Tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác nhằm chiếm đoạt tài sản, xâm phạm đồng thời đến quyền sở hữu và quyền bất khả xâm phạm về thân thể của người khác. Đây là loại tội phạm có tính chất nguy hiểm cao, thường gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.
1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025
Điều 168. Tội cướp tài sản
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
h) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
c) Làm chết người;
d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
2. Nghị quyết 01/HĐTP-NQ ngày 19/04/1989 về hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự
VII. Về việc chuyển hóa từ một số hình thức chiếm đoạt tài sản thành cướp tài sản
Thực tiễn xét xử cho thấy các Tòa án đã định tội không thống nhất đối với các trường hợp kẻ phạm các tội chiếm đoạt tài sản (như cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp, lừa đảo) đã dùng bạo lực để chiếm đoạt cho bằng được tài sản định chiếm đoạt hoặc để tẩu thoát. Nhiều Tòa án đã coi mọi trường hợp nói trên là cướp tài sản… ngược lại có Tòa án chỉ coi việc dùng bạo lực là tình tiết tăng nặng của việc chiếm đoạt chứ không kết án kẻ phạm tội về tội cướp tài sản…
Nay cần thống nhất như sau:
a) Nếu là trường hợp do chưa chiếm đoạt được tài sản mà kẻ phạm tội dùng vũ lực hay đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực để chiếm đoạt tài sản cho bằng được thì cần định tội là cướp tài sản…
b) Nếu là trường hợp kẻ phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản rồi, nhưng chủ tài sản họăc người khác đã lấy lại được tài sản đó hoặc đang giành giật tài sản còn ở trong tay kẻ phạm tội, mà kẻ phạm tội dùng vũ lực, hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực để chiếm đoạt tài sản cho bằng được, thì cần định tội là cướp tài sản…
Đối với các trường hợp trên đây chỉ cần kết án kẻ phạm tội về một tội là cướp tài sản… và coi việc chiếm đoạt (chưa thành hoặc đã thành) trước khi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực là tình tiết diễn biến của tội phạm.
c) Nếu việc dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) là nhằm để tẩu thoát (kể cả khi tẩu thoát cùng với tài sản đã chiếm đoạt được), thì không kết án kẻ phạm tội về cướp tài sản…, và tùy trường hợp mà kết án họ về tội phạm xảy ra trước khi dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) và coi việc dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) là tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (tình tiết định khung hình phạt cao hơn theo các điều 131, 132, 154, 155 BLHS). Nếu việc dùng vũ lực dẫn tới hậu quả làm chết người thì kẻ phạm tội bị kết án thêm về tội giết người. Nếu hậu quả của việc dùng vũ lực là gây cố tật nặng hoặc gây thương tích dẫn đến chết người thì kẻ phạm tội bị kết án thêm về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 điều 109 BLHS.
Tải về
3. Nghị quyết 01/2016/NĐ-HĐTP ngày 30/06/2016 về hướng dẫn áp dụng một số quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13
Điều 1. Về việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội mà Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã bỏ hình phạt tử hình
1. Kể từ ngày 09 tháng 12 năm 2015 (ngày công bố Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13), khi xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc thẩm không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội cướp tài sản (Điều 133), tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm (Điều 157), tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 194), tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194), tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 231), tội chống mệnh lệnh (Điều 316) và tội đầu hàng địch (Điều 322) Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 37/2009/QH12).
Trường hợp khi xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc thẩm, nếu xét thấy hành vi phạm tội là đặc biệt nghiêm trọng và theo quy định của Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 37/2009/QH12) phải xử phạt người phạm tội với mức hình phạt cao nhất là tử hình thì không xử phạt tử hình mà xử phạt người phạm tội hình phạt tù chung thân.
Tải về
4. Thông tư liên tịch 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 về hướng dẫn áp dụng chương XIV “Các tội phạm xâm phạm sở hữu” của Bộ luật Hình sự năm 1999 do Bộ Công An; Bộ Tư pháp; Toà án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành.
I. Về một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt
2. Bị coi là “đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản” nếu trước đó đã bị kết án về một trong các tội sau đây:
a) Tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS);
b) Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134 BLHS);
c) Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 BLHS);
d) Tội cướp giật tài sản (Điều 136 BLHS);
đ) Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137 BLHS);
e) Tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS);
g) Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS);
h) Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS);
i) Tội tham ô tài sản (Điều 278 BLHS);
k) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280 BLHS);
Đối với các trường hợp bị kết án nhưng chưa được xóa án về một trong các tội phạm khác có tính chất chiếm đoạt tài sản (như tội chiếm đoạt vật liệu nổ (Điều 232 BLHS); tội chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ (Điều 233 BLHS)…) có bị coi là tình tiết định tội hay không sẽ được hướng dẫn sau.
… …
5. Về tình tiết “sử dụng thủ đoạn nguy hiểm khác” hoặc “dùng thủ đoạn nguy hiểm”.
5.1. “Thủ đoạn nguy hiểm khác” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS là ngoài các trường hợp sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm để thực hiện việc cướp tài sản, người phạm tội có thể dùng thủ đoạn khác nguy hiểm đối với người bị tấn công hoặc những người khác như sử dụng thuốc ngủ, thuốc mê với liều lượng có thể nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân; đầu độc nạn nhân; nhốt nạn nhân vào nơi nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe; dùng dây chăng qua đường để làm cho nạn nhân đi mô tô, xe máy vấp ngã để cướp tài sản…
… …
6. Khi áp dụng tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (điểm đ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 Điều 137; điểm đ khoản 2 Điều 138 BLHS) cần chú ý:
6.2. Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là “hành hung để tẩu thoát” mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản.
Tải về
Thông tư liên tịch 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP
5. Án lệ số 29/2019/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 22 tháng 08 năm 2019 và được công bố theo Quyết định số 293/QĐ-CA ngày 09 tháng 09 năm 2019 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Khái quát nội dung của án lệ:
– Tình huống án lệ:
Bị cáo có hành vi dùng vũ lực tấn công bị hại, làm bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm mục đích không trả số tiền mà bị cáo có nghĩa vụ phải thanh toán cho bị hại.
– Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cướp tài sản”.
– Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Điều 133 Bộ luật Hình sự 1999 (tương đương với Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015).
Tải về
6. Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 17/01/2024 về Tội cướp tài sản của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên tỉnh Bình Dương
Tóm tắt trích yếu
Hành vi: Từ ngày 08/3/2023 đến 25/3/2023, Nguyễn Văn M đã 4 lần dùng dao đe dọa phụ nữ ở trọ một mình tại Bình Dương và Tây Ninh để cướp tài sản, đồng thời có hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm giao cấu với các bị hại nhưng chưa thực hiện được do bị hại chống trả. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 38.105.332 đồng.
Xử phạt: Tòa án tuyên phạt bị cáo 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”, 07 năm tù về tội “Hiếp dâm”; tổng hợp hình phạt chung là 15 năm tù, buộc bồi thường thiệt hại cho các bị hại theo quy định pháp luật.
Tải về
7. Bản án số 189/2024/HS-PT ngày 17/01/2024 về Tội cướp tài sản của Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng
Tóm tắt trích yếu
Hành vi: Khoảng 15 giờ ngày 18/12/2022, tại Spa Thiên Kim (quận Liên Chiểu, Đà Nẵng), Nguyễn Thị Kim O khởi xướng, cùng Huỳnh M và một số người dùng vũ lực tấn công chị Võ Thị Thành K, chiếm đoạt và tháo dỡ tài sản của Spa mang lên xe tải. Phạm Anh T tham gia với vai trò giúp sức, hỗ trợ mang tài sản ra xe. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt: 18.770.000 đồng. Hành vi đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” (khoản 1 Điều 168 BLHS).
Xử phạt (phúc thẩm): Nguyễn Thị Kim O: 03 năm tù về tội Cướp tài sản (giữ nguyên án sơ thẩm); Huỳnh M: 02 năm tù về tội Cướp tài sản (giữ nguyên án sơ thẩm); Phạm Anh T: 01 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng (sửa án sơ thẩm).
Tải về
8. Bản án 58/2024/HS-ST ngày 10/04/2024 về Tội cướp tài sản của Tòa án nhân dân quận Long Biên, TP Hà Nội
Tóm tắt trích yếu
Hành vi: Khoảng 19h30 ngày 25/6/2022, tại phường Thượng Thanh, quận Long Biên, PNQ đã dùng vũ lực (tát, đá, dùng giày đánh vào đầu) buộc anh NVĐ phải quỳ xuống và ép nhờ người thân chuyển trả số tiền 40.000.000 đồng mà anh Đ đang nợ. Hành vi trên đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 BLHS.
Tuyên phạt: Tòa án tuyên phạt PNQ 03 năm 04 tháng tù về tội Cướp tài sản; tổng hợp với 03 năm tù của bản án trước (án treo bị chuyển thành án giam), buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 06 năm 04 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 10/01/2024.
Tải về
9. Thông báo rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Không được truy tố bổ sung tại Phiên tòa
Những vi phạm chủ yếu cần rút kinh nghiệm gồm:
– Kiểm sát viên vi phạm thủ tục tố tụng khi tại phiên tòa sơ thẩm đã tự ý bổ sung quyết định truy tố theo hướng bất lợi cho bị cáo, làm xấu đi tình trạng của bị cáo, trái quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
– Không bảo đảm quyền của người bị hại chưa thành niên: Bị hại là người chưa đủ 18 tuổi nhưng không có đại diện hợp pháp tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm, vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại.
– Xác định sai tư cách người tham gia tố tụng:
+ Bố của bị hại bị xác định là người làm chứng thay vì người đại diện hợp pháp.
+ Anh Hoàng Văn N bị xác định là bị hại trong khi chỉ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
+ Bản án sơ thẩm không ghi nhận đầy đủ người tham gia tố tụng thực tế tại phiên tòa.
– Vi phạm thủ tục tống đạt: Không chứng minh được việc các bị cáo đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng vẫn tiến hành xét xử.
– Với các vi phạm nêu trên, cấp sơ thẩm lẽ ra phải hoãn phiên tòa để khắc phục, bổ sung thủ tục theo đúng quy định pháp luật.
Tải về
10. Thông báo rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định – Phải xác định là lừa đảo chiếm đoạt tài sản do có thủ đoạn gian dối
Những nội dung cần rút kinh nghiệm:
– Khi giải quyết các vụ án xâm phạm sở hữu, cần xác định rõ chủ sở hữu tài sản và người được giao quản lý, sử dụng hợp pháp, từ đó làm căn cứ xác định đúng tội danh theo quy định của Bộ luật hình sự, tránh nhầm lẫn giữa các tội như Cướp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
– Phải đánh giá đầy đủ thủ đoạn gian dối và ý thức chiếm đoạt của bị cáo ngay từ đầu, làm rõ bản chất hành vi phạm tội để truy tố, xét xử chính xác.
– Khi giải quyết trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng, cần xác định rõ tài sản, tiền có phải do phạm tội mà có hay không, tránh việc tịch thu tài sản không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội.
Tải về
11. Thông báo rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh – Tái phạm nguy hiểm
Những nội dung cần rút kinh nghiệm:
– Khi truy tố, xét xử phải xác định đầy đủ nhân thân, tiền án của bị cáo tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội để áp dụng chính xác các tình tiết định khung tăng nặng, đặc biệt là trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định của Bộ luật hình sự.
– Đối với tội Cướp tài sản, cần xem xét đầy đủ vai trò của bị cáo trong đồng phạm, mức độ tham gia, hành vi dùng vũ lực và các tình tiết định khung tương ứng; tránh việc áp dụng sai khoản, sai điều luật, dẫn đến quyết định hình phạt chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
– Cấp sơ thẩm cần áp dụng đúng quy định pháp luật hình sự khi định tội danh và khung hình phạt; trường hợp áp dụng sai phải được kịp thời phát hiện, kháng nghị để bảo đảm việc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tải về
Thông báo rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh – Tái phạm nguy hiểm
12. Thông báo rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
Những nội dung cần rút kinh nghiệm:
– Khi quyết định hình phạt phải đánh giá đầy đủ, toàn diện về nhân thân, vai trò của từng bị cáo, số lần phạm tội, tính chất có tổ chức, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; tránh áp dụng Điều 47 BLHS (xử dưới khung) một cách tràn lan, không có căn cứ pháp luật.
– Không được áp dụng Điều 47 để xử phạt dưới khung đối với các bị cáo giữ vai trò cầm đầu, chủ mưu, thực hành tích cực, phạm tội nhiều lần, có tổ chức, có tiền án, nhân thân xấu hoặc thuộc trường hợp cần nghiêm trị.
– Khi xem xét cho hưởng án treo, phải tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; không cho hưởng án treo đối với người phạm tội có tổ chức, vai trò giúp sức tích cực, thuộc diện cần xử lý nghiêm.
– Việc áp dụng hình phạt phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, bảo đảm nguyên tắc xử lý hình sự, tránh làm giảm hiệu quả răn đe, phòng ngừa chung.
Tải về
Thông báo rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
13. Thông báo rút kinh nghiệm số 06/TB-VC3-V1 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh – Vi phạm trong áp dụng pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Những nội dung cần rút kinh nghiệm:
– Khi giải quyết các vụ án cướp tài sản, cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản có người dưới 18 tuổi tham gia, cần tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội, bảo đảm mục đích giáo dục, giúp họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh.
– Phải xác định chính xác độ tuổi của người phạm tội tại thời điểm thực hiện hành vi, làm căn cứ áp dụng đúng chính sách hình sự đặc thù và các quy định riêng của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi.
– Khi định tội danh, áp dụng khung hình phạt, cần xem xét đầy đủ vai trò của người dưới 18 tuổi trong đồng phạm, mức độ nhận thức, nguyên nhân, điều kiện phạm tội; tránh áp dụng máy móc, nặng về trừng phạt.
– Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phải bảo đảm sự tham gia của người đại diện hợp pháp, luật sư, người bào chữa theo quy định; tránh vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
– Khi quyết định hình phạt và biện pháp xử lý, cần ưu tiên các biện pháp thay thế hình phạt tù, hạn chế áp dụng hình phạt nghiêm khắc không cần thiết đối với người dưới 18 tuổi.
Tải về
Thông báo rút kinh nghiệm số 06/TB-VC3-V1
14. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội bàn về tình tiết sử dụng phương tiện nguy hiểm” trong tội “Cướp tài sản”
Những nội dung cần rút kinh nghiệm:
– Khi áp dụng tình tiết định khung “sử dụng phương tiện nguy hiểm” trong tội Cướp tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 168 BLHS, cần hiểu đúng và đầy đủ nội hàm của quy định, bao gồm: sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; chỉ cần thỏa mãn một trong ba dấu hiệu là đủ căn cứ áp dụng tình tiết định khung tăng nặng.
– Phương tiện nguy hiểm không chỉ là vũ khí chuyên dụng, mà còn bao gồm các công cụ, vật dụng sinh hoạt thông thường hoặc vật có sẵn trong tự nhiên, nếu khi sử dụng có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe người bị tấn công (theo Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP).
– Khi đánh giá hành vi cụ thể, cần xem xét cách thức sử dụng, vị trí tác động, mức độ nguy hiểm tiềm ẩn, không chỉ căn cứ vào hậu quả thương tích thực tế xảy ra (ví dụ: tỷ lệ thương tích 0% không đồng nghĩa là không nguy hiểm).
– Trong trường hợp đồng phạm, nếu các bị cáo nhận thức được việc sử dụng phương tiện nguy hiểm, cùng thống nhất ý chí chiếm đoạt tài sản, không can ngăn mà còn tiếp tục hỗ trợ thực hiện hành vi phạm tội, thì đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo tình tiết định khung tăng nặng.
– Thực tiễn xét xử còn tồn tại nhận thức và áp dụng không thống nhất về tình tiết “sử dụng phương tiện nguy hiểm”, dẫn đến việc xác định sai khung hình phạt, ảnh hưởng đến tính nghiêm minh và thống nhất của pháp luật, cần được rút kinh nghiệm chung trong công tác truy tố và xét xử.
Tải về
15. Công văn số 212/TANDTC-PC 2019 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắt trong xét xử.
4. Theo quy định tại khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự thì tội cướp tài sản có mức hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Vậy có được xử bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi mức hình phạt là 04 năm tù không?
Theo quy định tại Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mức phạt tù có thời hạn cao nhất được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định. Như vậy, luật chỉ khống chế mức phạt cao nhất áp dụng đối với đối tượng này mà không khống chế mức thấp nhất. Do đó, trong trường hợp nêu trên, Tòa án có thể áp dụng mức phạt 04 năm tù đối với bị cáo, nếu việc áp dụng hình phạt đó bảo đảm được mục đích của hình phạt và các nguyên tắc trong việc xử lý hình sự người chưa thành niên phạm tội.
Tải về
Các tổng hợp nội dung có liên quan:
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Giết người
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Gây rối trật tự công cộng
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Trộm cắp tài sản
—————————————————–
CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)
– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
– Điện thoại: 0941.767.076
– Email: amilawfirmdn@gmail.com
– Website: https://amilawfirm.com/
– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm









