Tội đánh bạc có diễn biến ngày càng phức tạp và đa dạng, từ đánh bạc trực tiếp cho đến việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông… để thực hiện hành vi phạm tội. Hiện nay, tội “Đánh bạc” được quy định cụ thể tại Điều 321, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với nhiều điểm tiến bộ, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc đấu tranh phòng, chống đối với tội này. Tuy nhiên, khi áp dụng quy định về tội “Đánh bạc” vào thực tế thì phát sinh nhiều vướng mắc. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.
1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật nàyhoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
2. Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình
Điều 36. Hành vi đánh bạc trái phép
1. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế, binh ấn độ 6 lá, binh xập xám 13 lá, tiến lên 13 lá, đá gà, tài xỉu hoặc các hình thức khác với mục đích được, thua bằng tiền, tài sản, hiện vật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
c) Cá cược trái phép trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí hoặc các hoạt động khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Nhận gửi tiền, cầm đồ, cho vay trái phép tại sòng bạc, nơi đánh bạc khác;
b) Bán số lô, số đề, bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề, giao lại cho người khác để hưởng hoa hồng;
c) Giúp sức, che giấu việc đánh bạc trái phép;
d) Bảo vệ các điểm đánh bạc trái phép;
đ) Chủ sở hữu, người quản lý máy trò chơi điện tử, chủ cơ sở kinh doanh, người quản lý cơ sở kinh doanh trò chơi điện tử hoặc các cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác thiếu trách nhiệm trong thực hiện quy định quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh để xảy ra hoạt động đánh bạc ở cơ sở do mình quản lý.
6. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1; khoản 2; các điểm a và b khoản 3; các điểm c và d khoản 4 và khoản 5 Điều này;
b) Đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 12 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm đ khoản 3 Điều này;
c) Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại điểm đ khoản 3, các điểm c và d khoản 4, khoản 5 Điều này.
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1; khoản 2; các điểm a và b khoản 3; các điểm b, c và d khoản 4 và khoản 5 Điều này.
3. Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật hình sự
Điều 1. Về một số quy định tại Điều 248 của Bộ luật hình sự
1. “Đánh bạc trái phép” là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.
2. Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét; cụ thể như sau:
a) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (dưới 2.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc;
b) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần đánh bạc nào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó;
c) Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự;
d) Trường hợp đánh bạc từ năm lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) và lấy tiền, hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật hình sự.
3. “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm:
a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;
b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;
c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.
4. Khi xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc cần phân biệt:
a) Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn tại khoản 3 Điều này;
b) Trường hợp đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa… thì một lần chơi số đề, một lần cá độ bóng đá, một lần cá độ đua ngựa… (để tính là một lần đánh bạc) được hiểu là tham gia chơi trong một lô đề, tham gia cá độ trong một trận bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa… trong đó người chơi có thể chơi làm nhiều đợt. Trách nhiệm hình sự được xác định đối với người chơi một lần đánh bạc trong các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi trong các đợt đó.
Ví dụ 1: Tại kỳ đua ngựa thứ 39, tổ chức vào ngày 15-7-2010, trong khoảng thời gian từ 9 giờ đến 11 giờ A đã cá độ ba đợt cụ thể là đợt một 500.000 đồng, đợt hai 1.000.000 đồng, đợt ba 2.000.000 đồng, trong trường hợp này chỉ coi A đã đánh bạc một lần trong kỳ đua ngựa đó với tổng số tiền là 3.500.000 đồng.
Ví dụ 2: Ngày 20-7-2010, trong khoảng thời gian từ 10 giờ đến 16 giờ, B mua ba số đề trong một lô đề cụ thể là: mua số 17 với số tiền là 500.000 đồng, mua số 20 với số tiền là 2.100.000 đồng, mua số 25 với số tiền 3.000.000 đồng; trong trường hợp này, chỉ coi B đánh bạc một lần.
Trong các trường hợp nêu tại ví dụ 1 và ví dụ 2 trên đây, nếu số tiền cá độ đua ngựa, số tiền mua số đề của mỗi đợt từ 2.000.000 đồng trở lên thì cũng không được áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.
5. Việc xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ và của chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa… như sau:
5.1. Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ dùng đánh bạc
a) Trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ.
Ví dụ: B mua 5 số đề với tổng số tiền là 100.000 đồng, tỷ lệ được thua 1/70 lần, trong đó có 4 số đề mua mỗi số 10.000 đồng, 1 số đề mua với số tiền 60.000 đồng, hành vi của B bị phát hiện sau khi có kết quả mở thưởng, kết quả bóng đá, kết quả đua ngựa… và B đã trúng số đề mua với số tiền 60.000 đồng thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng + (60.000 đồng × 70 lần) = 4.300.000 đồng.
b) Trường hợp người chơi số đề, cá độ không trúng số đề, không thắng cược cá độ hoặc bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ.
Ví dụ 1: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.1 khoản 5 Điều này, nếu B không trúng số nào thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng.
Ví dụ 2: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.1 khoản 5 Điều này, nếu hành vi của B bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng (không phụ thuộc vào việc khi có kết quả mở thưởng B có trúng số đề hay không trúng số đề).
5.2. Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc
a) Trường hợp có người chơi số đề, cá độ trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc là toàn bộ số tiền thực tế mà chủ đề, chủ cá độ đã nhận của những người chơi số đề, cá độ và số tiền mà chủ đề, chủ cá độ phải bỏ ra để trả cho người trúng (có thể là một hoặc nhiều người).
Ví dụ: D là chủ đề của 5 người chơi số đề khác nhau, mỗi người chơi một số đề với số tiền là 50.000 đồng (tổng cộng là 250.000 đồng); tỷ lệ được thua là 1/70 lần và có 2 người đã trúng số đề thì số tiền D dùng để đánh bạc trong trường hợp này là 250.000 đồng + (50.000 đồng × 70 lần × 2 người) = 7.250.000 đồng.
b) Trường hợp không có người chơi số đề, cá độ trúng số đề, thắng cược cá độ hoặc bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng, kết quả bóng đá, kết quả đua ngựa… thì số tiền chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà chủ đề, chủ cá độ đã nhận của những người chơi số đề, cá độ.
Ví dụ 1: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.2 khoản 5 Điều này, nếu cả 5 người chơi không trúng số đề thì số tiền mà chủ đề dùng đánh bạc là 50.000 đồng × 5 người = 250.000 đồng.
Ví dụ 2: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.2 khoản 5 Điều này, nếu hành vi của D bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền D dùng đánh bạc trong trường hợp này là 50.000 đồng × 5 người = 250.000 đồng (không phụ thuộc vào việc khi có kết quả mở thưởng có hay không có người trúng số đề).
4. Công văn số 80/TANDTC-PC ngày 29/3/2016 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dân xử lý hành vi đánh bạc trái phép dưới 5.000.000 đồng
1. Kể từ ngày 09-12-2015 (ngày công bố Bộ luật hình sự năm 2015) đến hết ngày 30-6-2016, đối với người thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá dưới 5.000.000 đồng, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chứcđánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc nhưng đã được xóa án tích, nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử thì Tòa án phải mở phiên tòa và căn cứ vào Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999 miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
2. Kể từ ngày 01-7-2016, nếu hành vi đánh bạc trái phép dưới 5.000.000 đồng, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chứcđánh bạc hoặc chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc nhưng đã được xóa án tích mới bị phát hiện, Điều tra, truy tố, xét xử thì áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 để tuyên bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án.
3. Đồng thời với việc miễn trách nhiệm hình sự, đình chỉ vụ án, Tòa án phải ghi rõ trong quyết định hoặc trong bản án lý do của việc miễn trách nhiệm hình sự, đình chỉ vụ án là do chính sách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước, chứ không phải oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; do đó, người được miễn trách nhiệm hình sự, đình chỉ vụ án không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Đối với các vấn đề khác như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng… (kể cả việc xử lý hành chính, xử lý kỷ luật) hoặc xét xử về các tội phạm khác, các bị cáo khác trong vụ án (nếu có) thì vẫn được giải quyết theo thủ tục chung. Trường hợp xét thấy hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì cùng với việc đình chỉ vụ án, Tòa án phải chuyển quyết định đình chỉ vụ án kèm theo hồ sơ vụ án, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử lý vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền.
5. Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ
I. VỀ HÌNH SỰ
1. Trường hợp 01 người bị kết án về tội đánh bạc với số tiền là 4.500.000 đồng. Sau đó, tuy chưa được xóa án tích nhưng người này lại tiếp tục đánh bạc với số tiền 262.000 đồng nên bị kết án 04 tháng tù về tội đánh bạc (cả hai lần bị kết án đều trước ngày 09-12-2015). Nếu người này chưa chấp hành hình phạt thì có được miễn chấp hành hình phạt hay không?
Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: người có hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì vẫn bị xử lý hình sự. Như vậy, cấu thành tội phạm của tội đánh bạc trong trường hợp này theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 không thay đổi so với Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999. Thời điểm bị xét xử lần hai về tội đánh bạc (trước ngày 09-12-2015), người phạm tội bị xác định là có tiền án về tội đánh bạc là đúng. Do đó, trong trường hợp này họ không được miễn chấp hành hình phạt.
6. Theo Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì số tiền của người chơi để, cá độ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ (trong trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ) hoặc là tổng số tiền mà họ đã bõ ra để mua số đề, cá độ (trong trường hợp người chơi số đề, cá độ không trúng số đề, không thắng cược cá độ), Tuy nhiên, thực tế các chủ đề thường thu hút con bạc bằng cách trừ tiền hoa hồng cho những người chơi đề khi họ ghi đề. Vì vậy, dẫn đến tình trạng số tiền ghi trên tờ phơi sẽ cao hơn số tiền mà người chơi đề phải bỏ ra để mua số đề; số tiền mà chủ đề nhận được từ người chơi sẽ thấp hơn số tiền ghi trên tờ phơi. Trong trường hợp này, xác định số tiền dùng để đánh bạc là số tiền ghi trên tờ phơi hay là số tiền mà người chơi đề thực tế đã bỏ ra?
Hiện nay, việc xác định số tiền dùng để đánh bạc (đánh đề hoặc cá độ) vẫn được thực hiện theo hướng dẫn tại các điểm a, b mục 5.1 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó, số tiền của người chơi đề, cá độ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ (trong trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ) hoặc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ (trong trường hợp người chơi số đề, cá độ không trúng số đề, không thắng cược cá độ). Như vậy, số tiền mà họ đã bỏ ra không chỉ là số tiền thực tế họ đưa cho người ghi đề, ghi cá độ mà phải là số tiền ghi trên tờ phơi hoặc giấy tờ khác chứng minh việc đánh bạc trái phép.
6. Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 04/9/2018 về việc áp dụng điểm c khoản 2 điều 321 và điểm c khoản 2 điều 322 của BLHS
Trong thời gian qua, Tòa án nhân dân tối cao nhận được ý kiến phản ánh của một số Tòa án về vướng mắc trong việc áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật việc áp dụng tình tiết nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:
“Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự được hiểu là việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để đánh bạc trực tuyến (như hình thành nên các chiếu bạc online hoặc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để tổ chức đánh bạc, gá bạc).
Việc người phạm tội sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử khác như là phương tiện để liên lạc với nhau (ví dụ: nhắn tin qua điện thoại, qua email, zalo, viber…. để ghi số đề, lô tô, cá độ đua ngựa…) mà không hình thành nên các trò chơi được thua bằng tiền hoặc hiện vật trực tuyến thì không thuộc trường hợp “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.
7. Công văn số 3269/VKSTC-V14 ngày 29/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải đáp một số khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật hình sự về tội đánh bạc
1. Trường hợp đánh bạc bằng hình thức chơi số đề lấy kết quả ở nhiều đài xổ số khác nhau thì số tiền đánh bạc được tính ở 01 đài xổ số hay ở tất cả các đài xổ số trong ngày?
– Hiện nay có 03 đài xổ số chính ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam có thời điểm quay số trúng thưởng khác nhau. Do vậy, nếu trong cùng một ngày, người chơi số đề mua số đề của 01 chủ đề mà lấy kết quả ở các đài xổ số miền Bắc, miền Trung và miền Nam thì số tiền đánh bạc được xác định ở từng đài xổ số, bởi vì, mặc dù trong cùng một ngày nhưng các đài xổ số miền Bắc, miền Trung và miền Nam có thời điểm mở thưởng khác nhau, mà hành vi đánh bạc chỉ được coi là đã hoàn thành tại thời điểm mở thưởng nên mỗi lần chơi đề ở 01 đài với một số tiền nhất định cần được tính là 01 lần độc lập; nếu số tiền của mỗi lần chơi số đề đó đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì phải xác định là phạm tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên”.
– Trường hợp trong cùng một ngày, nếu người chơi số đề mua số đề của 01 chủ đề mà lấy kết quả ở các đài xổ số ở các tỉnh, thành phố khác nhau nhưng cùng thuộc một đài xổ số miền Trung hoặc miền Nam thì số tiền đánh bạc được xác định là tổng số tiền của tất cả các đài xổ số ở các tỉnh, thành phố thuộc 01 đài cộng lại. Bởi, trong cùng một ngày, các đài xổ số ở các tỉnh, thành phố thuộc một đài xổ số miền Trung hoặc miền Nam mở thưởng cùng một thời điểm (hoàn thành 01 lần đánh bạc).
– Ví dụ 1: Trong cùng một ngày xổ số, A mua đề của B gồm đài miền Nam với số tiền 5.000.000 đồng; đài miền Bắc với số tiền 5.000.000 đồng thì được coi là đánh bạc với tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên.
– Ví dụ 2: Trong cùng một ngày, A mua đề của ông B đài miền Nam gồm: ở Cần Thơ với số tiền 2.000.000 đồng; ở Vũng Tàu với số tiền 3.000.000 đồng thì được tính là 01 lần đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc là 5.000.000 đồng.
2. Trường hợp A mua số đề của B với số tiền 3.000.000 đồng ở đài xổ số miền Nam, sau khi có kết quả xổ số A thấy không trúng nên tiếp tục mua số đề của B với số tiền 3.000.000 đồng ở đài xổ số miền Bắc thì bị bắt quả tang. Vậy xác định: A đánh bạc 01 lần với số tiền 6.000.000 đồng hay A đánh bạc 2 lần, không cộng tổng số tiền đánh bạc?
Do thời điểm mở thưởng ở đài xổ số miền Bắc và đài xổ số miền Nam khác nhau nên cần xác định A có 2 lần đánh bạc (hành vi đánh bạc mỗi lần hoàn thành tại thời điểm mở thưởng). Nếu mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, thì A phạm tội đánh bạc với tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”, không cộng tổng số tiền đánh bạc các lần chơi đề để tính 01 lần phạm tội.
3. Trường hợp trong cùng một ngày, người chơi số đề mua số đề của các chủ đề khác nhau, lấy kết quả ở nhiều đài xổ số khác nhau thì số tiền đánh bạc được xác định đối với từng chủ đề hay là tổng số tiền mua đề của các chủ đề?
Trong cùng một ngày, người chơi số đề mua số đề của các chủ đề khác nhau lấy kết quả ở nhiều đài xổ số khác nhau thì số tiền đánh bạc được xác định đối với từng chủ đề. Số tiền đánh bạc đối với từng chủ đề được xác định như mục 1 Công văn này.
4. Trường hợp trong 01 lần mua số đề, nhưng giữa người chơi đề và chủ đề thỏa thuận đánh một hoặc nhiều dãy số cố định trong cùng 01 đài xổ số, nhưng được áp dụng trong nhiều ngày, thì số tiền đánh bạc 01 lần được tính theo từng ngày hay theo tổng số ngày đã thỏa thuận cộng lại?
Trường hợp trong 01 lần mua số đề, giữa người chơi đề và chủ đề thỏa thuận ghi một hoặc nhiều dãy số cố định trong cùng 01 đài xổ số, nhưng được áp dụng trong nhiều ngày, thì số tiền đánh bạc 01 lần là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi đề theo từng ngày (tính là 01 lần phạm tội theo thời điểm mở thưởng nếu đủ cấu thành tội phạm).
5. Trường hợp các bên đã thỏa thuận đánh số đề với nhau, nhưng chưa giao tiền đánh đề cho nhau thì bị bắt, thì có thu số tiền đánh đề để sung quỹ Nhà nước không?
Trường hợp này, nếu có đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải tịch thu số tiền đánh đề để sung vào ngân sách nhà nước, bởi việc các bên thỏa thuận đánh số đề cho đến khi mở thưởng, nếu không có sự việc “tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” theo quy định tại Điều 16 Bộ luật Hình sự xảy ra thì phải được coi là đã hoàn thành việc đánh bạc. Việc trả tiền trước hoặc sau chỉ cách thức thực hiện mà không làm thay đổi bản chất của việc người phạm tội dùng tiền làm phương tiện, công cụ để đánh bạc.
6. Hiện nay, Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 Bộ luật Hình sự không còn giá trị hướng dẫn đối với Bộ luật Hình sự năm 2015; tuy nhiên, đến nay chưa có văn bản hướng dẫn khác của cơ quan có thẩm quyền về vấn đề này. VKSND tối cao không có thẩm quyền hướng dẫn chi tiết Bộ luật Hình sự. Do vậy, trong thời gian này, Viện kiểm sát các cấp cần chủ động phối hợp, thống nhất với các cơ quan tiến hành tố tụng cùng cấp để có thể vận dụng tinh thần Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP giải quyết vụ án, vụ việc cụ thể.
8. Án lệ số 48/2021/AL về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Nộp lại tiền thu lợi bất chính”
Khái quát nội dung án lệ:
– Tình huống án lệ:
Bị can, bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội.
– Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải xác định bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng với khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tải về
9. Thông báo số 03/TB-VC3-V1 ngày 03/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân câp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh rút kinh nghiệm đối với vụ án Phan Thị Hồng cùng đồng phạm, phạm tội “Đánh bạc”
Sơ lược nội dung: Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc trong vụ án này phải là 4.890.000 + 18.590.000 = 223.480.000 đồng và tất cả những người tham gia đánh bạc đều phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền nói trên. Nhưng Kết luận điều tra và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận đã nhận định không phù hợp với tài liệu điều tra, dẫn đến chỉ đề nghị và truy tố đối với Phan Thị Hồng, Nguyễn Đắc Hoàng, Nguyễn Thị Thanh Truyền và Lương Thị Hoa là bỏ lọt hành vi phạm tội của những người tham gia đánh bạc còn lại.
Tải về
10. Thông báo số 05/TB-VC3-V1 ngày 28/2/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh rút kinh nghiệm về vụ án hình sự bị giám đốc thẩm hủy để xét xử lại
Sơ lược nội dung: Các bị cáo không trực tiếp sử dụng những chiếc xe mô tô này vào việc đánh bạc, gá bạc và việc sử dụng xe hay không sử dụng xe không làm ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Do vậy. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm tuyên tịch thu 05 chiếc xe mô tô của các bị cáo sung quỹ Nhà nước là không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 vì theo quy định của các điều luật trên thì chỉ những “Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội” thì mới bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước. Thực tế, 05 bị cáo không dùng xe làm công cụ, phương tiện để thực hiện phạm tội nên không thuộc đối tượng bị tịch thu như quy định tại các Điều luật trên. Việc tuyên tịch thu, sung quỹ Nhà nước những chiếc xe của các bị cáo là gây thiệt hại cho quyền lợi các bị cáo.
Tải về
11. Thông báo số 25/TB-VC2-V1 ngày 16/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cap tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Trương Thị Trang và các đồng phạm tội: “Đánh bạc” bị cấp giám đốc thẩm hủy án sơ thẩm, phúc thẩm để xét xử lại
Sơ lược nội dung: Tất cả các bị cáo đều đã bị xử lý nhiều lần cả về mặt hành chính và hình sự nhưng vẫn tiếp tục phạm tội đánh bạc, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, không ăn năn hối cải. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa phân tích, đánh giá đúng tính chất vụ án, nhân thân, tiền án, tiền sự của các bị cáo, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với Trang; phạt tiền đối với Quang, Châu là không đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Tải về
12. Thông báo số 60/TB-VC2 ngày 14/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Trần Xuân Tuấn và Lê Văn Bình, phạm tội “Đánh bạc”, bị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại
Sơ lược nội dung: Khi vụ việc được chuyển cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum để điều tra theo thẩm quyền, thì các đối tượng liên quan nêu trên thay đổi lời khai, dẫn đến mâu thuẩn giữa các lời khai và không phù hợp với các chứng khác của vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu .v.v..; thế nhưng Cơ quan CSĐT Công an huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum không tiến hành đối chất để làm sáng tỏ hành vi của từng đối tượng mà kết luận các đối tượng Lê Thành Tín, Đỗ Xuân Thuận, Nguyễn Minh Phú, Trần Mộng Hùng, Lê Tùng Dương, Tạ Ngọc Phi, Phan Lê Cảnh, .v.v.. không tổ chức đánh bạc và không tham gia đánh bạc vào ngày 31/5/2018 là chưa đủ căn cứ vững chắc, có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội.
Tải về
13. Thông báo số 895/TB-VKSTC ngày 26/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao rút kinh nghiệm đối với vụ án Phan Sỹ Nhựt phạm tội “Đánh bạc”
Sơ lược nội dung: Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng căn cứ vào Hồ sơ bệnh án và Biên bản kết luận giám định nêu trên để kháng nghị giám đốc thẩm khi chưa kiểm tra, xác minh làm rõ là không có cơ sở. Sau đó, Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tiếp tục căn cứ vào Hồ sơ bệnh án và Biên bản kết luận giám định đó để cho bị cáo được hưởng án treo là có sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật, xử lý không nghiêm đối với bị cáo, không đáp ứng yêu cầu đấu tranh tội phạm sử dụng công nghệ cao trong giai đoạn hiện nay.
Tải về
14. Thông báo số 18/TB-VC1-HS ngày 26/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội rút kinh nghiệm đối với vụ án Dương Bá Thái và Triệu Quốc Hưng, phạm tội “Đánh bạc”
Sơ lược nội dung: Tại cấp phúc thẩm, Dương Bá Thái không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nhưng Tòa án cấp phúc thẩm quyết định xét xử giảm hình phạt xuống 02 năm tù cho Dương Bá Thái là không có căn cứ và chưa tương xứng.
Căn cứ khoản 5 Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 thì hành vi phạm tội nhiều lần của bị cáo Hưng không thuộc trường hợp được hưởng án treo. Hơn nữa, tại cấp phúc thẩm không có tỉnh tiết giảm nhẹ mới nhưng Tòa án cấp phúc thẩm quyết định cho Triệu Quốc Hưng được hưởng án treo là trái quy định.
Tải về
15. Thông báo số 72/TB-VC2 ngày 02/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Y Ngoan Ayũn và đồng phạm bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận Lê Duy Cường đã cung cấp tài khoản mạng bóng đá trên trang wed Bong88.com cho bị cáo Y Ngoan Ayũn. Bị cáo Y Ngoan Ayũn dùng tài khoản do Cường cung cấp để cá độ bóng đá với các đối tượng khác và Cường. Hành vi của Cường phạm tội: “Đánh bạc” nhưng không xử lý là bỏ lọt người thực hiện hành vi phạm tội.
Tải về
16. Thông báo số 10/TB-VC1 ngày 11/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội rút kinh nghiệm về việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ không đúng quy định
Sơ lược nội dung: Bị cáo Bùi Thị Thắm đã bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội cùng loại nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2017, bị Công an phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xử phạt bị cáo Bùi Thị Thắm 15 tháng cải tạo không giam giữ là không đúng tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, không đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và tác dụng răn đe, phòng ngừa đối với loại tội phạm này.
Tải về
17. Thông báo số 10/TB-VC1-HS ngày 03/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội rút kinh nghiệm đối với vụ án Nguyễn Thành Xô cùng đồng phạm bị kết án về tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”
Sơ lược nội dung: Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP cho rằng các bị cáo Nguyễn Thành Xô, Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Văn Tuyến, Ngô Thị Xuân, Đỗ Thị Hồng Chuyên, Nguyễn Văn Cừ đã tổ chức đánh bạc trong đó có sử dụng phương tiện trợ giúp là điện thoại di động và các bị cáo phải bị truy tố, xét xử và kết án về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự với vai trò đồng phạm với Nguyễn Thành Xô là không đúng.
Tải về
18. Thông báo số 87/TB-VKSTC ngày 22/4/2022 của viện kiểm sát nhân dân tối cao rút kinh nghiệm đối với vụ án Nguyễn Đỗ Bình và đồng phạm, phạm tội “Đánh bạc” tại Thành phố Hồ Chí Minh
Sơ lược nội dung: Nguyễn Đỗ Bình phạm tội với 02 tình tiết định khung là “tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50 triệu đồng trở lên” quy định tại điểm b, “sử dụng mạng internet để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, số tiền đánh bạc là 903.835.500 đồng lớn hơn các bị cáo còn lại, Bình chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng mức án tuyên lại ngang bằng với Khuất Hữu Chiến chỉ có 01 tình tiết định khung tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 “tiền dùng đánh bạc trị giá 50 triệu đồng trở lên”, số tiền đánh bạc ít hơn lại có 02 tình tiết giảm nhẹ. Tương tự đối với bị cáo Nguyễn Văn Trung có số lần đánh bạc nhiều hơn, số tiền đánh bạc lớn hơn nhưng mức án ngang bằng với Lê Nho Hòa có số lần đánh bạc ít hơn, số tiền đánh bạc ít hơn là không công bằng.
Tải về
19. Thông báo số 09/TB-VC1-HS ngày 18/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội rút kinh nghiệm về xác định tội danh
Sơ lược nội dung: Theo tài liệu có trong hồ sơ thể hiện chỉ bị cáo Đinh Thị H và bị cáo Nguyễn Thị X đánh bạc với nhau bằng hình thức ghi số lô, số đề qua điện thoại của các bị cáo. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra cũng không chứng minh được bị cáo H tổ chức đánh bạc với những người khác ngoài bị cáo Nguyễn Thị X. Do đó, hành vi của bị cáo Đinh Thị H không đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi của bị cáo Đinh Thị H phạm tội “Đánh bạc” và áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đinh Thị H 03 năm tù về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tải về
20. Bản án hình sự sơ thẩm số 244/2021/HSST ngày 25/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
Sơ lược nội dung: Bị cáo Mai Trọng H, Lê Ngọc AD làm cái đánh bạc với Lâm Thị Ngọc B, Phan Văn D, Vương Văn T, Lê Văn T1, Lê Tấn Anh K và Lê Châu X bằng hình thức cá cược đá gà thắng thua bằng tiền qua mạng internet bị bắt quả tang, thu giữ số tiền 139.7950.000 đồng.
Hành vi của bị cáo H, AD,B Văn D, T, T1, K và X đã phạm vào “Tội đánh bạc”. Các bị cáo sử dụng mạng internet để đánh bạc và số tiền dùng đánh bạc là 66.060.000 đồng, nên việc truy tố các bị cáo về “Tội đánh bạc” theo điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Tải về
21. Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST ngày 12/1/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
Sơ lược nội dung: Tại khu vực đồi trồng cây keo nhà anh Lương Văn T5, các bị cáo Liễu Văn T3, Trương Văn H8, Từ Văn L1, Liễu Văn D, Nguyễn Văn O, Nguyễn Gia H1,Trương Văn H4, Liễu Văn H6, Diệp Văn Đ1, Tô Văn T4, Tô Văn S2, Tô Văn H3, Tô Văn Q đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền, bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng và số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 20.350.000 đồng.
Tải về
22. Bản án hình sự phúc thẩm số 06/2024/HS-PT ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình
Sơ lược nội dung: Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy trong Nghị quyết không nhắc đến hình thức đánh bạc “Tài, Xỉu”, “Xóc đĩa” nhưng sau các trường hợp đã nêu như chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa… (thì có dấu …) tức là còn nhiều hình thức đánh bạc khác mà Nghị quyết không cần thiết phải nêu hết. Mặt khác tại khoản 2 Điều 28 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định đánh bạc trái phép có “Tài, Xỉu” và các hình thức đánh bạc khác, nên ý kiến của các Luật sư không được chấp nhận.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Án lệ số 48/2021/AL nêu tình huống pháp lý Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “nộp lại tiền thu lợi bất chính”, không phải là tình huống pháp lý tương tự như vụ án này, do đó Tòa án không áp dụng án lệ này để xử bị cáo Lê Văn N
Tải về
23. Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 23/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang
Sơ lược nội dung: Trong thời gian từ tháng 9/2023 đến tháng 8/2024, Nguyễn N1 đã thực hiện hành vi Sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông thu lợi bất chính tổng số 53.300.00 đồng và trong thời gian từ ngày 03/8/2024 đến ngày 06/8/2024 Nguyễn N1 đã thực hiện hành vi Đánh bạc với tổng số tiền 29.700.000 đồng.
Bị cáo N1 phạm tội nhiều lần, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo N1 phạm tội nhằm mục đích vụ lợi cho bản thân, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền để sung ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Tải về
Các tổng hợp có liên quan:
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn Tội gây rối trật tự công cộng
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tổng hợp các văn bản hướng dẫn tội Cố ý gây thương tích
—————————
CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)
– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
– Điện thoại: 0941.767.076
– Email: amilawfirmdn@gmail.com
– Website: https://amilawfirm.com/
– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm










