Trang chủ / Hình sự / TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG

TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG

Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng trách nhiệm được giao, dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân. Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, đồng thời có thể làm cho cơ quan, tổ chức bị mất uy tín, mất lòng tin, gây thất thoát, lãng phí nghiêm trọng đến tài sản của cơ quan, tổ chức. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.

 

MỤC LỤC

1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Điều 360. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

1. Người nào có chức vụ, quyền hạn vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 179, 308 và 376 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

 

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.


2. Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự 2015 trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ.

Điều 2. Về một số từ ngữ

[…]

4. “Người có chức vụ” quy định tại khoản 2 Điều 352 của Bộ luật Hình sự là những người quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật Phòng, chống tham nhũng.

5. “Do một hình thức khác” quy định tại khoản 2 Điều của 352 Bộ luật Hình sự là trường hợp không phải do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng nhưng được giao thực hiện nhiệm vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ đó.

Ví dụ: Người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử tham gia trực tại chốt kiểm soát phòng chống dịch bệnh Covid-19.

 

8. “Hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm” là sau khi phạm tội tham nhũng hoặc các tội phạm khác về chức vụ, người phạm tội đã chủ động cung cấp những tin tức, tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm liên quan đến tội phạm mà họ bị buộc tội (như: chỉ đúng nơi cất giấu vật chứng quan trọng giúp cơ quan chức năng thu hồi được vật chứng đó; khai báo và chỉ đúng nơi đồng phạm khác đang bỏ trốn; khai báo về tội phạm và người phạm tội mới liên quan đến tội phạm mà họ bị buộc tội…). Ngoài những trường hợp nêu trên, có thể xác định những trường hợp khác là “hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm” nhưng Tòa án phải nhận định rõ trong bản án.

 

9. “Lập công lớn” là trường hợp người phạm tội đã giúp cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, truy bắt, điều tra, xử lý tội phạm không liên quan đến tội phạm mà họ bị buộc tội; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân trong thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác; có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị lớn được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận. Ngoài những trường hợp nêu trên, có thể xác định những trường hợp khác là “lập công lớn” nhưng Tòa án phải nhận định rõ trong bản án.

 

Điều 5. Nguyên tắc xử lý đối với tội phạm tham nhũng, tội phạm khác về chức vụ

1. Việc xử lý tội phạm tham nhũng, tội phạm khác về chức vụ phải bảo đảm nghiêm khắc và tuân thủ triệt để các nguyên tắc của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự.

 

2. Trong quá trình tố tụng, người phạm tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và đã hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì không áp dụng mức cao nhất của khung hình phạt mà người phạm tội bị truy tố, xét xử.

 

3. Xem xét áp dụng chính sách khoan hồng đặc biệt miễn hình phạt theo quy định tại Điều 59 của Bộ luật Hình sự đối với trường hợp người phạm tội có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự hoặc người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Người phạm tội không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, mà chỉ vì muốn đổi mới, dám đột phá vì sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ Tổ quốc;

b) Người phạm tội là người có quan hệ lệ thuộc (như cấp dưới đối với cấp trên, người làm công hưởng lương, chấp hành nhiệm vụ theo chỉ đạo của cấp trên), không ý thức được đầy đủ hành vi phạm tội của mình, không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, không được hưởng lợi; đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần có hiệu quả vào việc điều tra, xử lý tội phạm;

c) Người phạm tội đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần hạn chế thiệt hại, chủ động nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra;

d) Người phạm tội sau khi bị phát hiện đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chủ động nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra.

 

Điều 6. Xem xét trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt trong trường hợp tách vụ án

Trường hợp vụ án được tách ra để giải quyết trong các giai đoạn khác nhau (tách thành nhiều vụ án) thì việc xem xét trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt được thực hiện như sau:

1. Không coi việc người phạm tội đã bị kết án trong vụ án trước đó là căn cứ xác định “phạm tội 02 lần trở lên”, trừ trường hợp các hành vi phạm tội bị xem xét, xử lý hình sự trong các giai đoạn là độc lập với nhau;

 

2. Không coi việc người phạm tội đã bị kết án trong vụ án trước đó là có nhân thân không tốt để không cho hưởng án treo, nếu họ có đủ các điều kiện khác để được hưởng án treo;

 

3. Việc quyết định hình phạt trong từng bản án, quyết định phải bảo đảm khi tổng hợp hình phạt của các bản án không được vượt quá mức cao nhất của khung hình phạt tương ứng với tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt, của hối lộ hoặc thiệt hại do tội phạm gây ra.

Ví dụ: Nguyễn Văn A có hành vi lạm quyền trong thi hành công vụ. Do bước đầu chỉ chứng minh được A gây thiệt hại tài sản trị giá 100.000.000 đồng nên cơ quan tiến hành tố tụng đã quyết định tách thành 02 vụ án, xử lý trước đối với A về hành vi gây thiệt hại số tiền 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó ở giai đoạn 2 cơ quan tiến hành tố tụng lại chứng minh được hành vi của A còn gây thiệt hại tài sản trị giá 350.000.000 đồng. Tại giai đoạn 1, Tòa án áp dụng khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Hình sự kết án A 05 năm tù về tội lạm quyền trong thi hành công vụ. Khi xét xử vụ án ở giai đoạn 2, A tiếp tục bị truy tố theo khoản 2 Điều của 357 của Bộ luật Hình sự, để bảo đảm khi tổng hợp hình phạt của cả 02 bản án không vượt quá mức cao nhất của khoản này thì Tòa án chỉ được quyết định hình phạt không quá 05 năm tù đối với A.

 

Điều 8. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp thực hiện nhiều lần cùng một loại hành vi quy định tại Chương XXIII của Bộ luật Hình sự

1. Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng một loại hành vi quy định tại Chương XXIII của Bộ luật Hình sự, nhưng mỗi lần trị giá tài sản chiếm đoạt, của hối lộ, gây thiệt hại về tài sản dưới mức tối thiểu quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời trong các hành vi đó chưa có lần nào bị xử lý kỷ luật và chưa hết thời hiệu xử lý kỷ luật, nếu tổng trị giá tài sản chiếm đoạt, của hối lộ hoặc thiệt hại bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự, thì người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi vi phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo tổng trị giá tài sản chiếm đoạt tài sản, của hối lộ hoặc tài sản thiệt hại.

Ví dụ: Ngày 15-8-2019, Nguyễn Văn A có hành vi nhận hối lộ số tiền 1.500.000 đồng; ngày 15-9-2019, A tiếp tục nhận hối lộ số tiền 1.500.000 đồng; ngày 30-12-2019, A lại tiếp tục nhận hối lộ số tiền 1.500.000 đồng bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện. Các hành vi này của A đều chưa bị xử lý kỷ luật và chưa hết thời hiệu xử lý kỷ luật. Trường hợp này, tổng số tiền nhận hối lộ của A được xác định là 4.500.000 đồng nên A bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 354 của Bộ luật Hình sự.

 

2. Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng một loại hành vi quy định tại Chương XXIII của Bộ luật Hình sự, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm và tổng trị giá tài sản chiếm đoạt, của hối lộ hoặc tài sản thiệt hại của các lần vi phạm thuộc khung hình phạt tăng nặng, nếu các lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt, của hối lộ hoặc tài sản thiệt hại, họ còn bị áp dụng tình tiết định khung tặng nặng hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như sau:

 

a) Nếu tổng trị giá tài sản chiếm đoạt, của hối lộ hoặc tài sản thiệt hại thuộc khoản 2 của điều luật tương ứng thì người phạm tội bị áp dụng thêm tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên”.

Ví dụ: Ngày 15-8-2019, Nguyễn Văn A có hành vi nhận hối lộ số tiền 50.000.000 đồng; ngày 30-6-2020, A lại tiếp tục nhận hối lộ số tiền 100.000.000 đồng bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện. Trường hợp này, A bị áp dụng 02 tình tiết tăng nặng định khung là: “của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” và “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm c và điểm đ khoản 2 Điều 354 của Bộ luật Hình sự.

 

b) Nếu tổng trị giá tài sản chiếm đoạt hoặc của hối lộ nhận hoặc tài sản thiệt hại thuộc khung hình phạt tăng nặng khác thì người phạm tội bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”.

Ví dụ: Ngày 11-3-2019, Nguyễn Văn A có hành vi nhận hối lộ số tiền 400.000.000 đồng; ngày 30-7-2020, A lại tiếp tục nhận hối lộ số tiền 200.000.000 đồng bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện. Trường hợp này, A bị áp dụng tình tiết tặng nặng định khung “của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 354 và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

 

Điều 9. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp người phạm tội vừa chiếm đoạt tài sản, nhận của hối lộ vừa gây thiệt hại về tài sản

Trường hợp người phạm tội vừa chiếm đoạt tài sản, nhận của hối lộ, vừa gây thiệt hại về tài sản mà trị giá tài sản chiếm đoạt, của hối lộ và trị giá tài sản thiệt hại thuộc các điểm trong cùng một khung hình phạt thì truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội theo các điểm tương ứng của khung hình phạt đó. Trường hợp trị giá tài sản chiếm đoạt, của hối lộ và trị giá tài sản thiệt hại thuộc các khung hình phạt khác nhau thì truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội theo khung hình phạt cao hơn.

 

Điều 10. Xác định trị giá tài sản bị chiếm đoạt, thiệt hại do tội phạm tham nhũng, tội phạm khác về chức vụ gây ra

1. Trị giá tài sản bị chiếm đoạt làm căn cứ xử lý hình sự được xác định tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội. Trường hợp tội phạm thực hiện liên tục, kéo dài thì trị giá tài sản bị chiếm đoạt được xác định tại thời điểm kết thúc hành vi phạm tội. Đối với trường hợp hành vi phạm tội đang diễn ra nhưng bị phát hiện, ngăn chặn thì trị giá tài sản bị chiếm đoạt được xác định tại thời điểm hành vi phạm tội bị phát hiện, ngăn chặn.

 

2. Thiệt hại tài sản làm căn cứ để xử lý hình sự tùy từng trường hợp cụ thể được xác định như sau:

a) Trường hợp thiệt hại xảy ra tại thời điểm tội phạm được thực hiện thì thiệt hại được xác định tại thời điểm này; đối với tội phạm liên tục, kéo dài thì thiệt hại được xác định tại thời điểm tội phạm được phát hiện ngăn chặn hoặc tội phạm kết thúc.

b) Trường hợp thiệt hại xảy ra hoặc kéo dài sau khi tội phạm được thực hiện hoặc sau khi tội phạm đã kết thúc thì thiệt hại được xác định tại thời điểm thiệt hại được ngăn chặn.

c) Trường hợp không thể xác định được thiệt hại theo hướng dẫn tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều này thì thiệt hại được xác định tại thời điểm khởi tố vụ án.

3. Việc xem xét trách nhiệm dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự.

 

Điều 11. Xử lý vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm

1. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án phải xem xét áp dụng ngay biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội nếu các tài sản này chưa bị áp dụng biện pháp cưỡng chế trong giai đoạn điều tra, truy tố.

 

2. Tòa án xem xét, quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, tịch thu tiêu hủy hoặc buộc trả lại, bồi thường cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật đối với tài sản liên quan trực tiếp đến tội phạm tham nhũng, tội phạm khác về chức vụ, bao gồm:

a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;

b) Tiền, tài sản bị chiếm đoạt;

c) Của hối lộ;

d) Thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;

đ) Khoản thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội;

e) Lợi nhuận, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản do phạm tội mà có;

g) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

 

3. Tài sản thuộc trường hợp bị tịch thu sung ngân sách nhà nước không còn tại thời điểm giải quyết vụ án thì Tòa án quyết định tịch thu trị giá tài sản theo kết luận định giá của cơ quan có thẩm quyền.

 

4. Trường hợp tài sản có nguồn gốc từ tội phạm tham nhũng, tội phạm khác về chức vụ đã được nhập vào khối tài sản thuộc sở hữu chung thì Tòa án chỉ tịch thu hoặc buộc trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đối với phần tài sản có nguồn gốc từ tội phạm. Lợi nhuận thu được từ khối tài sản chung này cũng được chia theo tỷ lệ để tịch thu hoặc trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật.


3. Công văn 5887/VKSTC-V14 ngày 05/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về giải đáp khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và thi hành án hình sự

13. Công chứng viên thuộc Văn phòng Công chứng có phải là chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 360 BLHS năm 2015 không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 352 BLHS năm 2015 thì người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ. Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 thì người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó, bao gồm những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 và được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành nghề công chứng; do vậy Công chứng viên có thể là chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 360 BLHS năm 2015.


4. Thông báo số 73/TB-VC2-V1 ngày 07/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm về vụ án hình sự cấp phúc thẩm sửa án liên quan đến các tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” và “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”

Sơ lược nội dung: Bản án sơ thẩm đã quyết định về thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định đối với các bị cáo T1 và Đ 12 tháng sau khi chấp hành xong bản án là không đúng quy định. Điều 41 Bộ luật Hình sự quy định: “Thời hạn cấm là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo”. Bị cáo T1 bị xử phạt tù có thời hạn, nên thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định đối với T1 là “kể từ ngày chấp hành xong hình phạt từ. Bản án sơ thẩm tuyên “sau khi chấp hành xong bản án” là không đúng. Bị cáo Đ bị xử phạt tiền, nên thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định đối với Đ là “kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Bản án sơ thẩm tuyên “sau khi chấp hành xong bản án” là không đúng. Đồng thời, Bản án không áp dụng Khoản 4 Điều 360 Bộ luật Hình sự nhưng vẫn áp dụng hình phạt bổ sung là có thiếu sót.

Tải về

Thông báo số 73/TB-VC2-V1


5. Thông báo số 236/TB-VKSTC ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao rút kinh nghiệm đối với vụ án Phan Thị Ngọc Diệp và đồng phạm, phạm tội “Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” và tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” tại Thành phố Hồ Chí Minh

Sơ lược nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định tách phần dân sự về vấn đề bồi thường thiệt hại để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét về phần trách nhiệm dân sự nhưng Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát để buộc các bị cáo Phan Thị Ngọc Diệ, Phương Đình Chiến, Nguyễn Văn Quân, Nguyên Thị Thu Vân phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền 68.444.901.146 đồng là vi phạm phạm vi xét xử phúc thẩm (vấn đề Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại quyết định) làm mất quyền kháng cáo của các bị cáo.

Tải về

Thông báo số 236/TB-VKSTC


6. Thông báo số 218/TB-VKSTC ngày 27/10/2022 của Viện kiểm sát nhân tối cao rút kinh nghiệm về tội “cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”

Sơ lược nội dung: Quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo phạm tội “Cố ý làm trái quy didnj của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” là không có căn cứ và cho rằng các bị cáo có dấu hiệu tội “Thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử chuyển từ tội “Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” sang tội “Thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” và đề nghị miễn hình phạt đối với tất cả các bị cáo là sai lầm nghiêm trọng tỏng áp dụng pháp luật nên cần phải rút kinh nghiệm.

Tải về

Thông báo số 218/TB-VKSTC


7. Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2019/HS-ST ngày 06/12/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk

Sơ lược nội dung: Bị cáo H là người đứng đầu đơn vị phê duyệt giải quyết cho doanh nghiệp N vay vốn tín dụng xuất khấu bằng 06 hợp đồng; tuy nhiên bị cáo H cùng các bị cáo L, K đã thực hiện chưa đầy đủ chức trách, nhiệm vụ được giao khi phê duyệt cho Doanh nghiệp N vay tiền. Mặt khác, khi thẩm định 08 hợp đồng ký kết giữa DN N với Công ty TNHH O VN không kiểm tra lại tính hợp pháp của hồ sơ vay vốn, không kiểm tra lại nội dung thẩm định nên không phát hiện việc DN N có chỉ tiêu tài chính rất thấp, kinh doanh thua lỗ, sử dụng vốn vay sai mục đích, lập khống phiếu chi tiền, phiếu nhập kho thủ mua cà phê của hộ dân để chiếm đoạt tiền vay.

Tải về

Bản án số 77/2019/HS-ST


8. Bản án hình sự phúc thẩm số 170/2021/HS-PT ngày 14/04/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

Sơ lược nội dung: Bị cáo Nguyễn Văn C là chấp hành viên được phân công thực hiện quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu thi hành khoản bồi thường theo bản án 08/2014/DSPT ngày 29/9/2014 của TAND tỉnh Bình Định. Khi thực hiện nhiệm vụ, bị cáo C không điều tra xác minh đầy đủ tài sản thi hành án, kê biên tài sản gắn liền trên đất là nhà xưởng nhà kho nhưng không mở cửa khóa kho để xác định tài sản có trong kho. Sau khi kê biên chậm thực hiện việc thông báo cho Doanh nghiệp tư nhân P, gây thiệt hại tài sản đối với DNTN P và DNTN H.

Tải về

Bản án số 170/2021/HS-PT


9. Bản án hình sự phúc thẩm số 55/2020/HS-PT ngày 22/06/2020 Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa

Sơ lược nội dung: Bị cáo Lâm Điền Ph làm công tác địa chính xã, đã thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, xác minh nguồn gốc, quá trình sử dụng đất đối với các hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các ông, bà Trương B, Nguyễn Thị N; Võ A1, Huỳnh Thị H; Nguyễn Thị R; Bùi Thanh T, Nguyễn Thị T; Ngô Minh C, Hồ Thị C; Ngô Quốc A, Hồ Thị L; Hồ Văn S, Nguyễn Thị N; Nguyễn Đình Â, Nguyễn Thị Trang N gây thiệt hại 406.324.000đ; Bị cáo Bùi Thanh P, ngoài việc thiếu trách nhiệm trong việc chỉ đạo cho Lâm Điền Ph còn thiếu trách nhiệm trong việc chỉ đạo cho Võ Đông Ph trong việc kiểm tra, xác minh nguồn gốc, quá trình sử dụng đất đối với hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Đình H, bà Nguyễn Thị T gây thiệt hại 17.749.200đ.

Tải về

Bản án số 55/2020/HS-PT


10. Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2020/HSST ngày 30/09/2020 Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

Sơ lược nội dung: Từ tháng 01/2019 đến đầu tháng 3/2019, với chức vụ Trạm trưởng, Hoàng Văn T được giao nhiệm vụ phân công, đôn đốc, giám sát, quản lý, bảo vệ rừng nhưng đã không kiểm tra, phát hiện kịp thời, không báo cáo đúng sự thật, không làm đúng chức năng, nhiệm vụ của mình để Dương Trọng H, Nguyễn Đức C, Hồ Văn V, Hồ Văn H, Hồ Văn T khai thác trái phép 10 (mười) cây gỗ Lim nhóm IIA với khối lượng 22,899m³ tại khoảnh 7 tiểu khu 329 thuộc địa bàn Trạm quản lý, gây thiệt hại số tiền 354.934.500 đồng

Tải về

Bản án số 35/2020/HSST


11. Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2021/HSST ngày 15/06/2021 Tòa án nhân dân huyện KBang, tỉnh Gia Lai

Sơ lược nội dung: Lê Hữu Đ có nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng thuộc lâm phần Công ty Lơ Ku quản lý. Trong quá trình công tác, Đ đi tuần tra, kiểm tra rừng tại các tiều khu do mình quản lý không thường xuyên, chỉ kiểm tra theo đường mòn mà không đi sâu bên trong các tiểu khu nên không phát hiện việc khai thác gỗ trái phép; khi gặp lâm tặc thì khai thác gỗ trái phép thì không quyết liệt xử lý. Sự thiếu trách nhiệm của bị cáo đã tạo điều kiện cho các nhóm lâm tặc khai thác ỗ trái phép, gây hậu quả thiệt hại về lâm sản là 127,438 m3 gỗ tròn, thành tiền là 804.845.800 đồng, giá trị thiệt hại về môi trường là 3.139.741.200 đồng, tổng giá trị thiệt hại là 3.944.587.000 đồng.

Tải về

Bản án số 12/2021/HSST


Các tổng hợp nội dung có liên quan:

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội tham ô tài sản

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội nhận hối lộ

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội đưa hối lộ

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

—————————————————–

CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)

– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

– Điện thoại: 0941.767.076

– Email: amilawfirmdn@gmail.com

– Website: https://amilawfirm.com/

– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm

Bài viết liên quan