Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội thường phát sinh trong những tình huống khẩn cấp, diễn biến nhanh chóng và phức tạp, với sự đa dạng về hoàn cảnh thực tế liên quan đến việc thực hiện quyền phòng vệ chính đáng cũng như hành vi bắt giữ người phạm tội. Hiện nay, tội này được quy định cụ thể tại Điều 126 Bộ luật Hình sự với nhiều điểm tiến bộ, đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho việc xử lý đúng đắn các trường hợp này, đồng thời bảo vệ quyền phòng vệ chính đáng của công dân. Tuy nhiên, khi áp dụng quy định về tội này vào thực tế xét xử thì vẫn phát sinh không ít vướng mắc, đặc biệt trong việc xác định ranh giới giữa phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn cần thiết. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.
1. Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025)
Điều 126. Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội
1. Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2.Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.
Điều 22. Phòng vệ chính đáng
1.Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
2.Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Điều 24. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội
1.Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.
2.Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.
2. Nghị quyết số 02-HĐTP-TANDTC-QĐ ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS
II– PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG (ĐIỀU 12 BLHS)
Điều 13 của Bộ luật hình sự đã quy định:
1) Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách tương xứng người có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
2) Nếu hành vi chống trả rõ ràng là quá đáng, tức là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì người có hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự.
Việc xem xét những trường hợp phòng vệ chính đáng thường khó khăn, cho nên, Tòa án nhân dân tối cao đã tổng kết thực tiễn xét xử và có Chỉ thị số 07 ngày 22-12-1983 về việc xét xử các hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ. Nội dung Chỉ thị nói trên phù hợp với Điều 13 của Bộ luật hình sự. Hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là có tính chất nguy hiểm cho xã hội.
b) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ.
c) Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại.
d) Hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.
Tương xứng không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ.
Để xem xét hành vi chống trả có tương xứng hay không, có rõ ràng là quá đáng hay không, thì phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ như: khách thể cần bảo vệ (thí dụ: bảo vệ địa điểm thuộc bí mật quốc gia, bảo vệ tính mạng); mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có thể gây ra hoặc đã gây ra và do hành vi phòng vệ gây ra; vũ khí, phương tiện, phương pháp mà hai bên đã sử dụng; nhân thân của người xâm hại (nam, nữ; tuổi; người xâm hại là côn đồ, lưu manh…); cường độ của sự tấn công và của sự phòng vệ; hoàn cảnh và nơi xảy ra sự việc (nơi vắng người, nơi đông người, đêm khuya) v.v… Đồng thời cũng cần phải chú ý đến yếu tố tâm lý của người phải phòng vệ có khi không thể có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp, phương tiện chống trả thích hợp, nhất là trong trường hợp họ bị tấn công bất ngờ.
Sau khi đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên mà nhận thấy rõ ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụng những phương tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và gây thiệt hại rõ ràng quá mức (như: gây thương tích nặng, làm chết người) đối với người có hành vi xâm hại thì coi hành vi chống trả là không tương xứng và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Ngược lại, nếu hành vi chống trả là tương xứng thì đó là phòng vệ chính đáng.
3. Chỉ thị số 07-TANDTC/CT ngày 22/12/1983 của TANDTC về việc xét xử các hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ
I- VỀ HÀNH VI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG HOẶC SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG
A- VỀ ĐỊNH TỘI
Đối với những hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác đã vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì tuỳ trường hợp mà định tội là: “Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”, hay “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”.
1- Để xác định tội danh được chính xác, cần phân biệt ranh giới giữa phòng vệ chính đáng với vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Khoản 1 điều 13 phần chung Bộ luật hình sự được Quốc hội khóa VII kỳ họp thứ 5 thông qua sơ bộ đã chỉ rõ: “phòng vệ chính đáng là hành vi của người bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể hoặc bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hay của người khác, mà chống lại một cách tương xứng người đang có hành vi xâm phạm lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”.
Vậy hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm, khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
a) Hành vi xâm hại lợi ích của Nhà nước, của tập thể hoặc lợi ích chính đáng của công dân phải có tính nguy hiểm cho xã hội với mức độ đáng kể, mặc dù không nhất thiết phải là một hành vi phạm tội. Ví dụ: Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, trong điều kiện bình thường, dùng dao chém người khác; người không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự (người mắc bệnh tâm thần, trẻ em dưới 14 tuổi) có hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội hay cho người khác như đốt nhà hoặc dùng dao chém người khác.
Nếu hành vi xâm hại chỉ có tính chất nhỏ nhặt, tức là tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, không phải là phạm tội (như trộm cấp vặt, xô đẩy, đấm đá nhẹ…) thì việc phòng vệ bằng cách gây thiệt hại đến tính mạng hoặc sức khỏe của người xâm hại không được coi là phòng vệ chính đáng, mà là hành vi phạm tội theo các tội danh khác nhau, tùy từng trường hợp cụ thể (gọi tắt là theo quy định chung của pháp luật).
Việc người có hành vi nguy hiểm cho xã hội khi bị người khác bắt, giữ (tức là thực hiện hành vi có ích cho xã hội) đã chống trả lại, gây thiệt hại cho người bắt giữ không được coi là phòng vệ chính đáng, mà phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định chung của pháp luật. Ví dụ: Hành vi của kẻ gây rối trật tự đánh lại nhân viên công an hoặc đội viên thanh niên cờ đỏ đang dùng vũ lực để bắt giữ thì bị coi là tội chống người thi hành công vụ.
b) Hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là đã bắt đầu, nếu nó đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng hoặc sức khỏe của người xâm hại không được coi là phòng vệ chính đáng. Ví dụ: B gặp A đang đi ngoài phố, B bảo A: “Nếu đến giờ X, ngày Y… mà A không đem tiền hoặc đồ vật đến nộp ở địa điểm Z…, thì sẽ bị giết”, A bực mình rút ngay súng bắn chết B. C cãi nhau với D và bị D đánh; khi D bỏ đi, C lấy súng bắn đuổi theo làm cho D chết. Hành vi phòng vệ “quá sớm” của A và hành vi phòng vệ “quá muộn” của C không được coi là phòng vệ chính đáng, mà cấu thành tội giết người thông thường với tình tiết giảm nhẹ do nạn nhân có lỗi.
c) Hành vi phòng vệ chính đáng được thực hiện không chỉ nhằm gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà có thể bằng cách tích cực, chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại và do đó chỉ có thể là cố ý. Ví dụ: A cầm gậy đánh B, B tránh được rồi đâm A ngã gục.
Vì vậy, nếu một người dù có khả năng bỏ chạy hoặc kêu cứu mà vẫn gây thiệt hại cho người xâm hại để phòng vệ, thì hành động của họ vẫn được coi là phòng vệ chính đáng.
Nếu trong khi phòng vệ mà gây thiệt hại, không phải là cho người xâm hại, mà cho người thứ ba, thì hành vi gây thiệt hại không được coi là phòng vệ chính đáng, mà tùy theo tình tiết của sự việc cấu thành tội giết người, tội cố ý gây thương tích nặng, gây tổn hại cho sức khỏe người khác…, theo quy định chung của pháp luật và có thể có tình tiết giảm nhẹ nhất định. Ví dụ: vì bị A đánh, B vừa tránh vừa chém lại A, nhưng không may lại chém nhầm phải C là người vừa vào để can ngăn.
Hành vi vô ý gây thiệt hại cho người xâm hại không phải là phòng vệ chính đáng, mà có thể là hành vi phạm tội thông thường vô ý. Ví dụ: Khi giằng co để không cho người say rượu đánh mình, người cầm súng đã vô ý để súng nổ làm chết người say rượu.
Hành vi phòng vệ bằng cách cố ý gây thương tích, nhưng dẫn đến hậu quả chết người (ngoài sự mong muốn của người gây thương tích), cũng được coi là có tính chất phòng vệ.
d) Hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.
Tương xứng không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ. Giữa hai thiệt hại đó có thể không có sự phù hợp về lượng hoặc về chất, chỉ miễn là không có sự chênh lệch quá đáng sau khi cân nhắc tính chất quan trọng của lợi ích được bảo vệ bằng phòng vệ chính đáng, sức mạnh của sự xâm hại, khả năng và hoàn cảnh thực tế của người phòng vệ. Ví dụ: một nhóm người xông vào đánh B, B bất ngờ bị đánh đau và bỏ chạy; chạy được mấy chục mét vẫn thấy có một số người đuổi theo, B đứng lại, mở dao nhíp có sẵn trong người để đe “đứa nào vào đây, tao đâm”; một trong số những người đuổi theo xông vào để tiếp tục đánh, B dùng dao nhíp dâm bừa một nháp vào ngực người đó làm người đó chết.
Trong ví dụ này, B ở vào tình thế bị một nhóm người tấn công trước, bất ngờ nên phải bỏ chạy. Sự tấn công tuy là bằng chân tay không, nhưng là do đông người gây ra, lại gây ra trong đêm tối, B phòng vệ bằng dao có sẵn trong người, đã răn đe trước, nhưng vẫn bị đối phương ỷ thế đông người tiếp tục tấn công. Hành vi phòng vệ của B… bằng cách dùng dao đâm một trong số những người tấn công, dẫn đến chết người, được coi là tương xứng, là chính đáng, là hợp pháp.
Nếu hành vi phòng vệ không tương xứng, không phù hợp, có chênh lệch quá đáng so với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, nghĩa là người phòng vệ đã dùng những phương tiện và phương pháp gây thiệt hại quá đáng cho người xâm hại, mà tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm cũng như hoàn cảnh cụ thể chưa đòi hỏi phải dùng các phương tiện và phương pháp đó, thì người phòng vệ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hay tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Ví dụ: H tổ viên bảo vệ nhà trường, nghe tin có bọn càn quấy đến trường gây sự đánh mình; đáng lẽ trong hoàn cảnh nhà trường có đông người, H có thể cùng mấy người ra đối phó, nhưng H đã một mình vác súng ra cổng trường; hoặc đáng lẽ trong trường hợp có súng để đối phó, H phải răn đe khi bị tấn công, nhưng H đã sử dụng bắn chết ngay một người xông vào tấn công mình.
2- Thực tiễn xét xử còn đòi hỏi phải phân biệt giữa phòng vệ chính đáng với phòng vệ tưởng tượng.
Phòng vệ tưởng tượng là việc gây thiệt hại cho người khác do tưởng lầm rằng người đó hiển nhiên có hành vi xâm hại nguy hiểm cho xã hội.
Người có hành vi phòng vệ tưởng tượng gây thiệt hại cho người khác chỉ được miễn trách nhiệm hình sự khi hoàn cảnh cụ thể cho phép người đó tin một cách hợp lý rằng có sự xâm hại thực sự và người đó không biết rằng mình đã tưởng lầm. Trong hoàn cảnh cụ thể nhất định, người phòng vệ tưởng tượng không nhận thức được, không buộc phải nhận thức được, và không thể nhận thức được là không có hành vi xâm hai nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ: A đi qua vườn hoa trong đêm tối gặp mây tên càn quấy, bọn này tưởng A là thiếu nữ, do bọn chúng thách đố nhau, một tên đến gần và dở trò trêu ghẹo thì bị A rút dao đâm, vì A tưởng lầm rằng tên đó có ý định cướp tài sản. Trong trường hợp này hành động trêu ghẹo của nạn nhân mặc dù thực chất không phải là cướp tài sản, nhưng đã là cơ sở cụ thể để cho A tin tưởng rằng bị cướp, do đó A được miễn trách nhiệm hình sự.
Người có hành vi phòng vệ tưởng tượng gây thiệt hại cho người khác do tưởng lầm một cách không có căn cứ là có hành vi xâm hại nguy hiểm cho xã hội, được coi là phạm tội do cố ý theo quy định chung của pháp luật. Ví dụ: A đang đi trong vườn hoa lúc có nhiều người, thấy B đang ngồi ở ghế đá đứng lên lững thửng đi về phía mình; A rút dao đâm B vì tưởng lầm là B đến cướp tài sản của mình. Trong trường hợp này, mới chỉ trông thấy B đi lững thững về phía mình trong hoàn cảnh vườn hoa có nhiều người mà đã vội nghi ngờ là B đến cướp tài sản của mình. Sự nghi ngờ đó là hoàn toàn không có căn cứ; do đó hành vi A đâm B là phạm tội do cố ý.
3- Hành vi xâm hại tính mạng hoặc sức khỏe của người khác mà không được coi là phòng vệ chính đáng, thì có thể là hành vi phạm tội thông thường (tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác) hoặc là hành vi phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Khoản 2 điều 13 phần chung Bộ luật hình sự được thông qua sơ bộ đã chỉ rõ: “nếu hành vi chống trả rõ ràng là quá đáng, tức là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì người có hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Vì vậy hành vi xâm hại tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng khi không có đầy đủ 4 điều kiện nói ở đoạn 1, nhất là hành vi phòng vệ không tương ứng với hành vi xâm hại, tức là có sự chênh lệch quá đáng giữa tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại với hành vi phòng vệ, giữa phương tiện và phương pháp mà bên xâm hại với bên phòng vệ đã dùng, giữa sức lực và khả năng của hai bên, phương tiện họ có sẵn, hoàn cảnh cụ thể khi xảy ra sự việc.
Nếu sự chênh lệch giữa hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ rõ ràng là quá đáng, thì sự phòng vệ mới bị coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, vì cần phải chú ý rằng người phòng vệ không phải bao giờ cũng có khả năng đánh giá được một cách chính xác tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại và lựa chọn biện pháp phòng vệ cho thật thích hợp, nhất là trong trường hợp tinh thần bị hành vi xâm hại kích động đột ngột. Vì vậy nếu sự chênh lệch là không quá đáng, sự vượt quá là không rõ ràng, hoặc không đáng kể thì sự phòng vệ vẫn được coi là phòng vệ chính đáng.
Tóm lại, khi phân biệt ranh giới giữa phòng vệ chính đáng với vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, trong một vụ án cụ thể, cần xem xét:
– Tính chất quan trọng của lợi ích bị xâm hại, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ;
– Tương quan sức lực giữa bên xâm hại và bên phòng vệ (bao gồm cả phương tiện, phương pháp mà hai bên đã dùng) trong một hoàn cảnh cụ thể.
4. Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 51 của BLHS
Chú thích bổ sung: Đây là Nghị quyết mới nhất hiện nay hướng dẫn áp dụng tình tiết giảm nhẹ điểm c và điểm đ khoản 1 Điều 51 chủ yếu đối với các tội khác (như cố ý gây thương tích, bắt giữ người trái pháp luật…). Đối với hành vi giết người có yếu tố vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, hành vi đó cấu thành tội danh riêng tại Điều 126 BLHS (khung phạt nhẹ hơn), nên không áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ điểm c, đ khoản 1 Điều 51 khi quyết định hình phạt (theo khoản 3 Điều 51 BLHS). Trích dẫn ở đây mang tính tham khảo về khái niệm “vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” và “vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội”.
3. “Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức mà thực hiện hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết là hành vi chống trả không tương xứng, có sự chênh lệch lớn so với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Để xác định hành vi chống trả có “rõ ràng quá mức cần thiết” hay không phải xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những tình tiết, sự kiện liên quan đến hành vi xâm hại và hành vi chống trả như: khách thể cần bảo vệ; mức độ thiệt hại mà hành vi xâm hại có thể gây ra; vũ khí, phương tiện, phương pháp thực hiện; nhân thân người xâm hại; tương quan lực lượng, cường độ, mức độ của hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ; bối cảnh, hoàn cảnh, địa điểm xảy ra sự việc…
Ví dụ: Phạm Văn T dùng dao uy hiếp và đấm vào mặt Nguyễn Văn A. Để bảo vệ mình, A đã giằng co với T, cướp dao và ném xuống sông. Khi T bỏ chạy, A vẫn đuổi theo và lấy đá đập nhiều lần vào người T dẫn đến tổn thương cơ thể tỷ lệ 25%. Hành vi gây thương tích của A đã vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Trường hợp này, Nguyễn Văn A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm c khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
…
5. “Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là trường hợp để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ nhưng thực tế đã sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ.
Ví dụ: Nguyễn Văn A bắt được Nguyễn Văn B do có hành vi cướp giật túi xách của người đi đường. Tuy đã khống chế được B nhưng A vẫn đánh, đạp liên tiếp vào người B mặc dù đã được người khác can ngăn. Hậu quả B bị gãy chân, tay, tổn thương cơ thể tỷ lệ là 65%. Hành vi của A đã vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội. Trường hợp này, Nguyễn Văn A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
5. Thông báo số 04/TB-VC1-HS của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội ngày 30/12/2019 rút kinh nghiệm về vụ án Lục Thị Phương phạm tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 BLHS 1999
Sơ lược nội dung: Thông báo này là tài liệu nội bộ rút kinh nghiệm dành cho các Viện kiểm sát các cấp, xuất phát từ việc Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã sửa bản án sơ thẩm năm 2019, chuyển tội danh của bị cáo Lục Thị Phương từ “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” (khoản 1 Điều 96 BLHS 1999) sang “Giết người” (khoản 2 Điều 93 BLHS 1999). Đây là vụ án phức tạp, kéo dài từ năm 2015, đã qua 2 lần xét xử sơ thẩm và nhiều lần kháng cáo, hủy án. Thông báo này cũng giúp phân biệt tội “Giết người” và tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”. Vụ án có nguồn gốc từ tranh chấp đất nương rẫy, dẫn đến xô xát giữa bị cáo và nhóm các ông Lâm, Vượng, Hoàn. Căn cứ để thay đổi tội danh dựa trên việc phân tích kỹ lưỡng hành vi khách quan và ý thức chủ quan của bị cáo. Thực tế cho thấy hành vi chém tử vong ông Hoàn là một giai đoạn độc lập, xảy ra sau khi cuộc xô xát đầu tiên kết thúc. Tại thời điểm này, bị cáo không còn bị bao vây hay chịu áp lực chênh lệch lực lượng đáng kể. Bên cạnh đó, các chứng cứ vật chất và giám định pháp y xác định bị cáo đã dùng dao phát dài chém một nhát chí mạng vào vùng ngực nạn nhân trong khi bản thân không có thương tích. Việc bị cáo chủ động thuê người phát nương trên đất đang tranh chấp cho thấy bị cáo đã lường trước xung đột và có phương án đối phó, nên hành vi tước đoạt mạng sống này không được coi là giải pháp đường cùng để tự vệ. Qua vụ án này, Viện kiểm sát nhấn mạnh bài học về việc nắm chắc chứng cứ, phân tích triệt để tính chất hành vi để đảm bảo truy tố đúng người, đúng tội, tránh những sai sót kéo dài trong các vụ án phức tạp.
Tải về
6. Thông báo số 47/TB-VC1-HS của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội ngày 29/10/2018 rút kinh ngiệm về vụ án Phạm Quốc Hưng phạm tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”
Sơ lược nội dung: Thông báo rút kinh nghiệm số 47/TB-VC1-HS ngày 29/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội chỉ ra những thiếu sót nghiêm trọng trong vụ án Phạm Quốc Hưng phạm tội giết người, dẫn đến việc phải hủy án để điều tra lại nhằm đánh giá đúng bản chất vụ án và trách nhiệm hình sự của bị cáo. Các thiếu sót chủ yếu nằm ở việc cơ quan điều tra chưa làm rõ triệt để các mâu thuẫn quan trọng trong lời khai, đặc biệt về việc bị cáo có thực sự hành động để bảo vệ vợ con khi bị tấn công hay không (do lời khai bị cáo mâu thuẫn với nhân chứng về sự có mặt và bị tấn công của vợ con), chưa giám định hung khí để xác định tính phù hợp với vết thương và tính nhất quán của lời khai, chưa tiến hành thực nghiệm điều tra để tái hiện vị trí, tư thế, khoảng cách và cách thức gây án nhằm kiểm chứng lời khai bị cáo bị đuổi đánh. Ngoài ra, dù hai bị hại say rượu nặng trong khi bị cáo tỉnh táo và hiện trường gần khu dân cư nên có thể hô hoán kêu cứu, bị cáo lại chọn cách đâm nhiều nhát gây tử vong, nhưng các tình tiết này chưa được đánh giá kỹ để xác định mức độ cần thiết, tương xứng của hành vi phòng vệ. Những thiếu sót ấy làm giảm tính khách quan, toàn diện trong thu thập và đánh giá chứng cứ, nên Viện kiểm sát nhấn mạnh cần rút kinh nghiệm sâu sắc để nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử trong các vụ án tương tự.
Tải về
7. Dự thảo Án lệ 01/2020/DTAL của Tòa án nhân dân tối cao về phân biệt tội “Giết người” và tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”
Sơ lược nội dung: “[11] Về ý thức chủ quan: [12] Ngay sau khi đánh nhau với ông V, P đã cầm dao bỏ chạy xuống chân đồi phản ánh ý thức chủ quan của bị cáo không muốn tiếp tục đánh nhau. Vị trí bị chém thể hiện ông H là người chủ động đuổi theo P đã phản ánh ý thức chủ quan của ông H là quyết tâm không để cho P chạy thoát. Do ông H đuổi kịp P nên hai bên đã xảy ra xô xát và trong khi đánh nhau P là người dùng dao chém vào ngực làm ông H bị chết. Xét về điều kiện và hoàn cảnh tại thời điểm đánh nhau, có căn cứ xác định ý thức chủ quan của P khi dùng dao chém vào ngực ông H không được coi là giải pháp đường cùng.[13] Việc P thuê 08 người đến phát nương trong khi đất này đang có tranh chấp phải chờ chính quyền địa phương giải quyết đã phản ánh rõ ý thức chủ quan của P bắt buộc phải biết rõ việc phát nương của mình sẽ có người đến ngăn cản, điều này thể hiện rõ ý thúc chủ quan của bị cáo P phải biết và lường trước sự việc tranh chấp có thể xảy, từ đó chủ động và có phương án đối phó lại khi có sự ngăn cản. Với phân tích trên, quan điểm của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm xác định bị cáo P hoàn toàn bị động khi bị nhóm người gồm các ông L1, V và H đến ngăn cản là không có cơ sở; [15] Trong vụ án này, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định nguyên nhân chính xuất phát từ việc P thuê người đến phát nương khi còn đang có tranh chấp. Tuy nhiên, việc các ông L1, V và H tự phát đến ngăn cản thu dao không cho phát nương mà không báo chính quyền đến can thiệp cũng là nguyên nhân dẫn đến việc hai bên xảy ra xô xát đánh nhau. Như trên đã phân tích, bị cáo Lục Thị P chém chết ông Nguyễn Văn H trong khi hai bên xảy ra xô xát đánh nhau không vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và hành vi của bị cáo Lục Thị P trên đây phải được xác định là phạm tội Giết người quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999. Do vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Lục Thị P phạm tội Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo khoản 1 Điều 96 Bộ luật Hình sự năm 1999 là không có cơ sở cần phải điều chỉnh cho phù hợp theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.”
Tải về
8. Bản án số 05/2017/HSPT ngày 07/11/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về xác định tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”
Sơ lược nội dung: “[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trương Công T khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ kết luận: Người bị hại là ông Trần Quốc Th có hành vi cầm kiếm tự tạo dài 65cm đuổi đánh Trương Công H là em ruột của bị cáo Trương Công T. Nên T vào nhà lấy xẻng dài 160cm đuổi đánh Trần Quốc Th để giải vây cho Trương Công H, H chạy một đoạn bị vấp ngã xuống đất. Vì biết bị cáo Trương Công T đuổi theo sau nên bị hại anh Trần Quốc Th chạy qua khỏi chỗ H ngã nằm xuống cách 1 mét, và cầm kiếm quay lại. Bị cáo T cầm xẻng đứng đối diện với Th, Th cầm kiếm chém về phía bị cáo Trương Công T nhưng không trúng, T cầm xẻng bằng hai tay đưa lên cao, đánh xuống trúng vào đầu của Th làm bị hại Trần Quốc Th gục ngã tại chỗ. Bị hại Trần Quốc Th không chết, chỉ bị thương tích, được giám định pháp y kết luận tỉ lệ 59%. [2] Xét án sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 93 của Bộ luật hình sự để xử bị cáo Trương Công T về tội “Giết người” là không chính xác. Bởi lẽ, Hành vi của bị hại anh Trần Quốc Th dùng kiếm tự tạo dài 65cm để chém bị cáo Trương Công T, tuy không trúng bị cáo T nhưng đây là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân, xâm phạm đến bị cáo T bằng cách dùng kiếm chém về phía bị cáo T. Nên bị cáo Trương Công T dùng xẻng đánh vào đầu bị hại Trần Quốc Th là hành động giết người do vượt quá giới hạn phòng về chính đáng.”.
Tải về
9. Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 06/03/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên
Sơ lược nội dung: Bị cáo đã dùng kéo khua khoắng để đe dọa và chống trả lại sự tấn công của anh P nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của bản thân nhưng anh P vẫn lao về phía bị cáo nên bị kéo đâm trúng người làm anh P tử vong. Hành vi của bị cáo là vượt quá mức cần thiết của phòng vệ chính đáng
Tải về
41/2022/HS-ST ngày 26/07/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ
Sơ lược nội dung: Ngày 26/7/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 15 tháng tù về tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”. Vụ án xảy ra khi H bị anh Đào Tiến C (bạn trai vợ cũ) dùng thanh kim loại tấn công quyết liệt sau khi phát hiện H trốn trong phòng trọ. Trong lúc bị đánh ngã và không còn đường lui, H đã dùng dao đâm trả để tự vệ khiến anh C tử vong. Xem xét các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo có nhân thân tốt, đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo và gia đình đã bồi thường 240 triệu đồng khắc phục hậu quả cho phía nạn nhân, Tòa án quyết định tuyên phạt Nguyễn Mạnh H 15 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày đi chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam trước đó.
Tải về
11. Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2021/HS-ST ngày 10/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
Sơ lược nội dung: Vào khoảng 18 giờ ngày 11/3/2021, Trịnh Xuân L đến tiệm sửa xe của gia đình Nguyễn Xuân N vô cớ gây gỗ với N bởi lý do cho rằng bị cáo gặp mình (L) mà không chào hỏi, rồi dùng tay tát vào mặt của N 03 cái, N đã bỏ đi vào trong tiệm sửa xe nhưng L vẫn không dừng lại mà tiếp tục truy đuổi theo bị cáo rồi dùng tay đấm vào mặt bị cáo, bóp cổ và đẩy bị cáo ngã xuống nền nhà của tiệm sửa xe. Với tư thế đang bị té ngã, bị cáo đang hoãng loạn thì thấy cái búa ở gần đó nên N đã nhặt rồi vung người lên đánh một cái từ trước ra sau để phòng vệ cho bản thân đang bị L đe dọa lao vào từ phía sau và búa đã trúng vào vùng đầu phía bên trái của L gây thương tích.
Tải về
Các tổng hợp nội dung có liên quan:
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Giết người
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Gây rối trật tự công cộng
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Trộm cắp tài sản
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Cướp tài sản
—————————
CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)
– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
– Điện thoại: 0941.767.076
– Email: amilawfirmdn@gmail.com
– Website: https://amilawfirm.com/
– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm









