Trong các hành vi xâm phạm trật tự công cộng, hành vi gây rối trật tự công cộng vẫn diễn biến khá phức tạp. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tiếp tục quy định tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Điều 318 với nhiều sự sửa đổi bổ sung trong cấu thành tội phạm cũng như các tình tiết định khung hình phạt. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.
1. Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng
1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;
c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;
d) Xúi giục người khác gây rối;
đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;
e) Tái phạm nguy hiểm.
2. Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình
Điều 8. Vi phạm quy định về trật tự công cộng
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Gây mất trật tự công cộng ở nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, thương mại, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư hoặc ở những nơi công cộng khác, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;
b) Thả rông động vật nuôi trong đô thị hoặc nơi công cộng;
c) Để vật nuôi, cây trồng hoặc các vật khác xâm lấn lòng đường, vỉa hè, vườn hoa, sân chơi, đô thị, nơi sinh hoạt chung trong khu dân cư, khu đô thị;
d) Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
đ) Vứt rác hoặc bỏ bất cứ vật gì khác lên tường rào và khu vực liền kề với mục tiêu bảo vệ;
e) Chăn, thả gia súc, gia cầm trong chung cư.
2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Sử dụng rượu, bia, các chất kích thích gây mất trật tự công cộng;
b) Tổ chức, tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng;
c) Để động vật nuôi gây thương tích hoặc gây thiệt hại tài sản cho tổ chức, cá nhân khác;
d) Thả diều, bóng bay, các loại đồ chơi có thể bay ở khu vực cấm, khu vực mục tiêu được bảo vệ;
đ) Sử dụng tàu bay không người lái hoặc phương tiện bay siêu nhẹ chưa được đăng ký cấp phép bay hoặc tổ chức các hoạt động bay khi chưa có giấy phép hoặc đã đăng ký nhưng điều khiển bay không đúng thời gian, địa điểm, khu vực, tọa độ, giới hạn cho phép;
e) Cản trở, sách nhiễu, gây phiền hà cho người khác khi bốc vác, chuyên chở, giữ hành lý ở chợ, bến tàu, bến xe, sân bay, bến cảng, ga đường sắt và nơi công cộng khác;
g) Đốt và thả “đèn trời”;
h) Không có đủ hồ sơ, tài liệu mang theo khi khai thác tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ;
i) Tổ chức các hoạt động bay của tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ khi người trực tiếp khai thác, sử dụng chưa đáp ứng các tiêu chuẩn đủ điều kiện bay;
k) Tổ chức các hoạt động bay của tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ khi phương tiện bay chưa đáp ứng các tiêu chuẩn đủ điều kiện bay;
l) Phun sơn, viết, vẽ, dán, gắn hình ảnh, nội dung lên tường, cột điện hoặc các vị trí khác tại khu vực dân cư, nơi công cộng, khu chung cư, nơi ở của công dân hoặc các công trình khác mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền.
3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc khiêu khích, trêu ghẹo, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác, trừ trường hợp quy định tạiđiểm b khoản 2 Điều 26; các khoản 1 và 2 Điều 39 Nghị định này;
b) Tổ chức, thuê, giúp sức, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, kích động người khác cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác hoặc xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
c) Cố ý báo thông tin giả, không đúng sự thật đến các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;
d) Gọi điện thoại đến số điện thoại khẩn cấp 111, 113, 114, 115 hoặc đường dây nóng của cơ quan, tổ chức để quấy rối, đe dọa, xúc phạm;
đ) Thiết kế, sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng, thử nghiệm tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang bị, thiết bị của tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ không có đủ hồ sơ, tài liệu pháp lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc đăng ký theo quy định;
e) Thiết kế, sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng, thử nghiệm tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang bị, thiết bị của tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ không duy trì đủ điều kiện về nguồn nhân lực theo giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp;
g) Thiết kế, sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng, thử nghiệm tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang bị, thiết bị của tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ không duy trì đủ điều kiện về trang thiết bị, phương tiện, dụng cụ, nhà xưởng, sân bãi theo giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp;
h) Thiết kế, sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng, thử nghiệm tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang bị, thiết bị của tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ không bảo đảm tiêu chuẩn an ninh, an toàn và các điều kiện về môi trường theo quy định của pháp luật.
4. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Gây rối trật tự công cộng hoặc tổ chức, thuê, giúp sức, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, kích động người khác thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 4 và điểm b khoản 5 Điều này;
b) Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật hoặc phương tiện giao thông các loại công cụ, phương tiện sử dụng trong lao động, sản xuất, sinh hoạt có khả năng sát thương nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
c) Gây rối hoặc cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức;
d) Tổ chức, tham gia tập trung đông người trái pháp luật tại cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước hoặc các địa điểm, khu vực cấm;
đ) Đổ, ném chất thải, chất bẩn, hóa chất, gạch, đất, đá, cát hoặc vật khác vào nhà ở, nơi ở, người, đồ vật, tài sản của người khác, trụ sở cơ quan, tổ chức, nơi làm việc, nơi sản xuất, kinh doanh, mục tiêu, vọng gác bảo vệ mục tiêu;
e) Vào mục tiêu, vọng gác bảo vệ mục tiêu trái phép;
g) Sử dụng tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ treo cờ, biểu ngữ, thả truyền đơn, phát loa tuyên truyền ngoài quy định của phép bay;
h) Viết, phát tán, lưu hành tài liệu, hình ảnh có nội dung xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc mang theo băng, cờ, biểu ngữ dưới mọi hình thức nhằm chống đối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, trừ trường hợp vi phạm quy định tạikhoản 1 Điều 101 Nghị định số 15/2020/NĐ-CPngày 03 tháng 02 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 14/2022/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ).
5. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tạikhoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 37 Nghị định này;
b) Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
c) Quay phim, chụp ảnh, vẽ sơ đồ địa điểm cấm, khu vực cấm liên quan đến quốc phòng, an ninh;
d) Sàm sỡ, quấy rối tình dục;
đ) Khiêu dâm, kích dục ở nơi công cộng;
e) Thực hiện thiết kế, sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng, thử nghiệm tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang bị, thiết bị của tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ có chủng loại hoặc chất lượng không phù hợp với loại sản phẩm đã đăng ký theo giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp;
g) Sử dụng tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ phóng, bắn, thả từ trên không các loại vật, chất gây hại hoặc chứa đựng nguy cơ gây hại khi không được phép;
h) Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
6. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ quay phim, chụp ảnh từ trên không khi không được phép.
7. Phạt tiền từ 9.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện hoạt động bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ không đúng nội dung trong phép bay do cơ quan có thẩm quyền cấp.
8. Phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ nhưng không chấp hành các lệnh, hiệu lệnh của cơ quan quản lý điều hành và giám sát hoạt động bay.
9. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện thiết kế, sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng, thử nghiệm tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang bị, thiết bị của tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ khi chưa có giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp.
10. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Thực hiện hoạt động bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ khi chưa có phép bay do cơ quan có thẩm quyền cấp;
b) Hiếp dâm, cưỡng dâm nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tạiđiểm b khoản 2 Điều 41 Nghị định này.
11. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ cản trở hoặc gây mất an toàn cho các phương tiện bay khác.
12. Các hành vi vi phạm hành chính về giữ gìn vệ sinh chung được xử lý, xử phạt theo Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
13. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, d, đ và g khoản 2; các điểm a, b, c, d, đ, g và h khoản 4; các điểm a, b, c và g khoản 5; khoản 6; điểm a khoản 10 Điều này;
b) Tước quyền sử dụng giấy phép của cơ sở thiết kế, sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng, thử nghiệm tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang bị, thiết bị của tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ có thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm g và h khoản 3 Điều này;
c) Tước quyền sử dụng phép bay từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 6, 7, 8 và 11 Điều này;
d) Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại các điểm đ và e khoản 4 Điều này.
14. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 1, điểm l khoản 2 và điểm đ khoản 4 Điều này;
b) Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 3 và điểm h khoản 4 Điều này;
c) Buộc xin lỗi công khai tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 3 và điểm d khoản 5 Điều này, trừ trường hợp nạn nhân có đơn không yêu cầu;
d) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm g khoản 5 Điều này;
đ) Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 1, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 và điểm a khoản 5 Điều này.
3. Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự
5.2. “Gây cản trở giao thông nghiêm trọng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 245 Bộ luật Hình sự là gây cản trở giao thông từ 2 giờ trở lên hoặc gây cản trở giao thông ở những tuyến giao thông quan trọng, làm ách tắc giao thông trên diện rộng (không phân biệt thời gian bao lâu).
4. Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ
4. Tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” quy định tại khoản 3 các điều 353, 355 của Bộ luật Hình sự là một trong các trường hợp sau:
a) Gây khiếu kiện đông người, biểu tình, gây rối để các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, kích động chống phá chính quyền, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước;
b) Gây hoang mang, lo sợ hoặc phẫn nộ trong nhân dân;
c) Gây khó khăn trong việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Ví dụ: Nguyễn Văn A tham ô tiền hỗ trợ người nghèo phát triển kinh tế dẫn đến Ủy ban nhân dân xã B gặp khó khăn trong việc triển khai chính sách xóa đói, giảm nghèo tại địa phương.
5. Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT- BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/12/2008 hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo
II. VIỆC TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI ĐỐT PHÁO NỔ
1. Người nào đốt pháo nổ thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội “gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 245 BLHS:
a) Đốt pháo nổ ở nơi công cộng, những nơi đang diễn ra các cuộc họp, những nơi tập trung đông người;
b) Đốt pháo nổ ném ra đường, ném vào người khác, ném vào phương tiện khác đang lưu thông, ném từ trên cao xuống, đốt pháo nổ mang theo xe đang chạy;
c) Đốt pháo nổ gây thiệt hại sức khỏe, tài sản của người khác nhưng mức độ thiệt hại chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội khác;
d) Đốt pháo nổ với số lượng tương đương từ 1kg đến dưới 5 kg đối với pháo thành phẩm hoặc tương đương từ 0,1 kg đến dưới 0,5 kg đối với thuốc pháo;
e) Đốt pháo nổ với số lượng dưới 1 kg pháo thành phẩm hoặc dưới 0,1 kg đối với thuốc pháo và đã bị xử lý hành chính về hành vi đốt pháo nổ hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
2. Người nào đốt pháo nổ thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 245 BLHS:
a) Đã bị kết án về tội “gây rối trật tự công cộng” theo mục 1 phần II Thông tư này;
b) Lôi kéo, kích động trẻ em hoặc lôi kéo, kích động nhiều người cùng đốt pháo;
c) Cản trở, hành hung người can ngăn (gồm người thi hành công vụ, người bảo vệ trật tự công cộng hoặc người khác ngăn chặn không cho đốt pháo nổ);
d) Đốt pháo nổ với số lượng tương đương từ 5kg trở lên đối với pháo thành phẩm hoặc tương đương từ 0,5 kg thuốc pháo trở lên.
3. Người nào đốt pháo nổ gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác thì ngoài việc truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội “gây rối trật tự công cộng” theo Điều 245 BLHS, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh khác quy định trong Bộ luật này, tương xứng với hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác do hành vi đốt pháo gây ra. Ví dụ: Nếu đốt pháo nổ gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác đến mức phải xử lý hình sự thì vừa bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội “gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 245 BLHS, vừa bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác” quy định tại Điều 104 BLHS.
6. Công văn số 485/TANDTC-PC ngày 31/12/2021 của Tòa án nhân dân tối cao trả lời kiến nghị cử tri gửi tới Quốc hội trước kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV
1. Đề nghị hướng dẫn áp dụng tình tiết định khung “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” và “tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại” quy định tại Chương XVI của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội xâm phạm sở hữu (từ Điều 168 đến Điều 180) do có nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc áp dụng không thống nhất các tình tiết này giữa các địa phương.
Thực hiện nhiệm vụ được Quốc hội giao, trong thời gian qua, Tòa án nhân dân tối cao đã nghiên cứu xây dựng và ban hành nhiều Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán, án lệ, giải đáp và công văn nghiệp vụ để hướng dẫn, bảo đảm áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử, trong đó có Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ. Nghị quyết này cũng đã hướng dẫn về tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”. Trong thời gian tới, thông qua công tác tổng kết thực tiễn và giám đốc việc xét xử, Tòa án nhân dân tối cao sẽ tiếp tục nghiên cứu, ban hành các văn bản hướng dẫn, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 3 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
7. Thông báo số 892/TB-VKS ngày 20/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao rút kinh nghiệm đối với vụ án Trịnh Bá Tuấn cùng đồng phạm bị xét xử về tội “Giết người”, “Cố ý gây thương tích” và “Che giấu tội phạm”
Sơ lược nội dung: Hành vi của Trịnh Bá Tuấn và hành vi của An, Hải, Trường có liên quan chặt chẽ với nhau; việc các cơ quan tư pháp tố tụng hai cấp không khởi tố để điều tra đối với An, Hải, Trường về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” tại phiên tòa theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử đồng thời với hành vi “Giết người”, “Cố ý gây thương tích” của Trịnh Bá Tuấn và hành vi “Che giấu tội phạm” của Nguyễn Hà Minh Quân và Phạm Ngọc Thuận đã làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan, toàn diện và triệt để; bỏ lọt tội phạm, chưa đáp ứng yêu cầu đấu tranh tội phạm trong các vụ án đánh nhau đông người tại nơi công cộng và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hiện nay.
Tải về
8. Thông báo số 04/TB-VC2-V1 ngày 06/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án hình sự bị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để điều tra lại do bỏ lọt tội phạm
Sơ lược nội dung: Mai Văn Thi, Đặng Trần Anh Tuấn, Nguyễn Hoàng Nhật và Nguyễn Văn Trường cùng những người khác trong nhóm Chuồng gà đều thống nhất cùng nhau đi đến địa điểm hẹn trước để đánh nhau với nhóm Thiên heo. Các thành viên trong nhóm đã có sự chuẩn bị trước và đem theo nhiều hung khí nguy hiểm để đánh nhau. Khi gặp đối phương nhiều người của cả hai nhóm liền xông vào đánh, chém, bắn nhau làm Đào Trọng Thiện đã tử vong. Do đó, Thi, Tuấn, Hoàng, Nhật và những người trong nhóm Chuồng gà cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội ngày 22/9/2019 phải cùng chịu chung trách nhiệm hình sự về tội “Giết người”. Cấp sơ thẩm chỉ mới khởi tố đối với Đặng Trần Anh Tuấn về tội “Giết người” mà không khởi tố, xử lý Mai Văn Thi, Nguyễn Hoàng Nhật và Nguyễn Văn Trường về tội “Giết người” là bỏ lọt tội phạm.
Tải về
9. Thông báo số 40/TB-VC1-V1 ngày 16/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội rút kinh nghiệm đối với vụ án hình sự về tội “Giết người”, “Gây rối trật tự công cộng”
Sơ lược nội dung: Đinh Lê Hoàng Minh, Lê Văn Đức và Nguyễn Văn Cương đã nhận thức được hành vi nguy hiểm cho xã hội của Nguyễn Quốc Đạt; tiếp nhận ý chí, mục đích của Đạt và chấp nhận hậu quả khi tham gia cùng với Đạt đánh anh Chiến. Do đó, hành vi của Đinh Lê Hoàng Minh, Lê Văn Đức, Nguyễn Văn Cương có dấu hiệu đồng phạm với Nguyễn Quốc Đạt về tội “Giết người”. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Cương, Đinh Lê Hoàng Minh, Lê Văn Đức phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” là không đúng quy định của pháp luật.
Tải về
10. Thông báo số 202/TB -VKSTC ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao rút kinh nghiệm vụ án hình sự Hội đồng giám đốc thẩm Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án hình sự phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại
Sơ lược nội dung: Hành vi dùng dao đâm bị hại Long dẫn đến tử vong và đâm bị hại Minh gây thương tích (tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%) xâm phạm đến quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe con người. Hành vi tụ tập đông người, la lối, chửi bới, đánh nhau tại khu vực đông dân cư sinh sống và tại bệnh viện xâm phạm đến trật tự chung, gây mất trật tự nơi công cộng, ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt của người dân. Trong vụ án này, các tội danh được cấu thành từ các hành vi độc lập xâm phạm các khách thể khác nhau nên đủ cơ sở để kết án về 03 tội “Giết người”, “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”. Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án hình sự sơ thẩm, tuyên bố Trần Tấn Phúc không phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và xử phạt Trần Tấn Phúc 20 năm tù về tội “Giết người” là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
Tải về
11. Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2018/HSST ngày 20/8/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai
Sơ lược nội dung: Khi thấy Phạm Văn H, Phạm Hồng M, Nguyễn Văn T, Vi Văn N ở trước nhà thì Đ hô hào đồng phạm xuống xe dùng dao rượt, đuổi đánh, dùng gạch ném vào trong nhà làm hư hỏng hỏng tài sản, gây náo loạn, làm mất trật tự và ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân, là nguyên nhân dẫn đến việc M, T, N ném đá gây ra cái chết của anh Nam. Tài sản do các bị cáo phá phách bị hư hỏng theo kết luận định giá là 1.235.260 đồng. Do vậy, Long Văn T đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo tình tiết định khung tăng nặng “có hành vi phá phách” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự 2015.
Tải về
12. Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 11/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình
Sơ lược nội dung: Các bị cáo đều có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội, người chủ mưu là bị cáo Nguyễn Văn B sử dụng hung khí là gậy bóng chày, bị cáo Đ sử dụng mũ cối tham gia hò hét, đuổi đánh Nguyễn Tuấn Kim T9 nên hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, với tình tiết định khung tăng nặng là dùng hung khí.
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm. Khi xem xét về nhân thân của các bị cáo thì thấy, bị cáo Đ, bị cáo P đều có nhân dân thân xấu. Hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục.
Tải về
Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST
13. Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Sơ lược nội dung: Hậu quả các bị cáo Trần Thị Ngọc T và Trần Xuân Đ gây ra trong vụ án là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự công cộng, an toàn giao thông (theo Văn bản số 175/BC-ATGT ngày 11/10/2023 của Ban an toàn giao thông phường Tăng Nhơn Phú B, thành phố Thủ Đức và Văn bản số 13/UBND-M ngày 13/10/2023, UBND phường Thủ Thiêm, thành phố Thủ Đức). Ngoài ra, trong các lần thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, Trần Thị Ngọc Tr còn tổ chức cho quay video, biên tập và tự đăng lên bằng tài khoản cá nhân trên các nền tảng mạng xã hội (Tiktok; Facebook) có số lượng người theo dõi rất lớn, bình luận và tương tác đặc biệt lớn, gây ảnh hưởng xấu trong dư luận xã hội.
Hành vi “Gây rối trật tự công cộng” của Trần Thị Ngọc T và Trần Xuân Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, đe dọa đến sự an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác, gây mất an ninh, trật tự trị an xã hộ. Hành vi “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” của Trần Xuân Đ, còn xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của cơ quan nhà nước và sự động bình thường của cơ quan, tổ chức. Các bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng với thái độ xem thường pháp luật vẫn phạm tội với lỗi cố ý.
Tải về
Các tổng hợp có liên quan:
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội đánh bạc
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội cố ý gây thương tích
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội giết người
—————————
CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)
– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
– Điện thoại: 0941.767.076
– Email: amilawfirmdn@gmail.com
– Website: https://amilawfirm.com/
– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm







