Trang chủ / Tài liệu / TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI

TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là hành vi đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển lành mạnh của trẻ em. Với tính chất nguy hiểm cao và hậu quả lâu dài đối với nạn nhân, việc áp dụng pháp luật đối với tội danh này đòi hỏi sự chặt chẽ, thận trọng và thống nhất. Các văn bản hướng dẫn có vai trò làm rõ dấu hiệu cấu thành tội phạm, yếu tố lỗi, độ tuổi bị hại và các tình tiết định khung hình phạt. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.

 

MỤC LỤC

1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;

b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.

 

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Có tính chất loạn luân;

b) Làm nạn nhân có thai;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Đối với 02 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Có tổ chức;

b) Nhiều người hiếp một người;

c) Đối với người dưới 10 tuổi;

d) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

đ) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

e) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

 

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.


2. Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141,142,143,144,145, 146, 147 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi

Điều 2. Giải thích từ ngữ

1. Xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ người dưới 16 tuổi tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với người dưới 16 tuổi và sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức (ví dụ: hoạt động xâm hại tình dục được thực hiện do đồng thuận với người dưới 13 tuổi); do cưỡng bức, do hứa hẹn các lợi ích vật chất (tiền, tài sản) hay các lợi ích phi vật chất (ví dụ: cho điểm cao, đánh giá tốt, tạo cơ hội tiến bộ…).

 

2. Bộ phận sinh dục bao gồm bộ phận sinh dục nam và bộ phận sinh dục nữ. Bộ phận sinh dục nam là dương vật; bộ phận sinh dục nữ bao gồm âm hộ, âm đạo.

 

3. Bộ phận nhạy cảm bao gồm bìu, mu, hậu môn, háng, đùi, mông, vú.

 

4. Bộ phận khác trên cơ thể là bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể không phải là bộ phận sinh dục và bộ phận nhạy cảm (ví dụ: tay, chân, miệng, lưỡi, mũi, gáy, cổ, bụng…).

 

5. Dụng cụ tình dụclà những dụng cụ được sản xuất chuyên dùng cho hoạt động tình dục (ví dụ: dương vật giả, âm hộ giả, âm đạo giả…) hoặc những đồ vật khác nhưng được sử dụng cho hoạt động tình dục.

 

Điều 3. Về một số tình tiết định tội

1. Giao cấu quy định tại khoản 1 Điều 141, khoản 1 Điều 142, khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 và khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức độ xâm nhập nào.

Giao cấu với người dưới 10 tuổi được xác định là đã thực hiện không phụ thuộc vào việc đã xâm nhập hay chưa xâm nhập.

 

2. Hành vi quan hệ tình dục khác quy định tại khoản 1 Điều 141, khoản 1 Điều 142, khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 và khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi…), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành vi sau đây:

a) Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác;

b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi…), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác.

[….]

7. Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân quy định tại khoản 1 Điều 141 và khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự là việc người phạm tội lợi dụng tình trạng người bị hại lâm vào một trong những hoàn cảnh sau đây để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác:

 

a) Ngưòi bị hại không thể chống cự được (ví dụ: người bị hại bị tai nạn, bị ngất, bị trói, bị khuyết tật… dẫn đến không thể chống cự được);

 

b) Người bị hại bị hạn chế hoặc bị mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi (ví dụ: người bị hại bị say rượu, bia, thuốc ngủ, thuốc gây mê, ma túy, thuốc an thần, thuốc kích thích, các chất kích thích khác, bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh khác… dẫn đến hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi).

 

8. Thủ đoạn khác quy định tại khoản 1 Điều 141 và khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự bao gồm các thủ đoạn như đầu độc nạn nhân; cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, uống rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác; hứa hẹn cho tốt nghiệp, cho đi học, đi thi đấu, đi biểu diễn ở nước ngoài để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

 

9. Trái với ý muốn của nạn nhân quy định tại khoản 1 Điều 141 và điểm a khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự là người bị hại không đồng ý, phó mặc hoặc không có khả năng biểu lộ ý chí của mình đối với hành vi quan hệ tình dục cố ý của người phạm tội.

[….]

Điều 4. Về một số tình tiết định khung

1. Có tính chất loạn luân quy định tại điểm e khoản 2 Điều 141, điểm a khoản 2 Điều 142, điểm d khoản 2 Điều 143 và điểm a khoản 2 Điều 144 của Bộ luật Hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Phạm tội đối với người cùng dòng máu về trực hệ, với anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha;

b) Phạm tội đối với cô ruột, dì ruột, chú ruột, bác ruột, cậu ruột, cháu ruột;

c) Phạm tội đối với con nuôi, bố nuôi, mẹ nuôi;

d) Phạm tội đối với con riêng của vợ, con riêng của chồng, bố dượng, mẹ kế;

đ) Phạm tội đối với con dâu, bố chồng, mẹ vợ, con rể.

 

2. Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm c khoản 2 Điều 141, điểm đ khoản 2 Điều 142, điểm b khoản 2 Điều 143, điểm d khoản 2 Điều 144, điểm a khoản 2 Điều 145, điểm b khoản 2 Điều 146 và điểm b khoản 2 Điều 147 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội từ 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

3. Nhiều người hiếp một người quy định tại điểm c khoản 2 Điều 141 và điểm b khoản 3 Điều 142 của Bộ luật Hình sự là trường hợp 02 người trở lên hiếp dâm 01 người. Cũng được coi là “nhiều người hiếp một người”, nếu có từ 02 người trở lên cùng bàn bạc, thống nhất sẽ thay nhau hiếp dâm 01 người, nhưng vì lý do ngoài ý muốn mới có 01 người thực hiện được hành vi hiếp dâm.

Không coi là “nhiều người hiếp một người”, nếu có từ 02 người trở lên câu kết với nhau tổ chức, giúp sức cho 01 người hiếp dâm (trường hợp này là đồng phạm).

[….]

Điều 6. Nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội xâm hại tình dục

1. Tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

2. Áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm luân thường, đạo đức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng nghề nghiệp, công việc; xâm hại người dưới 13 tuổi.

3. Áp dụng các hình phạt bổ sung cao nhất theo quy định của Bộ luật Hình sựvà các đạo luật khác có liên quan. Trong trường hợp cần thiết có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề liên quan đến người dưới 16 tuổi.

 

Điều 7. Tổ chức xét xử vụ án xâm hại tình dục có bị hại là người dưới 18 tuổi

1. Thời hạn xét xử vụ án xâm hại tình dục có bị hại là người dưới 18 tuổi được thực hiện như sau:

a) Áp dụng thủ tục rút gọn đối với các trường hợp đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự;

b) Đưa các vụ án khác ra xét xử trong thời hạn không quá 1/2thời hạn pháp luật cho phép đối với các trường hợp tương ứng.

 

2. Khi xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, Tòa án phải thực hiện:

a) Xét xử kín, tuyên án công khai theo đúng quy định tại Điều 327 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi tuyên án, Hội đồng xét xử chỉ đọc phần quyết định trong bản án;

b) Phân công Thẩm phán có kiến thức hoặc kinh nghiệm xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi;

c) Khi tham gia xét xử, Thẩm phán mặc trang phục làm việc hành chính của Tòa án nhân dân, không mặc áo choàng;

d) Xử án tại Phòng xét xử thân thiện theo đúng quy định tại Thông tư số 01/2017/TT-TANDTCngày 28 tháng 7 năm 2017 và Thông tư số 02/2018/TT-TANDTCngày 21 tháng 9 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

đ) Có sự tham gia của người đại diện, người giám hộ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi.

 

3. Khi xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, căn cứ vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, Tòa án cần thực hiện:

a) Hạn chế triệu tập bị hại là người dưới 18 tuổi đến phiên tòa nếu vẫn giải quyết được vụ án bằng việc áp dụng các biện pháp thay thế khác (ví dụ: sử dụng lời khai của họ ở giai đoạn điều tra, truy tố; mời họ đến Tòa án hoặc địa điểm hợp pháp khác để lấy lời khai trước bằng văn bản, bằng ghi âm, ghi hình có âm thanh…).

 

b) Trường hợp phải triệu tập bị hại là người dưới 18 tuổi đến phiên tòa, Tòa án cần tạo điều kiện để họ làm quen, tiếp xúc với môi trường Tòa án, với quy trình và thủ tục xét xử; bố trí cho họ ngồi ở phòng cách ly và sử dụng các thiết bị điện tử (ví dụ: micro, loa, ti vi, camera…) để không làm ảnh hưởng đến tâm lý của họ khi họ khai báo, tham gia tố tụng tại phiên tòa; trường hợp không bố trí được phòng cách ly thì để họ ngồi ở phòng xử án nhưng phải có màn che ngăn cách với khu vực của bị cáo và khoảng cách giữa Hội đồng xét xử với người bị hại là người dưới 18 tuổi không quá 03 mét.

 

c) Câu hỏi đối với bị hại là người dưới 18 tuổi phải phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển, trình độ văn hóa, hiểu biết của họ. Câu hỏi cần ngắn gọn, rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu; không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc; chỉ đặt câu hỏi làm rõ tình tiết vụ án; không đặt câu hỏi chỉ để tranh luận. Câu hỏi đối với bị hại dưới 10 tuổi không quá 10 từ và thời gian hỏi không liên tục quá 01 giờ.

 

d) Sử dụng sơ đồ hoặc mô hình cơ thể có đánh số thứ tự các bộ phận để người bị hại là người dưới 18 tuổi xác định các bộ phận bị xâm hại.

 

đ) Khi bị cáo đề nghị được hỏi bị hại là người dưới 18 tuổi thì phải chuyển câu hỏi cho người bào chữa hoặc Hội đồng xét xử hỏi.

 

4. Khi xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, Tòa án không được:

a) Yêu cầu bị hại là người dưới 18 tuổi tường thuật lại chi tiết quá trình phạm tội;

b) Sử dụng câu hỏi có tính chất công kích, đe dọa, gây xấu hổ, xúc phạm bị hại;

c) Đối chất giữa bị hại với người phạm tội tại phiên tòa;

d) Xác định bộ phận bị xâm hại bằng cách để bị hại là người dưới 18 tuổi chỉ trực tiếp vào bộ phận cơ thể của mình hoặc của người khác;

đ) Để bị cáo hỏi trực tiếp bị hại là người dưới 18 tuổi;

e) Buộc bị hại là người dưới 18 tuổi phải đứng khi tham gia tố tụng tại phiên tòa;

g) Công khai bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến vụ án trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án.

 

5. Tòa án phải xem xét và đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ phù hợp theo quy định tại Chương XXXIV của Bộ luật Tố tụng hình sựkhi bị hại, người thân thích của bị hại yêu cầu hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kiến nghị bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của bị hại, người thân thích của họ.

 

6. Tuân thủ các quy định khác tại Chương XXVIII của Bộ luật Tố tụng hình sự; hướng dẫn tại Thông tư số 02/2018/TT-TANDTCngày 21 tháng 9 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXHngày 21 tháng 12 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành khác có liên quan.


3. Thông báo số 03/TB-VC2-V1 ngày 13/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án hình sự phúc thẩm bị hủy do áp dụng không đúng pháp luật

Sơ lược nội dung: Theo hướng dẫn tại Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án nhân dân tối cao, hành vi của bị cáo Y Đoan Mlô dùng dương vật tiếp xúc trực tiếp mép ngoài âm đạo của bị hại (phần môi lớn) thì hành vi giao cấu đã hoàn thành, tội phạm đã hoàn thành từ thời điểm bị cáo đưa dương vật của mình tiếp xúc trực tiếp với bộ phận sinh dục của bị hại. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt” quy định tại Điều 15, đồng thời áp dụng khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự khi lượng hình phạt đối với bị cáo là áp dụng không đúng pháp luật.

Tải về

Thông báo số 03/TB-VC2-V1


4. Thông báo số 40/TB-VC2-V1 ngày 14/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Phạm Văn Phước bị hủy án để điều tra lại

Sơ lược nội dung: Hành vi của Phạm Văn Phước không chỉ dùng bộ phận sinh dục của mình tiếp xúc với bộ phận sinh dục của cháu Hà Yến Tâm (người dưới 16 tuổi), mà còn dùng bộ phận khác trên cơ thể (ngón tay) xâm nhập vào bộ phận sinh dục của cháu Tâm. Như vậy, hành vi của Phạm Văn Phước đủ yếu tố cấu thành tội: “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” quy định tại Điều 142 BLHS. Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm chưa đánh giá đúng hành vi khách quan, cũng như ý chí chủ quan của Phạm Văn Phước, từ đó truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Văn Phước về tội: “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 146 BLHS là sai lầm nghiên trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Tải về

Thông báo số 40/TB-VC2-V1


5. Thông báo số 31/TBRKN-VC1-HS ngày 04/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân dân cấp cao tại Hà Nội rút kinh nghiệm đối với vụ án Phạm Ngọc Hải, phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”

Sơ lược nội dung: Trong hồ sơ vụ án còn thể hiện Phạm Ngọc Hải đã nhiều lần giao cấu với cháu Hà (khoảng 30 lần) thời gian bắt đầu từ năm 2016 khi đó cháu Hà đang học lớp 5 mới 11 tuổi (chưa đủ 13 tuổi) nhưng chưa được điều tra, xác minh làm rõ. Như vậy hành vi giao cấu với cháu Hà của Phạm Ngọc Hải có dấu hiệu cấu thành tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điểm b, Khoản 1, Điều 142 BLHS năm 2015) cấp sơ thẩm chưa điều tra, xử lý Phạm Ngọc Hải về tội này là bỏ lọt tội phạm.

Tải về

Thông báo số 31/TBRKN-VC1-HS


6. Thông báo số 260/TB-VKSTC ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao rút kinh nghiệm vụ án hình sự Hội đồng giám đốc thẩm Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án phúc thẩm, bản án sơ thẩm để xét xử lại

Sơ lược nội dung: Trần Văn Th thực hiện hành vi hiếp dâm đối với 02 con ruột của mình khi các cháu còn nhỏ. Lúc này các cháu chưa tự lập được, vẫn do Th và chị U nuôi nấng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không áp dụng tình tiết “phạm tội đối với người lệ thuộc mình về vật chất, tinh thần” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 1999 là sai lầm trong việc áp dụng pháp luật.

Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm chỉ xử phạt Th 18 năm tù về tội Hiếp dâm trẻ em là quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hậu quả của vụ án mà bị cáo đã gây ra và vi phạm quy định tại khoản 2 (Nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội xâm hại tình dục) Điều 6 Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi.

Tải về

Thông báo số 260/TB-VKSTC


7. Thông báo số 61/TB-VC1-HC ngày 15/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội rút kinh nghiệm đối với bản án hình sự sơ thẩm có vi phạm bị hủy án

Sơ lược nội dung: Theo hồ sơ lý lịch, tại thời điểm đó cháu Phương mới 15 tuổi 11 tháng 21 ngày. Hành vi của Thành có dấu hiệu của tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” quy định tại Điều 142 BLHS (nếu xác định được việc giao cấu trái ý muốn của cháu Phương) hoặc có dấu hiệu cảu tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại Điều 145 BLHS. Quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm chưa làm rõ về hành vi này của Trần Minh Thành đối với cháu Phương; chưa cho cháu Phương đối chất với Thành là vi phạm các Điều 85; Điều 189 BLTTHS. Đồng thời, bản tự khai ngày 03/12/2021 của cháu Phương không có sự tham gia của người giám hộ là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 421 BLTTHS.

Tải về

Thông báo số 61/TB-VC1-HS


8. Thông báo số 36/TB-VC1-HS ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội rút kinh nghiệm đối với vụ án “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”

Sơ lược nội dung: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Văn Quân phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” với tình tiết định khung “Có tính chất loạn luân”, “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại các điểm a, đ khoản 2 Điều 142 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 142 Bộ luật hình sự là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

Tải về

Thông báo số 36/TB-VC1-HS


9. Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

Sơ lược nội dung: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, sau khi biết H Thị U có thai bị cáo cùng gia đình chăm sóc nuôi dưỡng người bị hại. Ngoài ra người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại tha thiết xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và cho bị cáo cải tạo tại địa phương để bị cáo có điều kiện chăm sóc người bị hại và con, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, có căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo.

Áp dụng các điểm b, đ khoản 2 Điều 142; điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Ninh Văn H (Tên gọi khác: D) 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Tải về

Bản án số 24/2018/HS-ST


10. Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2022/HS-ST ngày 23/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc

Sơ lược nội dung: Phạm Minh S đã có hành vi ba lần hiếp dâm người dưới 16 tuổi đối với chính con gái ruột của mình trong đó 01 lần đối với cháu Phạm Vân A và 02 lần đối với cháu Phạm A T và 02 lần hiếp dâm người trên 16 tuổi nhưng dưới 18 tuổi đối với cháu Phạm Vân A nên đã phạm vào tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” với các tình tiết định khung tăng nặng là “có tính chất loạn luân”; “đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh”; “phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với 02 người trở lên” được quy định tại các điểm a, d, đ và c, khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm và tội “Hiếp dâm” với các tình tiết định khung tăng nặng là “đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh”; “phạm tội 02 lần trở lên”; “có tính chất loạn luân”; “làm nạn nhân có thai” quy định tại các điểm b, d, e và g khoản 2 Điều 141 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

Tải về

Bản án số 110/2022/HS-ST


11. Bản án hình sự sơ thẩm số 137/2023/HS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng

Sơ lược nội dung: Trên đường đi H1 đã có hành vi dùng vũ lực đè Dè xuống đất để quan hệ tình dục nhưng D chống cự và bỏ chạy thoát. Sau khi đi theo Dè về đến nhà, H1 tiếp tục rủ Lầu Thị X1 (sinh năm 2017) là em gái của D đi chơi. Khi đưa X1 đi cách nhà khoảng 80 mét, H1 tiếp tục có hành vi dùng vũ lực đè X1 xuống đất, tụt quần X1 đến dưới đầu gối, dùng tay bóp bộ phận sinh dục của X1, đưa dương vật đã cương cứng ra khỏi quần ấn về phía bộ phận sinh dục nhằm giao cấu với X1 thì bị Lầu A P. Lầu A D, Lầu Thị D2 đi đến soi đèn nên H1 bỏ chạy. Bị cáo H1 đã có hành vi dùng vũ lực để giao cấu trái ý muốn với hai bị hại X1 và D, mặc dù bị cáo chưa thực hiện được hành vi hiếp dâm nhưng tội phạm đã hoàn thành.

Tải về

Bản án số 137/2023/HS-ST


12. Bản án hình sự sơ thẩm số 319/2024/HS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

Sơ lược nội dung: Bị cáo phạm tội khi 14 năm 08 tháng 08 ngày tuổi và bị khuyết tật tâm thần bẩm sinh nặng, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi rất hạn chế; khi thực hiện hành vi phạm tội không thể nhận thức được các quy định pháp luật, không nhận thức được hết tỉnh nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi; bị cáo không thể tự chăm sóc bản thân và đang được hưởng trợ cấp của Nhà nước. Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt; tuy nhiên, trong vụ án này, việc áp dụng hình phạt đối với bị cáo không nhằm mục đích trừng trị mà cần đặt yêu cầu giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh tội phạm lên hàng đầu. Vì vậy, nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy có thể cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, để bị cáo trực tiếp nhận sự chăm sóc từ gia đình, cũng là điều kiện, môi trường tốt nhất để bị cáo tiếp tục phát triển.

Tải về

Bản án số 319/2024/HS-ST


Các tổng hợp nội dung có liên quan:

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Giết người

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Gây rối trật tự công cộng

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Trộm cắp tài sản

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Cướp tài sản

—————————

CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)

– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

– Điện thoại: 0941.767.076

– Email: amilawfirmdn@gmail.com

– Website: https://amilawfirm.com/

– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm

Bài viết liên quan