Tội tổ chức đua xe trái phép là hành vi đứng ra chuẩn bị, điều hành hoặc tạo điều kiện cho việc đua xe trái quy định của pháp luật, lôi kéo nhiều người tham gia và tiềm ẩn nguy cơ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi đe dọa gây thiệt hại đến tài sản, tính mạng, sức khỏe của người khác ở nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Việc áp dụng pháp luật đòi hỏi xác định rõ hành vi đua xe, vai trò của người tham gia và hậu quả xảy ra trong từng trường hợp cụ thể. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.
1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Điều 265. Tội tổ chức đua xe trái phép
1. Người nào tổ chức trái phép việc đua xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 04 năm đến 10 năm:
a) Tổ chức cho 10 xe tham gia trở lên trong cùng một lúc hoặc tổ chức 02 cuộc đua xe trở lên trong cùng một lúc;
b) Tổ chức cá cược;
c) Chống lại người có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông hoặc người có trách nhiệm giải tán cuộc đua xe trái phép;
d) Tại nơi tập trung đông dân cư;
đ) Tháo dỡ thiết bị an toàn khỏi phương tiện đua;
e) Làm chết người;
g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
h) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
i) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
k) Tái phạm về tội này hoặc tội đua xe trái phép.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 02 người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
2. Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 06/11/2013 của Bộ Công An, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông
Điều 2. Một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt
1. Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 đến Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 2 các điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:
a) Làm chết một người;
b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;
c) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;
d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;
đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;
e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.
2. Gây hậu quả rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 202 đến Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 3 các điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:
a) Làm chết hai người;
b) Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này;
c) Gây tổn hại cho sức khỏe của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;
d) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này là từ trên 100% đến 200%;
đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của một hoặc hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e khoản 1 Điều này;
e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng.
3. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 204; khoản 3 các điều 202, 203, 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220, Điều 222, Điều 223; khoản 4 các điều 206, 207, 216, 218, 219 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:
a) Làm chết từ ba người trở lên;
b) Làm chết hai người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này;
c) Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e khoản 2 Điều này;
d) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ năm người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;
đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tổng tỷ lệ thương tật của những người này trên 200%;
e) Gây tổn hại cho sức khỏe của ba hoặc bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng;
g) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ năm trăm triệu đồng trở lên.
Điều 6. Về tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 206 Bộ luật hình sự)
1. Người tổ chức trái phép việc đua xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ quy định tại khoản 1 Điều 206 Bộ luật hình sự là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy cuộc đua xe trái phép. Người tổ chức có thể tham gia hoặc không tham gia cuộc đua xe trái phép.
2. Tổ chức đua xe có quy mô lớn quy định tại điểm a khoản 2 Điều 206 Bộ luật hình sự là tổ chức cuộc đua xe trái phép có từ 10 xe tham gia trở lên hoặc cùng một lúc tổ chức 2 cuộc đua xe trở lên.
3. Tổ chức cá cược quy định tại điểm b khoản 2 Điều 206 Bộ luật hình sự là tổ chức cho người khác đánh cuộc thắng thua bằng tiền, hiện vật hoặc các lợi ích khác dựa vào kết quả của cuộc đua xe trái phép.
4. Tổ chức việc chống lại người có trách nhiệm bảo đảm trật tự an toàn giao thông hoặc người có trách nhiệm giải tán cuộc đua xe trái phép quy định tại điểm c khoản 2 Điều 206 Bộ luật hình sự là hành vi của người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, vạch kế hoạch, kêu gọi, rủ rê, lôi kéo người khác tham gia vào việc chống lại người có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông hoặc người có trách nhiệm giải tán cuộc đua xe trái phép.
5. Tổ chức đua xe nơi tập trung đông dân cư quy định tại điểm d khoản 2 Điều 206 Bộ luật hình sự là tổ chức đua xe trái phép ở những đường có mật độ đông người tham gia giao thông, ở khu vực có nhiều người sinh sống, ở trung tâm thành phố, thị xã, thị trấn, ở nơi đang diễn ra các sự kiện (như lễ hội, mít tinh, hội nghị, thi đấu thể thao…).
6. Tháo dỡ các thiết bị an toàn khỏi phương tiện đua quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 206 Bộ luật hình sự là tháo dỡ phanh hãm xe, đèn chiếu sáng hoặc các thiết bị an toàn khác của xe dùng để đua trái phép.
7. Khi áp dụng điều luật này cần chú ý: Thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác được hiểu là cuộc đua xe trái phép do người phạm tội tổ chức đã dẫn đến hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho bất kỳ người nào, kể cả người đua xe trái phép.
3. Thông tư liên tịch số 10/TTLT ngày 31/12/1996 của Bộ Nội vụ – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn xử lý các hành vi đua xe trái phép
I- VIỆC XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI ĐUA XE TRÁI PHÁP
1- Người đua xe trái phép
Người đua xe trái phép nói trong thông tư này là người điều kiển xe trên đường giao thông với mục đích cùng đua với người điều khiển xe khác mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền.
Cũng được coi là người đua xe trái phép với vai trò đồng phạm đối với người tổ chức (người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy) cuộc đua xe trái phép; người xúi giục (người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy) người khác đua xe trái phép; người giúp sức (người tạo những điều kiện vật chất hoặc tinh thần) cho việc đua xe trái phép; người ngồi cùng với người điều khiển xe đua trái phép mà cùng cố ý đua xe như: Trước khi ngồi lên xe hoặc sau khi ngồi lên xe biết người điều khiển xe sẽ thực hiện việc đua, nhưng vẫn ngồi với ý thức tham gia đua xe; trước khi ngồi lên xe hoặc sau khi ngồi lên xe không biết người điều khiển xe sẽ thực hiện việc đua xe, nhưng sau khi người điều khiển xe thực hiện việc đua xe thì có hành vi cổ vũ, reo hò…
Đối với người sau khi ngồi lên xe vẫn không biết người điều khiển xe sẽ thực hiện việc đua xe, nhưng trên đường đi người điều khiển xe đã thực hiện việc đua xe mà người ngồi sau xe buộc phải ngồi lại trên xe, không có hành vi cổ vũ, reo hò… thì họ không bị coi là người đua xe trái phép.
4. Nghị định số 168/2024/NĐ-CP ngày 01/01/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe
Điều 35. Xử phạt, trừ điểm giấy phép lái xe đối với người đua xe trái phép, tổ chức đua xe, xúi giục, cổ vũ đua xe trái phép
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm tụ tập để cổ vũ, giúp sức, xúi giục hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, lạng lách, đánh võng, đuổi nhau trên đường hoặc đua xe trái phép.
2. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện hành vi vi phạm tổ chức đua xe trái phép.
3. Tịch thu phương tiện đối với người điều khiển phương tiện thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Đua xe gắn máy, xe đạp máy, xe đạp trái phép trên đường giao thông;
b) Đua xe ô tô, mô tô trái phép trên đường giao thông.
4. Ngoài việc bị tịch thu phương tiện, người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi quy định tại điểm b khoản 3 Điều này bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 22 tháng đến 24 tháng.
5. Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2020/HS-ST ngày 27/08/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long
Sơ lược nội dung: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 07/12/2019, T điều khiển xe mô tô đi một mình, T điều khiển xe mô tô chở T, Đ điều khiển xe mô tô chở Đặng Tường V; ngoài ra còn có Trần Hoàng V điều khiển xe mô tô đi một mình và Ngô Nguyễn Hữu Đ điều khiển xe mô tô đi một mình, tất cả đều đến xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long thì gặp N. Khoảng 5 phút sau, V và L điều khiển xe mô tô chạy đến. N điều khiển xe mô tô chạy một mình dẫn đường. Khi đến đoạn đường thuộc tỉnh lộ 902, ở ấp P, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, N dừng xe và thông báo đây là đoạn đường đua xe theo hướng T-Q. H điều khiển xe mô tô chạy một mình để xem đoạn đường dùng để đua xe có trở ngại hay không. Lúc này có Nguyễn Thành D đang điều khiển xe mô tô trên đường đi làm về thấy biết có đua xe nên đã tham gia. Cách thức đua xe cả nhóm đều xem trên mạng và thống nhất là: Mỗi lượt đua có hai xe dàn ngang trên đường. Hai xe cùng ra điểm xuất phát và người đua ấn định mà không có người ra hiệu lệnh. Đoạn đường đua không xác định điểm đích, khi xuất phát xe nào chạy nhanh hơn thì thắng, việc thắng thua do người đua tự xác định.
Tải về
6. Bản án hình sự phúc thẩm số 96/2022/HS-PT ngày 20/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên
Sơ lược nội dung: Phạm Ngọc H thuê Trần Anh M điều khiển xe ô tô tải để chở xe mô tô; và rủ Trần Quang N, Huỳnh Văn D, Phạm Tấn B từ tỉnh Bình Định vào thành phố Tuy Hòa để tham gia đua xe trái phép với nhóm thanh niên ở Phú Yên. Khoảng 23 giừo ngày 10/12/2020, H nói N gọi điện thoại và được Dương Quốc L đến đón, đưa cả nhóm đến gần cổng Khu công nghiệp P trên Đại lộ V, thuộc xã P, thành phố Tuy Hòa. Tại đây, nhóm của H bắt cặp với nhóm thanh niên ở Phú Yên để đua xe trên đoạn đường dài khoảng 100m, chỉ giao lưu không thắng thua bằng tiền hay giá trị vật chất khác, cụ thể: H đua 05 lượt, N đua 10 lượt, D và Bút mỗi người đua 09 lượt. Quá trình đua xe, có khoảng 45 người đứng xem, có tiếng nẹt pô, la ó, cổ vũ gây ồn ào, mất an ninh trật tự, thời gian kéo dài khoảng 30 phút. Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo Phạm Ngọc H, Trần Anh M, Dương Quốc L, Trần Quang N về tội “Tổ chức đua xe trái phép” theo Khoản 1 Điều 265 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Huỳnh Văn D, Huỳnh Tấn B về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Tải về
7. Bản án hình sự sơ thẩm số 1312023/HS-ST ngày 21/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai
Sơ lược nội dung: Hành vi của các bị cáo Mai Văn H, Đặng Anh H và Lê Nguyễn Minh đã cấu thành tội “Tổ chức đua xe trái phép” được quy định tại khoản 1 Điều 265 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với Lê Gia B, Lê Hoàng Quốc D và Võ Đức K không có tiền án, tiền sự về hành vi đua xe trái phép và hành vi tổ chức đua xe trái phép nên chưa đủ căn cứ khởi tố B, D và K về tội “Đua xe trái phép” quy định tại Điều 266 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuy nhiên hành vi của Lê Gia B, Lê Hoàng Quốc D và Võ Đức K như đã nêu trên đã đủ căn cứ cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 218 Bộ luật hình sự năm 2015, sủa đổi, bổ sung năm 2017. Nên Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Mai văn H, Đặng Anh H và Lê Minh T về tội “Tổ chức đua xe trái phép” được quy định tại khoản 1 Điều 265 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố các bị cáo Lê Gia B, Lê Hoàng Quốc D và Võ Đức K về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 218 Bộ luật hình sự năm 2015, sủa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Tải về
8. Bản án hình sự sơ thẩm số 1312023/HSST ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
Sơ lược nội dung: Khoảng 22 giờ, ngày 08/4/2023, Vũ Hoài N và Nguyễn Lê C đã thực hiện hành vi tổ chức đua xe mô tô trái phép cho một nhóm người gồm: Nguyễn Minh H4, Khúc Văn H1, Phạm Nhật M, Dương Trung H3 và Nguyễn Tú L1. Trong đó, Vũ Hoài N đã thực hiện các hành vi: rủ mọi người đua xe để quay Video mục đích đưa lên mạng xã hội. Sau khi quay được một đoạn N thấy chất lượng Video kém nên quyết định quay lại V; để thực hiện, M đã tổ chức việc đua xe cho quy mô, bài bản hơn, thể hiện như: phân công C đứng ra là người sắp xếp các xe đua với nhau (phân làm hai nhóm xe ga đua với xe ga, xe số đua với xe số), hô khẩu hiệu “xuất phát” cho các đối tượng còn lại đua xe. N cầm điện thoại của C để quay lại Video cảnh đua xe. C và các đối tượng Nguyễn Minh H4, Khúc Văn H1, Phạm Nhật M, Dương Trung H3 và Nguyễn Tú L1 đã thực hiện đúng như chỉ đạo của N. Kết thúc việc đua xe, các đối tượng giải tán đi về.
Tải về
Các tổng hợp nội dung có liên quan:
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội gây rối trật tự công cộng
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội đua xe trái phép
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
—————————————————–
CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)
– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
– Điện thoại: 0941.767.076
– Email: amilawfirmdn@gmail.com
– Website: https://amilawfirm.com/
– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm







