, sản xuất…) nhằm đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; chuẩn bị địa điểm (thuê địa điểm, mượn địa điểm, sử dụng địa điểm không thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý để làm nơi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác); chuẩn bị dụng cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ…) nhằm sử dụng để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; tìm người sử dụng chất ma túy để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của họ.
6.2. Khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cần phân biệt:
a) Người nghiện ma túy có chất ma túy (không phân biệt nguồn gốc ma túy do đâu mà có) cho người nghiện ma túy khác chất ma túy để cùng sử dụng trái phép thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mà tùy từng trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc tội sử dụng trái phép chất ma túy;
b) Người nào thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mà còn thực hiện một hay nhiều hành vi phạm tội khác về ma túy quy định tại các điều luật tương ứng của BLHS, thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 197 của BLHS, tùy từng trường hợp còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác đã thực hiện quy định tại điều luật tương ứng của BLHS.
6.3. Về một số tình tiết là yếu tố định khung quy định tại Điều 197 của BLHS.
a) “Đối với người đang cai nghiện” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 197 của BLHS là trường hợp phạm tội đối với người mà người đó đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận họ nghiện ma túy và đang được cai nghiện tại trung tâm cai nghiện, tại gia đình hoặc tại cộng đồng dân cư.
b) “Gây bệnh nguy hiểm cho người khác” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 197 của BLHS là trường hợp người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (có thể biết hoặc không biết) đã gây ra một số bệnh nguy hiểm cho người sử dụng chất ma túy như HIV/AIDS, viêm gan B, lao…
Trường hợp người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy biết bản thân họ hoặc người khác đã nhiễm HIV mà cố ý lây truyền HIV cho người sử dụng chất ma túy thì cùng với việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 197 của BLHS, người này còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lây truyền HIV cho người khác theo quy định tại Điều 117 của BLHS hoặc tội cố ý truyền HIV cho người khác theo quy định tại Điều 118 của BLHS.
c) “Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 197 của BLHS là gây bệnh nguy hiểm cho từ hai người trở lên.
d) “Gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 197 của BLHS là trường hợp gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên mà tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%.
đ) “Gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người mà tỷ lệ thương tật 61% trở lên” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 197 của BLHS là trường hợp gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên mà tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên.
7. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 198)
[…]
7.3. Khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy cần phân biệt:
a) Người có địa điểm cho người khác mượn hoặc thuê địa điểm mà biết là họ dùng địa điểm đó không phải để họ sử dụng chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy, mà dùng địa điểm đó để đưa chất ma túy trái phép vào cơ thể người khác, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 197 của BLHS.
3. Công văn số 03/VKS ngày 03/01/2000 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thống nhất đường lối xử lý một số trường hợp cụ thể thuộc các tội phạm về ma túy do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
1. Về tội danh:
a. Về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Căn cứ theo quy định của Điều 185 (i) BLHS và hướng dẫn của Thông tư 02 thì: Người phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bao gồm các đối tượng phạm tội là người không nghiện ma túy, và những người nghiện ma túy, nên khi giải quyết những vụ án thuộc loại tội này trước hết cần phải xác định được bản chất của sự việc. Đó thực chất là việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay chỉ là những người nghiện ma túy tụ tập với nhau sử dụng trái phép chất ma túy?
Đối với những người nghiện ma túy có quan hệ quen biết tụ tập nhau để sử dụng trái phép chất ma túy. Nguồn ma túy và dụng cụ tiêm chích là do góp tiền mua hoặc luân phiên nhau bỏ tiền mua (nay người này, mai người khác), địa điểm tụ tập sử dụng ma túy không cố định, thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 185 (i) BLHS nếu đối tượng nào trong số họ có thêm một trong các điều kiện quy định tại tiết g điểm 2 thông tư liên tịch số 02.
4. Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp vướng mắc trong xét xử
1. Đối tượng có hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng, nhưng không phát hiện có người chỉ huy, phân công, điều hành đối tượng để đưa ma túy cho người khác sử dụng. Vậy trường hợp này có xử lý đối tượng là người trực tiếp đã cung cấp ma túy cho người khác về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” hay không?
Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không đồng nhất với khái niệm “phạm tội có tổ chức”. Theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự thì “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.” Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Còn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, điểm, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy[1]. Trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng có đồng phạm nhưng đồng phạm ở đây được hiểu là thực hiện theo sự chỉ huy, phân công điều hành (không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, không bắt buộc phải có sự phân công, chỉ đạo, điều hành chặt chẽ trong các đồng phạm).
Do đó, hành vi cung cấp ma túy cho người khác sử dụng là một trong các hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Người có hành vi này bị xử lý theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
5. Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/08/2021 về việc giải đáp một số vướng mắc trong xét xử
7. A là người đi mua ma túy về (B không biết A mua ma túy). Sau đó A và B đến nhà C chơi. Khi đến nhà C, A mới bỏ ma túy ra và bảo “ai chơi thì chơi”. Lúc này cả 03 người cùng sử dụng ma túy, sau đó D đến nhà C và thấy ma túy trên bàn nên đã tự lấy sử dụng. A, B, C và D đều là người nghiện ma túy. Vậy A có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay không?
Theo Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30-6-2020 của Tòa án nhân dân tối cao về giải đáp nghiệp vụ thì: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Trong trường hợp này, A là người cung cấp ma túy cho B, C, D để họ thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi cung cấp ma túy cho người khác sử dụng là một trong các hành vi “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
6. Thông báo số 33/TB-VC2-V1 ngày 15/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Nguyễn Thị Hồng Tài cùng đồng phạm bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung:
– Sai sót trong việc áp dụng pháp luật: Cấp sơ thẩm xác định hành vi của các bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng chưa áp dụng đúng tình tiết định khung “đối với 02 người trở lên”, mặc dù thực tế có nhiều người cùng tham gia sử dụng ma túy.
– Bỏ lọt người phạm tội: Quá trình giải quyết vụ án chưa xem xét đầy đủ trách nhiệm hình sự của Nguyễn Phát Hưng, là người tham gia góp tiền mua ma túy và cùng sử dụng, nên có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.
– Hệ quả: Do các sai sót trên, cơ quan có thẩm quyền đã hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại, nhằm xác định đúng vai trò của từng người và áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự.
Tải về
7. Thông báo số 34/TB-VC2-V1 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm vụ án Nguyễn Văn Th và đồng phạm bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung:
– Xác định sai tội danh: Các bị cáo cùng góp tiền mua ma túy và tổ chức sử dụng nhưng cấp sơ thẩm lại truy tố, xét xử một số bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thay vì “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
– Áp dụng hình phạt chưa phù hợp: Do xác định sai tội danh nên mức hình phạt tuyên đối với các bị cáo chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội.
– Áp dụng sai Điều 54 BLHS: Tòa án cho bị cáo Nguyễn Văn Th hưởng mức án dưới khung dù chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ, không đủ điều kiện theo quy định.
Tải về
8. Thông báo số 71/TB-VC2-V1 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Nguyễn Thị Xuân Hồng bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử xác định Nguyễn Thị Xuân Hồng là người rủ các đối tượng khác sử dụng ma túy, trực tiếp mua ma túy, mang vào phòng karaoke và chuẩn bị dụng cụ để cả nhóm cùng sử dụng. Do đó, hành vi của Hồng đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là xác định sai tội danh, nên bản án đã bị hủy để điều tra lại.
Tải về
9. Thông báo số 29/TB-VC2-V1 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Lưu Ngọc Thuận, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung:
– Xác định sai tội danh: Lưu Ngọc Thuận đã cung cấp ma túy, chuẩn bị địa điểm và cho nhiều người cùng sử dụng, có dấu hiệu của tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không đúng.
– Áp dụng hình phạt chưa nghiêm: Do xác định sai tội danh nên việc xử phạt 1 năm 6 tháng tù cho hưởng án treo là quá nhẹ, không tương xứng với tính chất hành vi phạm tội.
– Bỏ lọt người phạm tội: Cơ quan tiến hành tố tụng chưa truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Lộc, người tham gia chuẩn bị địa điểm và rủ thêm người đến sử dụng ma túy.
Tải về
10. Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Sơ lược nội dung: Theo hồ sơ vụ án, ngày 14/8/2023 Nguyễn Văn C mua ma túy Methamphetamine tại Thành phố Hồ Chí Minh rồi mang về phòng trọ của mình tại thành phố Biên Hòa để sử dụng. Trong quá trình sử dụng, C đã cho Nguyễn Ngọc H và Thái Kỳ V cùng tham gia sử dụng ma túy. Đến khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, Công an phường kiểm tra phòng trọ và phát hiện, bắt quả tang cả ba đang sử dụng ma túy. Tòa án xác định hành vi của C là cung cấp ma túy và dụng cụ cho người khác cùng sử dụng, cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Sau khi xem xét các tình tiết của vụ án, Tòa án tuyên phạt Nguyễn Văn C 08 năm tù, đồng thời xử lý vật chứng theo quy định và buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Tải về
11. Bản án hình sự phúc thẩm số 16/2024/HS-PT ngày 20/02/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Sơ lược nội dung: Theo nội dung vụ án, rạng sáng ngày 21/02/2023, Lê Hoàng T cùng Lê Thị D và một số người khác được một người tên Trí rủ đến căn hộ tại chung cư Mường Thanh (quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng) để sử dụng ma túy. Tại đây, nhóm của Trí đã chuẩn bị sẵn ma túy (thuốc lắc và Ketamine) cùng các dụng cụ sử dụng. T và D cùng những người khác tham gia sử dụng ma túy và thống nhất chia tiền để trả chi phí mua ma túy, trong đó D đã chuyển khoản 4.500.000 đồng để thanh toán. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, cơ quan Công an kiểm tra và phát hiện, bắt quả tang các đối tượng đang sử dụng ma túy; kết quả giám định xác định có ma túy loại Ketamine.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt mỗi bị cáo 06 năm tù. Sau đó, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án nhận thấy các bị cáo giữ vai trò thứ yếu, phạm tội lần đầu và đã nộp tiền phạt bổ sung nên chấp nhận kháng cáo, giảm hình phạt xuống còn 05 năm tù đối với mỗi bị cáo. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Tải về
12. Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HS-ST ngày 12/03/2024 của Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương
Sơ lược nội dung: Ngày 14/9/2023, Nguyễn Đức C cùng Nguyễn Đình L và Nguyễn Lưu L1 đi uống bia rồi đến một quán karaoke tại xã Cộng Hòa, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương để hát. Tại đây, C vay tiền của L1 và liên hệ mua 03 viên ma túy MDMA. Sau khi nhận ma túy, C mang vào phòng hát, đưa cho L sử dụng, còn một viên C hòa vào nước ngọt để uống. Đến rạng sáng ngày 15/9/2023, Công an huyện Kim Thành kiểm tra quán karaoke, phát hiện các đối tượng có liên quan đến việc sử dụng ma túy. Qua điều tra xác định Nguyễn Đức C là người mua và cung cấp ma túy cho người khác sử dụng nên bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tải về
13. Bản án hình sự phúc thẩm số 49/2024/HS-PT ngày 26/04/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định
Sơ lược nội dung: Nguyễn Ngọc T mua 30 gam cần sa tại TP. Hồ Chí Minh với mục đích mang về sử dụng, sau đó cất giấu tại căn nhà thuê ở thị xã H, tỉnh Bình Định. Ngày 04/9/2023, T cùng Nguyễn Thanh V đến căn nhà này và sử dụng cần sa bằng dụng cụ hút. Sau đó T còn rủ Nguyễn Hoàng H1 đến chơi và H1 cũng sử dụng cần sa còn sót lại trong cối xay. Khi Công an kiểm tra nơi cư trú, lực lượng chức năng phát hiện cần sa và các dụng cụ sử dụng ma túy, đồng thời kết quả xét nghiệm cho thấy các đối tượng đều dương tính với ma túy. Tòa án xác định hành vi của Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Thanh V cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tuyên phạt T 2 năm 6 tháng tù, V 2 năm tù; cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tải về
14. Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Sơ lược nội dung: Ngày 13/02/2024, Trịnh Văn H1 mua heroin tại khu vực cầu Mo (thị xã K, tỉnh H) với mục đích sử dụng, sau đó rủ Đinh Anh T1 đến khu vực cánh đồng thuộc xã M để cùng sử dụng ma túy. H1 chuẩn bị bơm kim tiêm, hòa tan heroin vào nước cất rồi đưa cho T1 mỗi người một bơm tiêm để tự chích vào cơ thể. Khi cả hai đang sử dụng ma túy thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang; kết quả giám định xác định trong các bơm kim tiêm có chứa heroin và cả hai đều dương tính với ma túy. Tòa án xác định H1 đã cung cấp ma túy và chuẩn bị dụng cụ cho người khác sử dụng, đặc biệt đối với người đang cai nghiện, nên phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tuyên phạt 7 năm 3 tháng tù.
Tải về
Các tổng hợp có liên quan:
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội mua bán trái phép chất ma túy
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội vận chuyển trái phép chất ma túy
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm
—————————
CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)
– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
– Điện thoại: 0941.767.076
– Email: amilawfirmdn@gmail.com
– Website: https://amilawfirm.com/
– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm







