Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống – quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của con người. Đây là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, có mức độ nguy hiểm cao và hậu quả không thể khắc phục. Việc áp dụng pháp luật đối với tội danh này đòi hỏi xác định rõ yếu tố lỗi, động cơ, mục đích và các tình tiết định khung tăng nặng. Nghiên cứu, hệ thống hóa các văn bản hướng dẫn góp phần bảo đảm xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tài liệu này được xây dựng với mục tiêu hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, qua đó tạo lập trục tham chiếu thống nhất, phục vụ hiệu quả cho nghiên cứu khoa học pháp lý và thực hành tố tụng hình sự.
1. Bộ luật Hình sự năm 2015
Điều 123. Tội giết người
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.
2. Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự
1) Tội giết người (Điều 101)
a) Một số tình tiết thể hiện tính nguy hiểm cao của tội phạm (ở khoản 1)
+ Giết người vì động cơ đê hèn (điểm a) như giết người vì tính ích kỷ cao, phản trắc, bội bạc (ví dụ: giết người để cướp vợ hoặc chồng nạn nhân; giết tình nhân đã có thai với mình để trốn tránh trách nhiệm; giết người đã cho vay, giúp đỡ khắc phục khó khăn, hoạn nạn nhằm trốn nợ v.v…).
+ Giết người để thực hiện hoặc để che giấu tội phạm khác: động cơ “để thực hiện hoặc để che giấu tội phạm khác” là tình tiết định khung của tội giết người quy định ở Điều 101, khoản 1, điểm a. Còn “tội phạm khác” có thể là tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng (theo Điều 8 khái niệm tội phạm) cần được xử lý theo một tội danh riêng.
Nếu “tội phạm khác” cần xét xử, thì xét xử về hai tội (tội giết người và “tội phạm khác”), quyết định hình phạt đối với từng tội phạm (tuần tự theo thời gian thực hiện) rồi tổng hợp thành hình phạt chung, như hiếp dâm xong rồi giết nạn nhân để che giấu tội phạm thì bị xử lý về tội hiếp dâm (Điều 122) và tội giết người (Điều 101, khoản 1, điểm a).
Nếu “tội phạm khác” có tính chất, mức độ nguy hiểm hạn chế (như: tội phạm chưa đạt, hậu quả chưa xảy ra hoặc không đáng kể…), mà xét thấy không cần thiết phải xử lý về hình sự thì có thể không xét xử về tội phạm đó, nhưng phải phân tích trong bản án.
+ Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội nghiêm trọng khác là tình tiết định khung của tội giết người theo Điều 101, khoản 1, điểm e. “Liền trước đó” hoặc “ngay sau đó” là vừa kết thúc tội phạm trước đã thực hiện ngay tội phạm sau. Người phạm tội có tính nguy hiểm cao (trong một thời gian rất ngắn phạm hai tội nghiêm trọng) phải bị xử lý về hai tội (tội giết người theo Điều 101, khoản 1, điểm e và tội nghiêm trọng khác). Hình phạt được quyết định đối với mỗi tội phạm và tổng hợp thành hình phạt chung.
+ Việc định tội đối với một số trường hợp vừa có hành vi chiếm đoạt tài sản, vừa có hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe người khác. Đối với hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản (tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản của công dân) hoặc gây chết người (tức là cố ý về hành vi và vô ý về hậu quả), thì xử lý về “tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa” (theo điều 129, khoản 2, điểm c) hoặc về “tội cướp tài sản của công dân” (theo Điều 151, khoản 2, điểm c). Thí dụ: hành vi đột nhập vào nhà một công dân, đánh, trói, gây thương tích nặng cho chủ nhà nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân, thì xử lý theo Điều 151, khoản 2, điểm c. Hành vi đột nhập vào khu vực kho của một xí nghiệm, đánh, trói, nhét giẻ vào miệng thủ kho nhằm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa và làm cho thủ kho bị chết vì ngạt thở, thì bị xử lý theo Điều 129, khoản 2, điểm c (gây thương tích nặng, gây tổn thất nặng cho sức khỏe hoặc gây chết người).
Đối với hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản mà giết người chủ sở hữu hay người quản lý tài sản, giết người chống cự lại, hoặc bắn trả người đuổi bắt, thì xử lý về “tội giết người” và “tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa” hoặc “tội cướp tài sản của công dân”.
+ Thực hiện tội giết người một cách man rợ (điểm b) như kẻ phạm tội không còn tính người, dùng những thủ đoạn gây đau đớn cao độ, gây khiếp sợ đối với nạn nhân hoặc gây khủng khiếp, rùng rợn trong xã hội (như: móc mắt, xẻo thịt, moi gan, chặt người ra từng khúc…).
+ Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân (điểm e). Công vụ là một công việc mà cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một người thực hiện.
Người thực hiện một công việc vì nghĩa vụ công dân (như bắt giữ kẻ phạm tội đang chạy trốn) tuy không phải là người thi hành công vụ, nhưng nếu do công việc đó mà họ bị giết, thì họ có thể được hưởng chính sách bảo hiểm xã hội như đối với người thi hành công vụ và hành vi của kẻ giết người đó cũng bị xử lý theo Điều 101, khoản 1, điểm e.
Kẻ giết người có thể thực hiện tội phạm khi nạn nhân sắp thi hành công vụ hoặc đang thi hành công vụ để cản trở họ thi hành công vụ, hoặc giết người đã thi hành công vụ để trả thù hoặc để đe dọa người khác.
b) Một số tình tiết định khung hình phạt nhẹ:
+ Giết người trong tình trạng bị kích động mạnh – do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó. Đây là khung hình phạt giảm nhẹ (khoản 3).
– Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình. Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người. Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc, thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh.
Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó tuy làm cho người phạm tội bị kích động mạnh, nhưng nói chung chưa đến mức là phạm tội. Nếu hành vi trái pháp luật đó trực tiếp xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc lợi ích hợp pháp của người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội hoặc của xã hội, đã cấu thành tội phạm, thì hành vi chống trả lại gây chết người có thể được xem là trường hợp phòng vệ chính đáng (theo Điều 13) hoặc do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (theo Điều 102).
Trong trường hợp cá biệt hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân cấu thành tội phạm nhưng là tội phạm ít nghiêm trọng (như tội làm nhục người khác, tội vu khống) thì cũng được coi là giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh và được xử lý theo Điều 101, khoản 3. Thí dụ: hai anh em đồng hao ở chung nhà bố mẹ vợ, người anh thường xuyên làm nhục thô bạo và trắng trợn vu khống người em, đến thời điểm nào đó lại lăng nhục người em nên người anh bị em giết.
Đối với trường hợp người dùng chất say (uống rượu) hoặc chất kích thích mạnh khác mà bị say, nhân có hành vi trái pháp luật không nghiêm trọng của nạn nhân mà thực hiện hành vi giết người, thì không coi là trường hợp phạm tội do bị kích động mạnh. Phải tùy theo hoàn cảnh, tính chất và mức độ sai trái của hành vi do nạn nhân thực hiện cũng như các tình tiết khác của vụ án, mà xử lý theo điều 101 về tội giết người.
– Để có thể xác định tinh thần của người phạm tội có bị kích động mạnh hay không và để phân biệt giữa “kích động” với “kích động mạnh”, cần xem xét một cách khác quan, toàn diện các mặt: thời gian, hoàn cảnh, địa điểm, diễn biến, nguyên nhân sâu xa và trực tiếp của sự việc; mối quan hệ giữa nạn nhân với người phạm tội, trình độ văn hóa, chính trị, tính tình, cá tính của mỗi bên: mức độ nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật của nạn nhân, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân với tình trạng tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội.
+ Giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết (khoản 4). Đây là một tội phạm có cấu thành giảm nhẹ đặc biệt, cần được vận dụng thận trọng và chặt chẽ.
Con mới đẻ là đứa trẻ mới sinh ra trong bảy ngày trở lại.
– Chủ thể của tội phạm này chỉ là người mẹ sinh ra đứa trẻ. Người mẹ này chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu (như: khiếp sợ trước dư luận chê bai về việc mang thai và đẻ con ngoài giá thú, hoặc trước dư luận khắc nghiệt của nhà chồng cho đẻ con gái là tai họa v.v…) hoặc bị hoàn cảnh khác quan đặc biệt chi phối (như: đứa trẻ sinh ra có dị dạng…). Người xúi giục bị cáo về tội giết con mới đẻ bị xử lý là đồng phạm tội này.
Người không phải là mẹ của đứa trẻ mới đẻ mà giết đứa trẻ đó, thì bị xử lý vệ tội giết người (theo điều 101, khoản 1 hoặc 2).
+ Hành vi giết người vì mê tín (như cho người khác có ma chài…) không được quy định cụ thể ở Điều 101. Theo thực tiễn xét xử, có thể vận dụng như sau: nếu người thực hiện hành vi giết người thực sự mê tín, lạc hậu, thì xử lý theo Điều 101 khoản 2 và điều 38 khoản 1 điểm g (phạm tội do trình độ lạc hậu); nếu người phạm tội do lợi dụng mê tín để giết người vì động cơ đê hèn, thì xử lý theo Điều 101, khoản 1 điểm a.
3. Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ ngày 19/4/1989 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự
II- VỀ KHOẢN 2 VÀ KHOẢN 3 ĐIỀU 18 BLHS
B- Về khoản 3 điều 38 BLHS.
Khoản 3 điều 38 BLHS quy định:
“Khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý dó của việc giảm nhẹ này phải được ghi trong bản án”.
[…]
3- Những tình tiết đã là yếu tố định tội (Thí dụ: giết người do vượt quá thời hạn phòng vệ chính đáng quy định tại điều 102 BLHS) hoặc khung hình phạt (Thí dụ: tình tiết tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân quy định tại khoản 3 điều 101 hoặc khoản 4 điều 109 BLHS), thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ của chính tội đó nữa.
VII– VỀ VIỆC CHUYỂN HÓA TỪ MỘT SỐ HÌNH THỨC CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THÀNH CƯỚP TÀI SẢN
c) Nếu việc dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) là nhằm để tẩu thoát (kể cả khi tẩu thoát cùng với tài sản đã chiếm đoạt được), thì không kết án kẻ phạm tội về cướp tài sản…, và tùy trường hợp mà kết án họ về tội phạm xảy ra trước khi dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) và coi việc dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) là tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (tình tiết định khung hình phạt cao hơn theo các điều 131, 132, 154, 155 BLHS). Nếu việc dùng vũ lực dẫn tới hậu quả làm chết người thì kẻ phạm tội bị kết án thêm về tội giết người. Nếu hậu quả của việc dùng vũ lực là gây cố tật nặng hoặc gây thương tích dẫn đến chết người thì kẻ phạm tội bị kết án thêm về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 điều 109 BLHS.
4. Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2022 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải đáp các vấn đề nghiệp vụ
I. VỀ HÌNH SỰ
2. Khi áp dụng Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999, việc so sánh Bộ luật hình sự năm 1999 với Bộ luật hình sự năm 1985 để xác định trường hợp nào thuộc quy định tại Khoản 2 hoặc Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 được thực hiện như thế nào? So sánh các Điều luật tương ứng quy định trong hai Bộ luật hình sự hay so sánh các Khoản cụ thể trong các Điều luật tương ứng quy định trong hai Bộ luật hình sự này?
[…]
Hai ví dụ sau đây minh hoạ việc so sánh trên:
a. Về tội giết người: So sánh Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1985 với Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 nếu theo Điều luật, rõ ràng Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1985 nhẹ hơn; do đó, đối với hành vi giết người được thực hiện trước ngày 1-7-2000 mà không thuộc một trong các trường hợp định khung tăng nặng, thì phải áp dụng Khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1985 để xét xử. Tuy nhiên, xem xét Khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 thì mức cao nhất của khung hình phạt là mười lăm năm tù; do đó, tuy áp dụng Khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1985 để xét xử, nhưng phải áp dụng tinh thần quy định có lợi cho người phạm tội quy định tại Khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999, cụ thể là dù trong trường hợp nào cũng không được xử phạt quá mười lăm năm tù.
[…]
12. Đề nghị hướng dẫn đối với các trường hợp sử dụng điện trái phép làm chết người thì xét xử về tội gì?
Để xét xử đúng tội cần phải xem xét từng trường hợp cụ thể. Về nguyên tắc chung, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:
a. Đối với trường hợp sử dụng điện trái phép để chống trộm cắp mà làm chết người thì người phạm tội phải bị xét xử về tội giết người.
b. Đối với trường hợp sử dụng điện trái phép để diệt chuột, chống súc vật phá hoại mùa màng thì cần phân biệt như sau:
+ Nếu người sử dụng điện mắc điện ở nơi có nhiều người qua lại (cho dù có làm biển báo hiệu), biết việc mắc điện trong trường hợp này là nguy hiểm đến tính mạng con người, nhưng cứ mắc hoặc có thái độ bỏ mặc cho hậu quả xẩy ra và thực tế là có người bị điện giật chết, thì người phạm tội bị xét xử về tội giết người.
+ Nếu người sử dụng điện mắc điện ở nơi họ tin rằng không có người qua lại, có sự canh gác cẩn thận, có biển báo nguy hiểm và tin rằng hậu quả chết người không thể xảy ra…, nhưng hậu quả có người bị điện giật chết, thì người phạm tội bị xét xử về tội vô ý làm chết người.
5. Công văn số 485/TANDTC-PC ngày 31/12/2021 của Tòa án nhân dân tối cao về việc trả lời kiến nghị cử tri gửi tới Quốc hội trước kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV
4. Đề nghị hướng dẫn định tội danh giữa tội “Giết người” với tội “Cố ý gây thương tích nhiều trường hợp tỷ lệ thương tật thấp nhưng dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào những khu vực nguy hiểm trên cơ thể con người; giữa các địa phương có quan điểm khác nhau, có nơi xử lý về tội Giết người, có nơi xử lý về tội Cố ý gây thương tích. Hiện nay, việc phân biệt chủ yếu dựa trên cơ sở mặt chủ quan của người thực hiện hành vi phạm tội (đây là yếu tố rất khó xác định và sẽ tạo kẽ hở dẫn đến tình trạng xử lý không đúng tính chất mức độ của hành vi phạm tội).
Hiện nay, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành 04 Án lệ có liên quan đến nội dung này (Án lệ số 01/2016/AL, Án lệ số 17/2018/AL, Án lệ số 18/2018/AL và Án lệ số 19/2018/AL). Trong thời gian tới, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, giám đốc việc xét xử, Tòa án nhân dân tối cao sẽ tiếp tục nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng Điều 123 và Điều 134 của Bộ luật Hình sự nếu xét thấy cần thiết.
6. Công văn số 100/TANDTC-PC ngày 13/6/2023 của Tòa án nhân dân tối cao về việc áp dụng Án lệ số 47/2021/AL
Án lệ số 47/2021/AL có tình huống án lệ là “Bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng bụng của bị hại là vùng trọng yếu của cơ thể con người. Bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo” và giải pháp pháp lý là “Trường hợp này, Tòa án phải xác định bị cáo chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người”. Để áp dụng án lệ này, trước tiên cần xác định vùng trọng yếu trên cơ thể của con người là những vùng có các cơ quan quan trọng quyết định đến sự sống của con người (ví dụ: tim, gan, thận, não, động mạch chủ…), nếu bị xâm hại mà người bị xâm hại không được cấp cứu kịp thời sẽ chết. Do đó, ngoài việc chứng minh bị cáo đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại thì cần phải xem xét, đánh giá toàn diện các tài liệu, chứng cứ của vụ án, các tình tiết thể hiện tính chất, mức độ của hành vi, cơ chế hình thành vết thương, sự quyết liệt trong thực hiện hành vi, vị trí cơ thể bị hại mà bị cáo có ý định tấn công để chứng minh ý thức chủ quan của bị cáo là cố ý thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho tính mạng của bị hại; hành vi của bị cáo thể hiện sự côn đồ, hung hãn, quyết liệt, coi thường tính mạng người khác; bị hại không chết là ngoài ý thức, mong muốn chủ quan của bị cáo.
Do vậy, không phải trường hợp nào bị cáo có hành vi dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại cũng áp dụng Án lệ số 47/2021/AL, mà chỉ xem xét áp dụng án lệ này trong trường hợp hành vi của bị cáo có đầy đủ các yếu tố nêu trên để xác định bị cáo phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.
7. Công văn số 4962/VKSTC-V14 ngày 15/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải đáp khó khăn, vướng mắc, kiến nghị, đề xuất của các đơn vị, VKS các cấp qua sơ kết, giao ban công tác 9 tháng đầu năm 2023
A. VỀ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC
7. Đề nghị hướng dẫn áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” trong việc định tội Giết người và tội cố ý gây thương tích.
Trả lời:
Tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” là tình tiết “định tính”. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, để áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định, đánh giá toàn diện về nguyên nhân, động cơ, mục đích, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội; tính chất, mức độ, phương thức, hành động thực hiện hành vi phạm tội; thái độ, ý thức chủ quan của người phạm tội…
Theo quy định của pháp luật, liên ngành trung ương không có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn các quy định của BLHS năm 2015. Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã lựa chọn và ban hành Án lệ số 17/2018/AL ngày 17/10/2018 trong đó giải thích về tình tiết “có tính chất côn đồ”; VKS các địa phương cần nghiên cứu, áp dụng thực hiện; ngoài ra, đối với các trường hợp chưa được hướng dẫn thì chủ động phối hợp với Tòa án cùng cấp thực hiện quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ để gửi đề xuất bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án chứa đựng lập luận, phán quyết về việc áp dụng tình tiết này để TAND tối cao xem xét, phát triển thành án lệ.
8. Án lệ số 01/2016/AL
Khái quát nội dung của án lệ:
Trong vụ án có đồng phạm, nếu chứng minh được ý thức chủ quan của người chủ mưu là chỉ thuê người khác gây thương tích cho người bị hại mà không có ý định tước đoạt tính mạng của họ (người chủ mưu chỉ yêu cầu gây thương tích ở chân, tay của người bị hại mà không yêu cầu tấn công vào các phần trọng yếu của cơ thể có khả năng dẫn đến chết người); người thực hành cũng đã thực hiện theo đúng yêu cầu của người chủ mưu; việc nạn nhân bị chết nằm ngoài ý thức chủ quan của người chủ mưu thì người chủ mưu phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung là “gây thương tích dẫn đến chết người”.
9. Án lệ số 17/2018/AL về tình tiết “Có tính chất côn đồ” trong tội “Giết người” có đồng phạm
Khái quát nội dung của án lệ:
– Tình huống án lệ:
Trong vụ án có đồng phạm, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt, các đồng phạm đã rủ nhau đánh dằn mặt bị hại.
Khi thực hiện tội phạm, người thực hành dùng mã tấu chém liên tiếp vào vùng đầu, mặt, chân, tay của bị hại; việc bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của người thực hành.
Người xúi giục không có mặt khi người thực hành thực hiện tội phạm, không biết việc người thực hành sử dụng mã tấu chém vào những vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại nhưng đã để mặc cho hậu quả xảy ra.
– Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, người thực hành phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với tình tiết định khung là “Có tính chất côn đồ”. Người xúi giục bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” nhưng không bị áp dụng tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ”.
10. Án lệ số 18/2018/AL về hành vi giết người đang thi hành công vụ trong tội “Giết người”
Khái quát nội dung của án lệ:
– Tình huống án lệ:
Bị cáo bị cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe để xử lý vi phạm nhưng không chấp hành mà điều khiển xe đâm thẳng vào cảnh sát giao thông. Khi cảnh sát giao thông bám vào cọng gương chiếu hậu của xe, bị cáo tiếp tục điều khiển xe chạy với tốc độ cao, bất ngờ đánh lái sát giải phân cách nhằm hất cảnh sát giao thông xuống đường.
Cảnh sát giao thông rơi khỏi xe, va vào giải phân cách cứng giữa đường, bị đa chấn thương.
– Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với tình tiết định khung là “Giết người đang thi hành công vụ”.
11. Án lệ số 30/2020/AL về hành vi cố ý điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông
Khái quát nội dung án lệ:
– Tình huống án lệ:
Sau khi gây ra tai nạn giao thông cho bị hại, bị cáo dừng xe xuống kiểm tra thấy bị hại nằm dưới gầm xe ô tô, không xác định được bị hại còn sống hay đã chết, bị cáo tiếp tục điều khiển xe chèn lên người bị hại. Hậu quả là bị hại chết.
– Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người”.
12. Án lệ số 45/2021/AL về xác định bị cáo phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt”
Khái quát nội dung án lệ:
– Tình huống án lệ:
Bị cáo cố ý thực hiện hành vi nhằm tước đoạt tính mạng của bị hại, bị hại bị tổn hại sức khỏe với tỷ lệ là 100%.
– Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải xác định là hậu quả chết người chưa xảy ra, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt”.
13. Án lệ số 47/2021/AL về việc xác định tội danh trong trường hợp bị cáo dùng hung khí nguy hiểm đâm vào vùng trọng yếu của cơ thể bị hại
Khái quát nội dung án lệ:
– Tình huống án lệ:
Bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng bụng của bị hại là vùng trọng yếu của cơ thể con người. Bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo.
– Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải xác định bị cáo chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người”.
14. Án lệ số 59/2023/AL về lỗi cố ý gián tiếp trong vụ án “Giết người”
Khái quát nội dung của án lệ:
– Tình huống án lệ:
Bị cáo dùng hung khí nguy hiểm tấn công bị hại. Bị hại điều khiển xe mô tô bỏ chạy, bị cáo tiếp tục truy đuổi làm bị hại lo sợ phải tăng tốc bỏ chạy. Khi bị hại bị tai nạn thì bị cáo mới dừng việc truy đuổi. Bị hại tử vong trên đường đi cấp cứu.
– Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với lỗi cố ý gián tiếp.
15. Án lệ số 73/2025/AL về việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng”
Khái quát nội dung của án lệ:
– Tình huống án lệ:
Bị cáo dùng hung khí nguy hiểm tấn công bị hại. Bị hại điều khiển xe mô tô bỏ chạy, bị cáo tiếp tục truy đuổi làm bị hại lo sợ phải tăng tốc bỏ chạy. Khi bị hại bị tai nạn thì bị cáo mới dừng việc truy đuổi. Bị hại tử vong trên đường đi cấp cứu.
– Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” đối với bị cáo.
16. Thông báo số 55/TB-VC2-V1 ngày 16/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Nguyễn Văn Duy về các tội “Giết người”, “Giao cấu với trẻ em” và “Cướp tài sản”
Sơ lược nội dung: Nguyễn Văn Duy phạm tội “Giết người” với 03 tình tiết định khung hình phạt, cụ thể: “giết trẻ em”, “giết người mà liên trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” và “có tính chất côn đồ”; tuy nhiên cấp sơ thẩm chỉ áp dụng 02 tình tiết định khung hình phạt “giết trẻ em” và “có tính chất côn đồ” quy định tại điểm c, n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 nhưng không xem xét áp dụng tình tiết định khung hình phạt “giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại tái phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 là sai lầm nghiêm trọng dẫn đến cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Duy tù chung thân về tội “giết người” là quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra.
Tải về
17. Thông báo số 13/TB-VC2-V1 ngày 18/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Phan Thanh Công về tội “Giết người”
Sơ lược nội dung: Phan Thanh Công đã dùng dao mang sẵn theo người đâm liên tiếp vào nhiều người khác hậu quả làm 01 người chết, 02 người bị thương tích nặng (67% và 64%) là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Sau khi phạm tội tự đến cơ quan chức năng “đầu thú” khai báo hành vi phạm tội, nhưng cấp sơ thẩm lại áp dụng tình tiết giảm nhẹ “tự thú” theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không đúng quy định.
Mặt khác, khi xảy ra xô xát bị hại có đánh bị cáo chưa gây thương tích, nhung bị cáo liền dùng dao đâm nhiều nhát vào 03 người bị hại. Hành vi bị cáo thể hiện tính côn đồ, hung hãn, coi thường pháp luật, coi thường tính mạng và sức khỏe người khác, cấp sơ thẩm cho rằng “người bị hại cũng có lỗi” áp dụng điểm e, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 để lượng hình là không đúng.
Tải về
18. Thông báo số 72/TB-VC2-V1 ngày 20/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Nguyễn Văn Bảo, phạm tội “Cố ý gây thương tích” bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung: Bị cáo Nguyễn Văn Bảo đã có hành vi dùng dao đâm, chém nhiều nhát vào nhiều vùng trọng yếu trên cơ thể của anh Lê Viết Tuấn, dẫn đến anh Tuấn bị “Vết thương thấu bụng gây thủng ruột, thủng cơ hoành trái, thủng màng phổi trái; vết thương thành ngược trái; viết thương cùng đỉnh đầu…; phòi tạng…; tràn máu màng phổi phải…” hậu quả người bị hại không chết mà chỉ bị thương cơ thể với tỷ lệ 55% là ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi của Nguyễn Văn Bảo là cố ý nhằm tước đoạt mạng sống của anh Tuấn nên đã cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tải về
19. Thông báo số 73/TB-VC2-V1 ngày 20/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Trần Quyết Thắng, phạm tội “Cố ý gây thương tích” bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung: Trần Quyết Thắng đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là con dao Thái Lan đâm hai nhát vào người anh Diệp Hải Toàn với 01 nhát xuyên thấu ổ bụng (là vùng xung yếu trên cơ thể con người) và 01 nhát vào lưng với lực rất mạnh làm gãy cả cán dao, lưỡi dao còn găm trên lưng người bị hại. Hậu quả bị hại không chết mà chỉ bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 57% là ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi của bị cáo Thắng có đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo Điều 123 BLHS năm 2015.
Tải về
20. Thông báo số 89/TB-VC2-V1 ngày 8/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Nguyễn Bá Sửu phạm tội “Cố ý gây thương tích” bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung: Bị cáo Sửu đã dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào vùng đầu là nơi trọng yếu cơ thể đã thể hiện rõ ý thức, mong muốn tước đoạt tính mạng của người khác. Các bị hại không chết là do được cấp cứu kịp thời, nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Hành vi của bị cáo Nguyễn Bá Sửu đã cấu thành tội “Giết người”, bản án sơ thẩm và phúc thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là không đúng tội danh bị cáo đã thực hiện.
Tải về
21. Thông báo số 92/TB-VC2-V1 ngày 9/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Nguyễn Hoài Châu, về tội “Cố ý gây thương tích” bị hủy án để điều tra lại do Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xét xử không đúng tội danh
Sơ lược nội dung: Hành vi của Nguyễn Hoài Châu là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm chém vào vị trí xung yếu (đầu) của anh Thất, buộc bị cáo phải biết có khả năng dẫn đến chết người, đã thỏa mãn dấu hiệu của tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự. Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm và phúc thẩm xét xử Nguyễn Hoài Châu về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 Bộ luật Hình sự là không đúng tội danh.
Tải về
22. Thông báo số 05/TB-VC2-V1 ngày 16/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án
Sơ lược nội dung: Hành vi của Đoàn Văn Nhựt là rất nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc tổ chức sinh nhật, bị cáo đã dùng hung khí là con dao rựa chém vào vùng đỉnh đầu của anh Sơn. Bị hại không chết là do may mắn vì đã kịp thời đưa tay lên che đầu cản lực chém của bị cáo nhưng vẫn bị vết thương đỉnh chẩm 12cm với tỷ lệ thương tích 07% và đứt gần lìa cổ tay trái 35%. Do đó, hành vi của bị cáo Nhựt đã cấu thành tội “Giết người”.
Tải về
23. Thông báo số 61/TB-VC2-V1 ngày 17/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án
Sơ lược nội dung: Bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm là cây gỗ chắc cứng, có cạnh với kích thức tương đối lớn (dài 133cm, đầu lớn KT 7,5×4,5×3 cm, đầu nhỏ KT 4,5x3x3cm) đánh vào vùng đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại; Bằng cách dùng cả hai tay cầm cây đánh lực mạnh từ trên xuống, với vị trí đứng đánh từ phía sau lưng, khi bị hại không biết và không có khả năng chống đỡ đã gây “Chấn thương sọ não, tụ máu dưới màng cứng thái dương đỉnh 2 bên, xuất huyết dưới nhện thái dương hai bên, nứt sọ thái dương (P)”. Với vết thương như trên hoàn toàn có thể tử vong cho bị hại nếu không được cứu chữa kịp thời. Sau khi gây án bị cáo thấy rõ bị hại gục xuống tại chỗ bất tỉnh nhưng vẫn bỏ về không tham gia cứu chữa. Hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội “Giết người”, cấp sơ thẩm và phúc thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là không đúng tội danh bị cáo đã thực hiện.
Tải về
24. Thông báo số 72/TB-VC2-V1 ngày 01/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án
Sơ lược nội dung: Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà các bị cáo đã tập hợp đông người, chuẩn bị hung khí gồm dao, rựa, mác là những hung khí nguy hiểm, có tính sát thương cao; khi gặp nhóm của Nguyễn Vũ Nghia thì Trí dùng mác, Khánh dùng “rựa”, Duy dùng “rựa” cùng nhiều người khác xông vào chém. Khi nhóm của Nghãi bỏ chạy, các bị cáo không dừng lại mà tiếp tục truy sát đến cùng, cụ thể Duy cầm “dao”, Tuấn sử dụng “mác” và Khánh sử dụng “rựa” đuổi theo, khi đuổi kịp thì cùng nhau xông đến chém nhiều nhát vào cơ thể của anh Nghĩa, anh Đạt. Hành vi của các bị áo thể hiện sự quyết liệt khi phạm tội, những người bị hại không chết là do được cấp cứu, điều trị kip thời; hơn nữa, anh Nghĩa đội mũ bảo hiểm, khi bị Duy dùng rựa chém thẳng từ trên xuống, dẫn đến vỡ mũ bảo hiểm rồi mưới trúng vào vùng đầu, nên hạn chế lực tác động. Vì vậy, hành vi phạm tội của Nguyễn Minh Duy, Trần Bình Tuấn và Trương Quang Khánh đã cấu thành tội “Giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tải về
25. Thông báo số 103/TB-VC2-V1 ngày 10/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án
Sơ lược nội dung: Mặc dù, các bị cáo Trọng và Tuấn khai chỉ dùng sống dao đánh vào lưng, vai và hông của bị hại Trinh và không biết Sang đánh vào vị trí nào của Trinh, có thể gây cho Trinh tử vong hay không. Tuy nhiên, hành động của Trọng, Nghiệp, Tuấn đã thể hiện sự thống nhất ý chí với Sang về việc cùng đi đánh nhau và trực tiếp cùng với Sang dùng hung khí tấn công bị hại nên các bị cáo Trọng, Tuấn, Nghiệp phải cùng chịu chung hậu quả và đồng phạm với tội danh bị cáo Sang đã thực hiện với vai trò là người thực hành. Còn đối với Việt, mặc dù không trực tiếp đánh lại Trinh nhưng khi nghe Sang nói Trọng đi đánh nhau thì cũng xin đi cùng, đồng thời chở Nghiệp tới địa điểm gây án. Đứng chừo đồng bọn thực hiện hành vi phạm tội xong thì chở Nghiệp về. Do đó Việt đã đồng phạm với vai trò giúp sức. Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Đình Sang về tội “Giết người” nhưng lại xét xử các bị cáo Trọng, Tuấn, Nghiệp và Việt về tội “Cố ý gây thương tích” là đánh giá không đúng vai trò đồng phạm, không đúng tội phạm các bị cáo Trọng, Tuấn, Nghiệp và Việt đã thực hiện.
Tải về
26. Thông báo số 20/TB-VC2-V1 ngày 18/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án
Sơ lược nội dung: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Y Khoan Buôn Yă, Y Henri Niê và Y Si Ngôn Mlô đều chưa đủ 18 tuổi (Y Khoan Buôn Yã 16 năm 11 tháng 03 ngày tuổi); Y Henri Niê 17 năm 07 tháng 16 ngày tuổi; Y Sĩ Ngôn Mlô 15 năm 06 tháng 04 ngày tuổi). Các bị cáo bị xét xử về tội “Giết người” theo khoản 1 Điều 123 BLHS và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Căn cứ quy định tại Điều 101 và khoản 3 Điều 102 BLHS thì mức hình phạt tối đa được áp dụng đối với các bị cáo Y Khoan Buôn Yă, Y Henri Niê là không quá 09 năm tù; đối với bị cáo Y Si Ngôn Mlô là không quá 04 năm tù. Bản án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Y Khoan Buôn Yã và Y Henri Niê mỗi bị cáo 10 năm tù và tuyên phạt bị cáo Y Si Ngôn Mlô 04 năm 06 tháng tù là vượt quá mức án tối đa mà luật quy định.
Tải về
27. Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2025/HS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long
Sơ lược nội dung: Vào khoảng 21 giờ ngày 26/01/2025, tại ấp G, xã A, huyện B, Bến Tre (nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long) Hồ Văn R sau khi đã có sử dụng rượu, bia và xảy ra mâu thuẫn, cự cãi với con của bị hại (anh Phạm Thanh T2 và chị Tống Thị Hồng X). Tuy được mọi người can ngăn nhưng xuất phát từ bản tính hung hăng, thích dùng vũ lực để giải quyết mâu thuẫn trong cuộc sống nên Hồ Văn R đi về chòi của nhà mình lấy một con dao loại dao thái lan rồi chạy bộ đến nhà T2 để đánh T2, lúc này ông Phạm Văn L (cha T2) từ trong nhà xông ra dùng tay đánh trả thì bị R dùng dao đâm một nhát trúng vào vùng vai trái làm ông L tử vong. Vì vậy, cáo trạng đã truy tố bị cáo Hồ Văn R phạm tội “Giết người” với tiết định khung tăng nặng “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Tải về
28. Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2025/HS-ST ngày 20/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên
Sơ lược nội dung: Xét thấy, sau khi xét xử sơ thẩm lần thứ nhất, bị cáo đã đi chấp hành án, nỗi đau mất mát của gia đình bị hại đã dần lắng xuống, gia đình bị hại và gia đình bị cáo không còn thù tức, căng thẳng, tình hình trị an tại địa phương đã ổn định trở lại, vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung. Đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa về hình phạt cho bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.
Tải về
Các tổng hợp nội dung có liên quan
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội giết người cho vượt quá phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội mua bán người
—————————————————–
CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)
– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
– Điện thoại: 0941.767.076
– Email: amilawfirmdn@gmail.com
– Website: https://amilawfirm.com/
– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm







