Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc có diễn biến ngày càng phức tạp và đa dạng, từ việc tổ chức, cung cấp địa điểm đánh bạc trực tiếp đến việc lợi dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các nền tảng công nghệ khác để thực hiện hành vi phạm tội với quy mô lớn, tính chất chuyên nghiệp. Hiện nay, tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” được quy định cụ thể tại Điều 322 Bộ luật Hình sự với nhiều điểm tiến bộ, đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc đấu tranh phòng, chống đối với tội này. Tuy nhiên, khi áp dụng quy định về tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” vào thực tế thì vẫn phát sinh nhiều vướng mắc, đặc biệt trong việc xác định hành vi tổ chức, vai trò của các đối tượng tham gia và việc thu thập chứng cứ trong môi trường mạng. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.
1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025
Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;
b) Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;
c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;
d) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;
đ) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 53. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm
1.Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
2.Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;
b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.
2. Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình
Điều 36. Hành vi đánh bạc trái phép
…
4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây:
a) Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Dùng nhà, chỗ ở, phương tiện, địa điểm khác của mình hoặc do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
c) Đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép;
d) Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 5 Điều này.
5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh đề sau đây:
a) Làm chủ lô, đề nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề;
c) Tổ chức mạng lưới bán số lô, số đề nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
d) Tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1; khoản 2; các điểm a và b khoản 3; các điểm c và d khoản 4 và khoản 5 Điều này;
…
c) Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại điểm đ khoản 3, các điểm c và d khoản 4, khoản 5 Điều này.
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1; khoản 2; các điểm a và b khoản 3; các điểm b, c và d khoản 4 và khoản 5 Điều này.
3. Công văn số 851/VKSTC-V2 ngày 23/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Câu hỏi 1: Về truy cứu trách nhiệm hình sự của thư ký ghi số đề vừa chuyển một phần cho chủ đề vừa giữ lại để ăn thua trực tiếp đối với các con bạc thì bị xử lý về tội gì?
Trả lời: Hành vi thư ký giữ lại một phần lô để ăn thua trực tiếp đối với các con bạc thì xử lý về tội Đánh bạc theo Điều 321 Bộ luật hình sự. Hành vi thư ký chuyển một phần lô để cho chủ đề thì xử lý về tội Tổ chức đánh bạc hoặc tội Đánh bạc quy định tại Điều 321 hoặc Điều 322 Bộ luật hình sự với vai trò đồng phạm.
Câu hỏi 2: Về hành vi bán số đề của một người mà trực tiếp người này ăn thua với người chơi đề, trong đó có ngày thu được số tiền bán đề trên 20 triệu đồng, có ngày dưới 20 triệu đồng. Vậy xử lý người này về một tội Tổ chức đánh bạc hay cả hai tội Đánh bạc và tội Tổ chức đánh bạc?
Trả lời: Mặc dù số tiền trên 20 triệu đồng dù định lượng được quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự, nhưng về bản chất người này ghi đề để trực tiếp ăn thua với các người chơi đề, do đó xử lý về tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự.
Câu hỏi 3: Đối tượng đăng nhập vào tài khoản của mình trên trang Website để cá độ bóng đá, chơi bài, đặt cược nhiều lần mà mỗi lần đặt cược đều dưới 5 triệu đồng, nhưng tổng số tiền các lần đặt cược trên 5 triệu đồng thì có cấu thành tội Đánh bạc không?
Trả lời: Một lần đánh bạc trực tuyến trên trang Website để cá độ bóng đá, chơi bài… được tính kể từ khi đăng nhập đến khi đăng xuất tài khoản ra khỏi trang Web hoặc phần mềm đó. Số tiền đánh bạc là tổng số tiền đã sử dụng đặt cược các lần trong lần đăng nhập đó.
Câu hỏi 4: Số tiền phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những người tham gia đánh bạc bằng hình thức đá gà mà có người ghi “biện gà” khi đang diễn ra mà chưa kết thúc?
Trả lời: Việc tổ chức đánh bạc, đánh bạc thông qua đá gà có người ghi “biện gà” đang diễn ra chưa kết thúc mà bị bắt, thì số tiền những người đá gà phải chịu trách nhiệm là số tiền mà “biện gà” đã ghi cho người đó.
Câu hỏi 5: Chủ sới gà tổ chức nhiều trận đá gà cá cược ăn tiền, nhưng mỗi trận đều dưới 5 triệu đồng. Xác định số tiền tổ chức đánh bạc như thế nào?
Trả lời: Chủ sới gà tổ chức nhiều trận đá gà, nếu tổ chức các trận có tính liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian hoặc đồng thời tổ chức trong một giải đấu có kế hoạch rõ ràng… thì phải cộng tổng số tiền cá cược của các trận đá gà, nếu tổng số tiền cá cược trên 5 triệu thì xử lý về tội đánh bạc; nếu trên 20 triệu đồng hoặc trên 10 người tham gia cá cược thì xử lý về tội Tổ chức đánh bạc. Trường hợp các trận không có tính liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian thì phải xem xét xử lý trách nhiệm theo từng trận, nếu không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự từng trận thì không xử lý hình sự.
Câu hỏi 6: Đối với tội “Gá bạc” quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự có bắt buộc phải có hành vi thu tiền hồ hay không?
Trả lời: Gá bạc cần hiểu là cho người khác sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình (nhà ở, cửa hàng, khách sạn, phòng trọ, tàu, xe, thuyền, bè…) dùng để đánh bạc trái phép nhằm mục đích thu lợi bất chính. Trường hợp không thu lợi bất chính thì xem xét về hành vi đồng phạm tội Tổ chức đánh bạc hoặc đồng phạm tội Đánh bạc.
Câu hỏi 7: Tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự: “Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phòng công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc”. Như vậy, có phải thỏa mãn hết các dấu hiệu này không?
Trả lời: Chỉ cần thỏa mãn một trong các hành vi được mô tả trong cấu thành là đủ điều kiện có thể truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội về tội Tổ chức đánh bạc.
Câu hỏi 8: Cách hiểu đúng về tính tiết “trong cùng một lần” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Trả lời: Một lần có thể chỉ 1 hoặc bao gồm nhiều đợt, vì vậy “trong cùng một lần” cần được hiểu là tham gia chơi trong một lô đề, tham gia cá độ trong một trận bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa… trong đó số tiền, hiện vật dùng đánh bạc để làm căn cứ xác định có cấu thành tội phạm hay không là số tiền mà tổng nhiều đợt có trị giá 20 triệu đồng trở lên.
Câu hỏi 10: Trường hợp một người nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc mà tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 100 triệu đồng, trong đó có 1 lần đánh bạc là 5 triệu đồng, những lần còn lại mỗi lần đều dưới 5 triệu đồng và về nhân thân người này chưa có tiền án, tiền sự về hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc, đánh bạc thì số tiền phải chịu trách nhiệm hình sự là 5 triệu đồng hay 100 triệu đồng?
Trả lời: Người đó phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền là 5 triệu đồng và bị truy thu cả số tiền 95 triệu đồng để sung công quỹ.
Câu hỏi 11: Trường hợp một người đã bị xử phạm vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạm vi phạm hành chính nay lại tiếp tục thực hiện 03 hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc đều dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì có được áp dụng là tình tiết định tội đối với cả 03 hành vi trên hay không?
Trả lời: Trường hợp này tình tiết đã bị xử phạm hành chính được áp dụng đối với cả 03 hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự để xử lý về các tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc, gá bạc.
Câu hỏi 12: Trường hợp một người sử dụng các thiết bị để gian lận khi thực hiện hành vi đánh bạc nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì xử lý về tội gì?
Trả lời: Trường hợp người đánh bạc, tổ chức đánh bạc không phải vì mục đích thắng thua bằng tiền, hiện vật mà sử dụng thiết bị gian lận nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của những người tham gia đánh bạc khác thì phải xác định việc đánh bạc, tổ chức đánh bạc là phương thức, thủ đoạn để thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Trường hợp này phải xác định hành vi này cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Câu hỏi 13: Phân biệt “trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc” và “phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự?
Trả lời: Trang thiết bị phục vụ đánh bạc là thiết bị mà đối tượng lắp đặt nhằm cảnh giới, quan sát người lạ… để đối phó, che giấu hành vi đánh bạc. Ví dụ: Camera, thiết bị ghi âm, ghi hình… Phương tiện trợ giúp cho việc đánh bạc là công cụ dùng vào việc đánh bạc. Ví dụ: tivi kết nối Internet để tải các trận đá gà trực tuyến nhằm cá cược ăn thua bằng tiền…
Câu hỏi 14: Khi thi hành lệnh bắt khẩn cấp, phát hiện đối tượng đang thực hiện phạm tội quả tang thì có lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hay không?
Trả lời: Trường hợp này lập biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đồng thời lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang để xử lý.
Câu hỏi 16: Việc thu giữ, trích xuất dữ liệu từ điện thoại di động; máy tính cá nhân; tài khoản mạng xã hội, ứng dụng nhắn tin (Zalo, Telegram, Signal…) khi không có mặt người sử dụng hoặc không cung cấp mật khẩu, có được coi là hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
Trả lời: Được coi là hợp pháp, nếu đảm bảo: Có quyết định tố tụng hợp pháp (khám xét, thu giữ); việc mở khóa, trích xuất do cơ quan có chuyên môn thực hiện; lập biên bản đầy đủ, có người chứng kiến. Căn cứ: Điều 87, 88, 89, 106, 192, 195 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 26 của Luật An ninh mạng năm 2018.
Câu hỏi 17: Trường hợp dữ liệu điện tử gốc bị xóa hoặc bị thất thoát, chỉ còn bản sao, bản chụp màn hình được thu thập từ nguồn khác, thì có được coi là nguồn chứng cứ chứng minh trong vụ án theo quy định tại Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự hay không?
Trả lời: Nếu có căn cứ xác định dữ liệu điện tử này có nguồn gốc từ bản sao, bản chụp màn hình được thu thập từ nguồn khác là thông tin có liên quan đến vụ án do người có thẩm quyền tố tụng thu thập và được thu thập theo đúng trình tự tố tụng hình sự và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác (lời khai; sao kê ngân hàng; dữ liệu nhà mạng; giám định kỹ thuật số…).
Câu hỏi 18: Khi bắt giữ quả tang vụ tổ chức đánh bạc và đánh bạc, Cơ quan điều tra đã thu giữ được 01 chiếc xe máy do đối tượng tham gia đánh bạc bỏ lại khi chạy trốn. Đến khi kết thúc điều tra vụ án vẫn chưa xác định được đối tượng bỏ trốn thì Cơ quan điều tra có ra quyết định tách hành vi của đối tượng bỏ trốn kèm theo chiếc xe máy đã thu giữ để tiếp tục điều tra làm rõ hay không?
Trả lời: Nếu kết thúc điều tra vụ án vẫn chưa chứng minh được hành vi phạm tội của đối tượng đến đánh bạc bỏ trốn thì phải tách vụ án về hành vi và chiếc xe máy của đối tượng bỏ trốn để tạm đình chỉ theo Điều 170 và điểm a khoản 1 Điều 229 Bộ luật tố tụng hình sự.
Câu hỏi 19: Sau khi xét xử vụ án đánh bạc, án đã có hiệu lực pháp luật, bị can A là đối tượng trốn truy nã đã đến đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội đánh bạc của mình. Cơ quan điều tra đã phục hồi điều tra vụ án nhưng do hồ sơ gốc của vụ án bị cháy do hỏa hoạn, chỉ còn các tài liệu do Cơ quan điều tra đã sao y lưu giữ trong hồ sơ nghiệp vụ của lực lượng Công an nhân dân thì có được sử dụng nguồn tài liệu này để buộc tội đối với bị can hay không?
Trả lời: Nếu có căn cứ xác định nguồn tài liệu chứng cứ này có nguồn gốc từ hồ sơ vụ án đã xét xử thì được sử dụng làm chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội đánh bạc của bị can.
Câu hỏi 20: Đối tượng B có đơn gửi Cơ quan điều tra tố giác A có hành vi gây thương tích cho B. Kết quả xác minh xác định khi A và B cùng các đối tượng khác đánh bạc thì xảy ra mâu thuẫn, A đã dùng gậy gây thương tích cho B, bị tổn hại 9% sức khỏe. Trước khi kết thúc xác minh, B rút đơn tố giác đối với A, tài liệu thu thập đủ căn cứ chứng minh A và B phạm tội đánh bạc, Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án để điều tra về tội đánh bạc, không ra quyết định không khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích có đúng hay không?
Trả lời: Trong trường hợp này cùng một thời điểm Cơ quan điều tra vừa thụ lý tố giác vừa giải quyết nguồn tin về tội phạm, kết quả xác minh Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án để điều tra về tội đánh bạc. Đồng thời làm thủ tục chuyển Cơ quan Công an có thẩm quyền xử phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích do người bị hại rút đơn tố giác theo quy định tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
4. Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 04/9/2018 về việc áp dụng điểm c khoản 2 điều 321 và điểm c khoản 2 điều 322 của BLHS
Trong thời gian qua, Tòa án nhân dân tối cao nhận được ý kiến phản ánh của một số Tòa án về vướng mắc trong việc áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật việc áp dụng tình tiết nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:
“Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự được hiểu là việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để đánh bạc trực tuyến (như hình thành nên các chiếu bạc online hoặc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để tổ chức đánh bạc, gá bạc).
Việc người phạm tội sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử khác như là phương tiện để liên lạc với nhau (ví dụ: nhắn tin qua điện thoại, qua email, zalo, viber… để ghi số đề, lô tô, cá độ đua ngựa…) mà không hình thành nên các trò chơi được thua bằng tiền hoặc hiện vật trực tuyến thì không thuộc trường hợp “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.
5. Công văn số 3050/VKSTC-V14 ngày 17/07/2020 về việc hướng dẫn, giải đáp vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật hình sự
1. Trường hợp A dùng kết quả của 02 đài xổ số trong cùng một ngày để làm kết quả đánh đề với những người chơi đề thì có xem là “tổ chức cho 02 chiếu bạc” trong cùng một lúc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 không?
Thứ nhất, “chiếu bạc” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 là thuật ngữ để chỉ về quy mô của một hoặc nhiều nhóm người cùng tham gia đánh bạc bằng hình thức như chơi xóc đĩa, tổ tôm, đánh chắn, tá lả, ba cây… Mỗi “chiếu bạc” phải có một số người nhất định cùng tham gia (thường là 04 người đối với các hình thức tổ tôm, đánh chắn… hoặc nhiều người đối với hình thức xóc đĩa, ba cây…); không thể coi kết quả của “01 đài xổ số” là 01 chiếu bạc. Do vậy, khi xử lý hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi số đề thì không sử dụng thuật ngữ “chiếu bạc” để xác định trách nhiệm hình sự mà chỉ xem xét về tổng số tiền hay giá trị hiện vật dùng đánh bạc để làm căn cứ xử lý hình sự.
Thứ hai, về mặt bản chất hành vi của A (chủ đề) và những người chơi số đề là dùng kết quả xổ số để đánh bạc trái phép với mục đích được thua bằng tiền. Do vậy, hành vi của A là hành vi đánh bạc với những người chơi số đề (một người đánh bạc với nhiều người). Cần xem xét mặt khách quan của hành vi, ý thức chủ quan và mục đích thực hiện hành vi của A và những người chơi số đề để xử lý hành vi đánh bạc theo từng trường hợp cụ thể đúng quy định của pháp luật.
Trường hợp A sử dụng các đại lý trung gian để ghi đề thì cần xem xét xử lý các đại lý trung gian về vai trò đồng phạm với A trong thực hiện hành vi đánh bạc.
Hơn nữa, tại mục 5.2. Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
“Điều 1. Về một số quy định tại Điều 248 của Bộ luật hình sự
5.2. Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc
a) Trường hợp có người chơi số đề, cá độ trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc là toàn bộ số tiền thực tế mà chủ đề, chủ cá độ đã nhận của những người chơi số đề, cá độ và số tiền mà chủ đề, chủ cá độ phải bỏ ra để trả cho người trúng (có thể là một hoặc nhiều người).
b) Trường hợp không có người chơi số đề, cá độ trúng số đề, thắng cược cá độ hoặc bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng, kết quả bóng đá, kết quả đua ngựa… thì số tiền chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà chủ đề, chủ cá độ đã nhận của những người chơi số đề, cá độ”.
Như vậy, Nghị quyết số 01/2010 đã hướng dẫn xử lý hành vi của chủ đề và số tiền của chủ đề dùng đánh bạc theo Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999.
6. Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của BLHS
Điều 2. Về một số quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự
1. Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thuộc một trong các trường hợp sau đây là “với quy mô lớn”:
a) Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trong cùng một lúc cho từ mười người đánh bạc trở lên hoặc cho từ hai chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.
b) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc; khi đánh bạc có phân công người canh gác, người phục vụ, có sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện như ô tô, xe máy, xe đạp, điện thoại… để trợ giúp cho việc đánh bạc;
c) Tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trong cùng một lần có giá trị từ 20.000.000 đồng trở lên.
2. Người tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thuộc trường hợp chưa đến mức được hướng dẫn tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này, nếu tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì tuy họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về “tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nhưng họ phải chịu trách nhiệm hình sự về đồng phạm tội đánh bạc.
3. “Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn” được xác định như sau:
a) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng là thu lợi bất chính lớn.
b) Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 90.000.000 đồng là thu lợi bất chính rất lớn.
c) Thu lợi bất chính từ 90.000.000 đồng trở lên là thu lợi bất chính đặc biệt lớn.
7. Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ
I. VỀ HÌNH SỰ
6. Theo Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì số tiền của người chơi để, cá độ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ (trong trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ) hoặc là tổng số tiền mà họ đã bõ ra để mua số đề, cá độ (trong trường hợp người chơi số đề, cá độ không trúng số đề, không thắng cược cá độ), Tuy nhiên, thực tế các chủ đề thường thu hút con bạc bằng cách trừ tiền hoa hồng cho những người chơi đề khi họ ghi đề. Vì vậy, dẫn đến tình trạng số tiền ghi trên tờ phơi sẽ cao hơn số tiền mà người chơi đề phải bỏ ra để mua số đề; số tiền mà chủ đề nhận được từ người chơi sẽ thấp hơn số tiền ghi trên tờ phơi. Trong trường hợp này, xác định số tiền dùng để đánh bạc là số tiền ghi trên tờ phơi hay là số tiền mà người chơi đề thực tế đã bỏ ra?
Hiện nay, việc xác định số tiền dùng để đánh bạc (đánh đề hoặc cá độ) vẫn được thực hiện theo hướng dẫn tại các điểm a, b mục 5.1 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó, số tiền của người chơi đề, cá độ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ (trong trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ) hoặc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ (trong trường hợp người chơi số đề, cá độ không trúng số đề, không thắng cược cá độ). Như vậy, số tiền mà họ đã bỏ ra không chỉ là số tiền thực tế họ đưa cho người ghi đề, ghi cá độ mà phải là số tiền ghi trên tờ phơi hoặc giấy tờ khác chứng minh việc đánh bạc trái phép.
8. Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/04/2019 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính
5. Khi xem xét, áp dụng tình tiết định khung “sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự ngoài việc chứng minh, làm rõ các bị cáo sử dụng trang mạng đánh bạc trực tuyến không được phép hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội Việt Nam để đánh bạc thì có phải chứng minh các bị cáo nhận, trả tiền thắng, thua bạc qua tài khoản mạng hay không?
Khi xem xét, áp dụng tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự thì chỉ cần chứng minh các bị cáo sử dụng trang mạng đánh bạc trực tuyến không được phép hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội Việt Nam để đánh bạc là đã đủ điều kiện để áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này. Việc chứng minh các bị cáo nhận, trả tiền thắng, thua bạc bằng phương thức nào chỉ nhằm làm sáng tỏ các tình tiết khác của vụ án.
9. Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS
6. Vềtình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” quy định tại một số điều luật của BLHS
6.1. Đối với các tội mà điều luật có quy định tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” và đã được hướng dẫn tại các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền thì thực hiện theo đúng hướng dẫn của các văn bản đó.
6.2. Đối với các tội mà điều luật có quy định tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” nhưng chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền thì phân biệt như sau:
a. Đối với điều luật quy định một tội (tội đơn) thì “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” là trước đó một người đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong tội đó bằng một trong các hình thức xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong tội đó.
Ví dụ: A đã bị xử phạt hành chính về hành vi đặt chướng ngại vật trên đường sắt để cản trở giao thông đường sắt, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính, A lại thực hiện một trong các hành vi (đặt chướng ngại vật trên đường sắt; làm xê dịch ray, tà vẹt; khoan, đào, xẻ trái phép nền đường sắt, mở đường trái phép qua đường sắt…) quy định tại Điều 209 của BLHS để cản trở giao thông đường sắt.
b. Đối với điều luật quy định nhiều tội khác nhau (tội ghép) thì “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” là trước đó một người đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong một tội tại điều luật đó bằng một trong các hình thức xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong tội đó (không bao gồm các hành vi được liệt kê trong tội khác cũng tại điều luật đó).
Ví dụ: Điều 164 của BLHS quy định tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả. Trường hợp B đã bị xử phạt hành chính về hành vi làm tem giả, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính, B lại làm vé giả thì bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”; nếu B chỉ buôn bán tem, vé giả thì không coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.
10. Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của BLHS.
Điều 3. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
…
2. Người phạm tội tự nguyện nộp lại ít nhất một phần hai số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội hoặc tiền phạt bổ sung theo bản án, quyết định của Tòa án.
…
Điều 4. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự
Chú thích bổ sung: Trích dẫn ở đây mang tính tham khảo về “khái niệm” về một số tính tiết định khung hình phạt của Điều 322. Các tình tiết đã được BLHS quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.
…
2. “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc phạm tội làm nguồn thu nhập.
Ví dụ: Đặng Hồng H không nghề nghiệp, lười lao động, thường xuyên ăn chơi, cờ bạc dẫn đến nợ nần. Để có tiền tiêu xài và trả nợ từ tháng 10/2023 đến tháng 09/2024, H thực hiện 10 vụ trộm cắp tài sản (mỗi vụ từ 10.000.000 đồng trở lên) với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được là 500.000.000 đồng. Trường hợp này, Đặng Hồng H bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
…
8. ‘‘Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là những trường hợp phạm tội quy định tại Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
Ví dụ: Tháng 6/2024, Nguyễn Văn A đã bị kết án 06 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong hình phạt). Tháng 10/2025, Nguyễn Văn A lại tiếp tục trộm cắp xe máy với trị giá 20.000.000 đồng. Trường hợp này, Nguyễn Văn A bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
…
11. Án lệ số 48/2021/AL về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Nộp lại tiền thu lợi bất chính”
Khái quát nội dung án lệ:
– Tình huống án lệ:
Bị can, bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội.
– Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải xác định bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng với khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tải về
12. Thông báo số 05/TB-VC3-V1 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh rút kinh nghiệm về vụ án hình sự bị giám đốc thẩm hủy để xét xử lại
Sơ lược nội dung: Các bị cáo không trực tiếp sử dụng những chiếc xe mô tô này vào việc đánh bạc, gá bạc và việc sử dụng xe hay không sử dụng xe không làm ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Do vậy. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm tuyên tịch thu 05 chiếc xe mô tô của các bị cáo sung quỹ Nhà nước là không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 vì theo quy định của các điều luật trên thì chỉ những “Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội” thì mới bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước. Thực tế, 05 bị cáo không dùng xe làm công cụ, phương tiện để thực hiện phạm tội nên không thuộc đối tượng bị tịch thu như quy định tại các Điều luật trên. Việc tuyên tịch thu, sung quỹ Nhà nước những chiếc xe của các bị cáo là gây thiệt hại cho quyền lợi các bị cáo.
Tải về
13. Thông báo số 09/TB-VC1-HS của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội rút kinh nghiệm về xác định tội danh
Sơ lược nội dung: Theo tài liệu có trong hồ sơ thể hiện chỉ bị cáo Đinh Thị H và bị cáo Nguyễn Thị X đánh bạc với nhau bằng hình thức ghi số lô, số đề qua điện thoại của các bị cáo. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra cũng không chứng minh được bị cáo H tổ chức đánh bạc với những người khác ngoài bị cáo Nguyễn Thị X. Do đó, hành vi của bị cáo Đinh Thị H không đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi của bị cáo Đinh Thị H phạm tội “Đánh bạc” và áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đinh Thị H 03 năm tù về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tải về
14. Thông báo số 10/TB-VC1-HS của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội rút kinh nghiệm về vụ án Nguyễn Thành Xô cùng đồng phạm bị kết án về tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”
Sơ lược nội dung: Nguyễn Thành Xô nhận bảng lô đề qua Zalo từ các bị cáo Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Văn Tuyến, Ngô Thị Xuân, Đỗ Thị Hồng Chuyên, Nguyễn Văn Cừ với tổng tiền trong hai ngày 25-26/7/2017 khoảng 69,6 triệu đồng. Tòa sơ thẩm xử Xô tội tổ chức đánh bạc, Hương bị kết tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc, các bị cáo Tuyến, Xuân, Chuyên, Cừ bị kết tội đánh bạc. Tòa phúc thẩm hủy một phần, cho rằng các bị cáo Xô, Hương, Tuyến, Xuân, Chuyên, Cừ đều phải bị truy tố tội tổ chức đánh bạc với vai trò đồng phạm vì dùng điện thoại là phương tiện trợ giúp là sai. Giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm, giao xét lại vì việc gửi bảng qua Zalo chỉ là hình thức liên lạc để đánh bạc, không phải dùng điện thoại làm phương tiện trợ giúp theo Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP, và tiền của từng thư ký ngày 26/7 chưa đạt mức cấu thành tội tổ chức đánh bạc. Rút kinh nghiệm: xác định đúng tội danh và áp dụng chính xác hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.
Tải về
15. Thông báo số 38/TB-VC2-V1 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm về việc cho bị cáo hưởng án treo không đúng quy định của pháp luật
Sơ lược nội dung: Cả 02 bị cáo đều có nhân thân xấu; trước khi phạm tội các bị cáo đều bị Tòa án xử phạt về tội “Đánh bạc” và tội “Tổ chức đánh bạc”, nhưng vẫn tiếp tục phạm tội. Bị cáo Lê Thị Kim Oanh khi xét xử chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” (điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS), nhưng có 01 tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” (điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS). Tại điểm b,d khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 01 ngày 06/11/2013 thì Bản án sơ thẩm tuyên phạt tù và cho hưởng án treo là không đúng quy định pháp luật, có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nên cần phải hủy bản án để xét xử lại.
Tải về
16. Thông báo số 126/TB-VKSTC của Viện kiểm sát nhân dân tối cao rút kinh nghiệm vụ án Bùi Hữu Đa và Nguyễn Cửu Thị Kim Hương phạm tội “Tổ chức đánh bạc” ở Đắk Lắk
Sơ lược nội dung: Bùi Hữu Đa và Nguyễn Cửu Thị Kim Hương nhiều lần thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS 2015. Theo khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP thì không thuộc trường hợp được hưởng án treo. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Bùi Hữu Đa 02 năm 3 tháng tù và Nguyễn Cửu Thị Kim Hương 01 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” là phù hợp. Tòa án cấp phúc thẩm cho các bị cáo hưởng án treo là không đúng quy định pháp luật.
Tải về
17. Thông báo số 239/TB-VKSTV-V3 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao rút kinh nghiệm vụ án Lê Văn Kinh vê tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”
Sơ lược nội dung: Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS, nhưng lại có tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 47 BLHS để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không có căn cứ và còn cho bị cáo hưởng án treo là quá nhẹ, không nghiêm, không tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng không đúng quy định pháp luật về chế định án treo. Sau khi xét xử sơ thẩm, VKSND kháng nghị phúc thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm không cho bị cáo được hưởng án treo. Tuy nhiên, cấp phúc thẩm không thấy sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm mà vẫn giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo là không có căn cứ.
Tải về
18. Thông báo ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam ngày 30/10/2023 rút kinh nghiệm vụ án “Tổ chức đánh bạc” xảy ra tại huyện Tiên Phước
Sơ lược nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Thị Kim Đ về tội “Tổ chức đánh bạc” là không đúng bản chất, mục đích của bị cáo dẫn đến sai tội danh, gây bất lợi cho bị cáo. Bởi lẽ, bị cáo Đ đã có hành vi chuẩn bị công cụ là 01 bộ bài Tây và có rủ các đối tượng cùng tham gia đánh bạc bằng hình thức cát-tê thắng thua bằng tiền để nhằm thỏa mãn mục đích đánh bạc chứ không phải tổ chức cho người khác đánh bạc. Số tiền bị cáo và các đối tượng dùng vào việc đánh bạc là 370.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng) nhưng bị cáo đang có tiền sự về hành vi đánh bạc nên lần phạm tội này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS 2015.
Tải về
Thông báo rút kinh nghiệm ngày 30/10/2023
19. Bản án hình sự phúc thẩm số 16/2024/HS-PT ngày 05/04/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn về tội gá bạc
Sơ lược nội dung: Bản án phúc thẩm xét kháng cáo xin hưởng án treo của Lý Văn T và Hoàng Công B trong vụ đánh bạc xóc đĩa (tổng tiền 22.950.000 đồng) tại nhà Lý Văn T tối 13/5/2023. Hoàng Công B rủ rê, cầm cái; Lý Văn T cho địa điểm, cung cấp dụng cụ và thu 1.600.000 đồng tiền hồ. Phúc thẩm sửa tội danh của Lý Văn T từ “Tổ chức đánh bạc” (sơ thẩm 13 tháng tù) sang “Gá bạc” vì chỉ tạo điều kiện thụ động, không chủ động tổ chức. Giữ nguyên mức án nhưng cho cả hai hưởng án treo do nhiều tình tiết giảm nhẹ. Các bị cáo không chịu án phí phúc thẩm; các phần khác của sơ thẩm giữ nguyên.
Tải về
20. Bản án hình sự phúc thẩm số 91/2025/HS-PT ngày 31/05/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về tội tổ chức đánh bạc qua mạng Internet
Sơ lược nội dung: Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2024 đến ngày 21/5/2024, trên địa bàn quận L, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Nguyễn Tấn C đã lấy tài khoản của người tên T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch), sử dụng các thiết bị có kết nối mạng internet để tổ chức đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá. Kết quả điều tra đã xác định: Tổng số tiền tổ chức đánh bạc của bị cáo Nguyễn Tấn C là 41.283.338.319 đồng; quá trình tổ chức đánh bạc bị cáo Nguyễn Tấn C thua 54.444.570 đồng, không thu lợi. Bị cáo Nguyễn Thanh X lấy lại con mạng từ bị cáo C sau đó cùng với bị cáo Đặng Ngọc H2 tổ chức đánh bạc với tổng số tiền là 37.023.294.019 đồng, thông qua việc tổ chức đánh bạc, bị cáo X và H2 thu lợi bất chính số tiền 211.584.095 đồng, trong đó Nguyễn Thanh X thu lợi số tiền 118.801.510 đồng, Đặng Ngọc H2 thu lợi số tiền 92.782.585 đồng. Riêng bị cáo Nguyễn Thanh V2 lấy con mạng của Nguyễn Thanh X, Đặng Ngọc H2 để đánh bạc với tổng số tiền là 1.150.898.900 đồng, V2 thua 50.212.950 đồng nên không thu lợi
Tải về
21. Bản án hình sự phúc thẩm số 196/2025/HS-PT ngày 23/08/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Sơ lược nội dung: [1]. Đối với hành vi của Nguyễn Thị P: Trong khoảng thời gian từ ngày 17/8/2023 đến ngày 20/6/2024, Nguyễn Thị P sử dụng Zalo tên “Phước B1” nhắn tin đến Zalo “Tài Lộc” của Nguyễn Thị P1 mua số lô đề tổng cộng 174 lần với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 330.805.000 đồng; việc đánh bạc không liên tục với số tiền cược mỗi lần chơi không cố định, dao động từ 100.000 đồng đến 4.660.000 đồng, có lần thắng, có lần thua, trong đó có 11 lần số tiền Nguyễn Thị P dùng để đánh bạc trên 5.000.000 đồng. [2]. Đối với hành vi của Võ Thị Thu H: Quá trình điều tra xác định từ tháng 3/2024 đến ngày 20/6/2024, Nguyễn Thị P1 đã có tổng cộng 24 lần chuyển các kèo số lô đề cho Võ Thị Thu H bằng cách sử dụng số điện thoại 0382.289.785 để nhắn tin SMS chuyển kèo số lô đề đến số điện thoại 0364.218.041 của Võ Thị Thu H hoặc sử dụng tài khoản Zalo “Tài Lộc” để nhắn tin chuyển các kèo số lô đề đến tài khoản Zalo tên “Anh D” của Võ Thị Thu H với tổng số tiền 101.720.000 đồng để được trả hoa hồng số tiền 9.155.000 đồng (tức 09%/tổng số tiền cược đã chuyển), kết quả các số lô đề trong 24 lần Nguyễn Thị P1 chuyển lên, P1 thắng được tổng số tiền 90.313.400 đồng nên tổng số tiền Võ Thị Thu H dùng để đánh bạc trong 24 lần là 192.033.400 đồng.
Tải về
Các tổng hợp có liên quan:
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội gây rối trật tự công cộng
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn tội Cố ý gây thương tích
—————————
CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)
– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
– Điện thoại: 0941.767.076
– Email: amilawfirmdn@gmail.com
– Website: https://amilawfirm.com/
– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm










