Trang chủ / Hình sự / TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Tội cướp giật tài sản là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng, lợi dụng sự sơ hở hoặc bất ngờ của người bị hại, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu và trật tự an toàn xã hội. Với tính chất liều lĩnh, dễ gây hậu quả nguy hiểm cho người bị hại, việc áp dụng đúng và thống nhất pháp luật đối với tội danh này có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.

MỤC LỤC

1. Bộ luật Hình sự năm 2015

Điều 171. Tội cướp giật tài sản

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

i) Tái phạm nguy hiểm.

 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

 

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

 

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.


2. Thông tư liên tịch 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 về hướng dẫn áp dụng chương XIV “Các tội phạm xâm phạm sở hữu” của Bộ luật Hình sự năm 1999 do Bộ Công an; Bộ Tư pháp; Toà án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành

I. Về một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt

[…]

2. Bị coi là “đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản” nếu trước đó đã bị kết án về một trong các tội sau dây:

a) Tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS);

b) Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134 BLHS);

c) Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 BLHS);

d) Tội cướp giật tài sản (Điều 136 BLHS);

đ) Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137 BLHS);

e) Tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS);

g) Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS);

h) Tội lạm đụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS);

i) Tội tham ô tài sản (Điều 278 BLHS);

k) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280 BLHS);

Đối với các trường hợp bị kết án nhưng chưa được xoá án về một trong các tội phạm khác có tính chất chiếm đoạt tài sản (như tội chiếm đoạt vật liệu nổ (Điều 232 BLHS); tội chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ (Điều 233 BLHS) có bị coi là tình tiết định tội hay không sẽ được hướng dẫn sau.

 

3. Khi áp dụng các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” (từ Điều 133 đến Điều 140, Điều 142 và Điều 143 BLHS) cần chú ý:

 

3.1. Hậu quả phải do hành vi phạm tội gây ra (có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả). Hậu quả đó có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản hoặc hậu quả phi vật chất (gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội).

 

3.2. Đối với các tội quy định tại các điều 133, 134 và 136 thì thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng đã được quy định thành tình tiết định khung riêng biệt, cho nên không xem xét các thiệt hại này một lần nữa để đánh giá hậu quả do hành vi phạm tội gây ra được hướng dẫn tại tiểu mục 3.4 Mục 3 này.

 

3.3. Đối với các tội có quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt, giá trị tài sản bị sử dụng trái phép, giá trị tài sản bị huỷ hoại hoặc bị làm hư hỏng, thì việc xác định hậu quả thiệt hại về tài sản không phải căn cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt, giá trị tài sản bị sử dụng trái phép, giá trị tài sản bị huỷ hoại hoặc bị làm hư hỏng, vì giá trị tài sản này đã được quy định thành tình tiết định khung riêng biệt. Hậu quả phải là thiệt hại về tài sản xẩy ra ngoài giá trị tài sản bị chiếm đoạt, giá trị tài sản bị sử dụng trái phép, giá trị tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng.

Ví dụ: A trộm cắp một lô thuốc chữa bệnh cho gia súc trị giá 40 triệu đồng. Do thuốc chữa bệnh cho gia súc bị trộm cắp nên không có thuốc để kịp thời chữa bệnh, dẫn đến đàn gia súc trị giá 100 triệu đồng bị chết. Trong trường hợp này giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 40 triệu đồng và hậu quả thiệt hại về tài sản là 100 triệu đồng.

 

3.4. Để xem xét trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng và trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về nguyên tắc chung phải đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ các hậu quả (thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và các thiệt hại phi vật chất).

Nếu gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản thì được xác định như sau:

 

a) Nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây là gây hậu quả nghiêm trọng:

a.1) Làm chết một người;

a.2) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên;

a.3) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%;

a.4) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 61% đến 100%, nếu không thuộc các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm a.2 và a.3 trên đây;

a.5) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật từ 31 % đến 60% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng;

a.6) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.

 

b) Nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây là gây hậu quả rất nghiêm trọng:

b.1) Làm chết hai người;

b.2) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61 % trở lên;

b.3) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của năm đến bảy người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%;

b.4) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 101% đến 200%, nếu không thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b.2 và b.3 trên đây;

b.5) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng;

b.6) Gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản mà hậu quả thuộc hai đến ba điểm từ điểm a.1 đến điểm a.6 tiểu mục 3.4 này.

 

c) Nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng:

c.1) Làm chết ba người trở lên;

c.2) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của năm người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên;

c.3) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của tám người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31 % đến 60% ;

c.4) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 201% trở lên, nếu không thuộc một trong các trường hợp được hướng đẫn tại các điểm c.2 và c.3 trên đây;

c.5) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ năm trăm triệu đồng trở lên;

c.6) Gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản mà hậu quả thuộc bốn điểm trở lên từ điểm a.1 đến điểm a.6 tiểu mục 3.4 này;

c.7) Gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản mà hậu quả thuộc hai điểm trở lên từ điểm b.1 đến điểm b.6 tiểu mục 3.4 này.

Ngoài các thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản, thì thực tiễn cho thấy có thể còn có hậu quả phi vật chất, như ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng về an ninh, trật tự, an toàn xã hội… Trong các trường hợp này phải tuỳ vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

[…]

5. Về tình tiết “sử dụng thủ đoạn nguy hiểm khác” hoặc “dùng thủ đoạn nguy hiểm”.

[…]

5.3. “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 BLHS là dùng thủ đoạn để cướp giật tài sản mà nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại hoặc của người khác như dùng xe mô tô, xe máy để thực hiện việc cướp giật tài sản; cướp giật của người đang đi mô tô, xe máy… Cần chú ý là trong trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm để cướp giật tài sản mà gây ra hậu quả nghiêm trọng, thì phải áp dụng cả hai tình tiết định khung hình phạt quy định tại các điểm d và h khoản 2 Điều 136 BLHS.

 

6. Khi áp đụng tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (điểm đ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 Điều 137; điểm đ khoản 2 Điều 138 BLHS) cần chú ý:

6.1. Phạm tội thuộc trường hợp “hành hung để tẩu thoát” là trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã… nhằm tẩu thoát.

 

6.2. Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là “hành hung để tẩu thoát” mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản.

 

II. Về việc xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt, bị chiếm giữ trái phép, bị sử dụng trái phép, bị huỷ hoại hoặc bị làm hư hỏng

Đối với các hành vi xâm phạm sở hữu nói chung việc xác định đúng giá trị tài sản bị chiếm đoạt, bị chiếm giữ trái phép, bị sử dụng trái phép, bị huỷ hoại hoặc bị làm hư hỏng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định trường hợp nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trường hợp nào chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng như việc áp dụng đúng khung hình phạt; do đó, cần chú ý một số điểm sau đây trong việc xác định giá trị tài sản đối với các tội xâm phạm sở hữu:

 

1. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt, bị chiếm giữ trái phép, bị sử dụng trái phép, bị huỷ hoại hoặc bị làm hư hỏng được xác định theo giá thị trường của tài sản đó tại địa phương vào thời điểm tài sản bị chiếm đoạt, bị chiếm giữ trái phép, bị sử dụng trái phép, bị huỷ hoại hoặc bị làm hư hỏng.

 

2. Trong trường hợp có đầy đủ cằn cứ chứng minh rằng người có hành vi xâm phạm sở hữu có ý định xâm phạm đến tài sản có giá trị cụ thể theo ý thức chủ quan của họ, thì lấy giá trị tài sản đó để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi xâm phạm.

Ví dụ 1: A thấy một người vừa nhận ở kho bạc 100 triệu đồng bỏ vào một chiếc túi xách để trước giỏ xe máy nên có ý định cướp giật 100 triệu đồng này. A lấy xe máy đi theo người vừa nhận tiễn và đã cướp giật được chiếc túi xách này, nhưng trong chiếc túi xách này chỉ còn có 200 nghìn đổng, bởi vì 100 triệu đồng người nhận tiền đã bỏ vào cốp xe máy. Trong trường hợp này phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A theo các điểm d và g khoản 2 Điều 136 BLHS.

Ví dụ 2: B thấy C đeo một chiếc nhẫn mầu vàng. Qua các nguồn tin B tưởng đây là nhẫn bằng vàng 9,999, có trọng lượng 2 chỉ, nên đã dùng thủ đoạn gian dối và đã chiếm đoạt được chiếc nhẫn này. Trong trường hợp này phải lấy trị giá của một chiếc nhẫn bằng vàng 9,999 với trọng lượng 2 chỉ theo thời giá tại địa phương vào thời điểm chiếm đoạt để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

 

3. Trong trường hợp có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng người có hành vi xâm phạm sở hữu có ý định xâm phạm đến tài sản, nhưng không quan tâm đến giá trị tài sản bị xâm phạm (trị giá bao nhiêu cũng được), thì lấy giá thị trường của tài sản bị xâm phạm tại địa phương vào thời điểm tài sản bị xâm phạm để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi xâm phạm.

Ví dụ: M thấy một chiếc xe máy dựng trước cửa của một gia đình nên đã vào lấy trộm không quan tâm đó là xe Trung Quốc hay xe Nhật Bản. Trong trường hợp này nếu là xe Trung Quốc thì xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo giá trị xe Trung Quốc; nếu là xe Nhật Bản thì xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo giá trị xe Nhật Bản.

 

4. Để xác định đúng giá trị tài sản bị xâm phạm trong trường hợp tài sản bị xâm phạm không còn nữa, cơ quan điều tra cần lấy lời khai của những người biết về tài sản này để xác định đó là tài sản gì; nhãn, mác của tài sản đó như thế nào; giá trị tài sản đó theo thời giá thực tế tại địa phương vào thời điểm tài sản bị xâm phạm là bao nhiêu; tài sản đó còn khoảng bao nhiêu phần trăm… để trên cơ sở đó có kết luận cuối cùng về giá trị tài sản bị xâm phạm.

 

5. Trong trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu, nhưng mỗi lần giá trị tài sản bị xâm phạm dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (gây hậu quả nghiêm trọng; đã bị xử phạt hành chính; đã bị kết án nhưng chưa được xoá án tích…), đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, nếu tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS, thì người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương úng theo tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm, nếu:

 

a) Các hành vi xâm phạm sở hữu được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian.

Ví dụ: Tối ngày 12/11/2001 Nguyễn Văn A mang theo một bao tải với mục đích đi trộm cắp tài sản. Lần thứ nhất A vào một gia đình và lấy được 1 chiếc đài cát sét trị giá 200 ngàn đồng bỏ vào bao tải đem dấu ở một bụi cây. Lần thứ hai A vào một gia đình khác lấy được một bộ quần áo trị giá 250 ngàn đồng và bỏ tiếp vào bao tải. Khi đi ngang qua thấy một chiếc xe đạp trị giá 300 ngàn đồng dựng ở sân của một gia đình khác, A phá khoá và dắt xe đạp ra bỏ bao tải tài sản vừa trộm cắp được lên xe đạp. Khi A đạp xe đi được một đoạn thì bị phát hiện và bị bắt giữ. Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 750 ngàn đồng; do đó, A phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 138 BLHS.

 

b) Việc thực hiện các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chuyên nghiệp, lấy tài sản do việc xâm phạm sở hữu mà có làm nguồn sống chính.

Ví dụ: Nguyễn Văn B không có nghề nghiệp bỏ nhà đi lang thang với mục đích trộm cắp tài sản. Ngày 15-3-2001 B trộm cắp được một chiếc xe đạp trị giá 300 ngàn đồng đem bán lấy tiền tiêu xài. Ngày 16-4-2001 B ra bến xe và móc túi được 150 ngàn đồng. Ngày 17-5-2001, B phá khoá cửa của một gia đình vào trộm cắp được một số tài sản trị giá 200 ngàn đồng và bị bắt giữ. Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 650 ngàn đồng; do đó, B phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 138 BLHS.

 

c) Với mục đích xâm phạm sở hữu, nhưng do điều kiện hoàn cảnh khách quan nên việc xâm phạm sở hữu phải được thực hiện nhiều lần cho nên giá trị tài sản bị xâm phạm mỗi lần dưới 500 ngàn đồng.

Ví dụ: Thấy trong kho X của Nhà máy Z có rất nhiều tài sản, nhưng sợ bảo vệ phát hiện, nên lợi dụng những lúc sơ hở, M vào kho trộm cắp tài sản và dấu vào người. Mỗi lần trộm cắp giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 100 ngàn đến 150 ngàn đồng. M thực hiện đến lần thứ 6 thì bị phát hiện và bị bắt giữ.

Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 700 ngàn đồng; do đó, M phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 138 BLHS.

Cần chú ý là trong các trường hợp trên đây nếu chỉ căn cứ vào các hành vi xâm phạm cùng loại này thì không áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” (điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS) và cũng không áp dụng tình tiết định khung hình phạt “có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội phạm tương ứng đó. Trong trường hợp có tình tiết khác định khung hình phạt thì áp dụng khoản tương ứng của điều luật tương ứng có quy định tình tiết định khung hình phạt đó.

 

III. VỀ VIỆC TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ

Trong trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội cùng loại (đều là trộm cắp tài sản; đều là lừa đảo chiếm đoạt tài sản…) nhưng tài sản bị xâm phạm là tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của công dân, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện như sau:

 

1. Nếu tất cả các hành vi phạm tội này đều được thực hiện từ ngày 1-7-2000 trở đi, thì người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo quy định của BLHS.

Ví dụ: Ngày 5-7-2000, A trộm cắp tài sản của B trị giá 10 triệu đồng.

Ngày 15-8-2000, A trộm cắp tài sản của Sở X trị giá 20 triệu đồng. Trong trường hợp này nếu căn cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 30 triệu đồng, thì A phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 138 BLHS. Nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là từ 50 triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng hoặc tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt vẫn là 30 triệu đồng, nhưng có một trong những tình tiết khác định khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 138 BLHS, thì A phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 138 BLHS.

 

2. Nếu trong các hành vi phạm tội này, có hành vi phạm tội được thực hiện trước ngày 1-7-2000, có hành vi phạm tội được thực hiện từ ngày 1-7-2000 trở đi, thì người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo quy định của BLHS. Tuy nhiên, khi xét xử các Toà án cần xem xét đến quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 (sau đây viết tắt là BLHS 1985) về tội phạm tương ứng để nếu theo quy định của Điều 7 BLHS mà BLHS 1985 có quy định khác có lợi hơn cho người phạm tội thì áp dụng tinh thần quy định đó khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội.

 

3. Nếu tất cả các hành vi phạm tội này đều được thực hiện trước ngày 1-7-2000, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện như sau:

3.1. Theo khoản 1 của điều luật tương ứng của BLHS, nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thuộc khoản 1 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu và theo BLHS 1985 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân.

Ví dụ: Tháng 6-1999 Q phạm tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 5 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 132 BLHS 1985. Tháng 10-1999 Q phạm tội trộm cắp tài sản của công dân trị giá 10 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 155 BLHS 1985. Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 15 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 138 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 7 BLHS, thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Q về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS.

 

3.2. Theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân của BLHS 1985, nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thuộc khoản 2 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với từng tội cần chú ý để khi tổng hợp hình phạt thì hình phạt chung không được vượt quá mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 của Điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu. .

Ví dụ: Tháng 10-1999 C phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 40 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 134 BLHS 1985. Tháng 2-2000, C phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân trị giá 40 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 157 BLHS 1985. Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 80 triệu đồng thuộc điểm e khoản 2 Điều 139 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 7 BLHS, thì vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với C theo khoản 1 Điều 134 và theo khoản 1 Điều 157 BLHS 1985 .

 

3.3. Theo khoản 2 của điều luật tương ứng của BLHS, nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thuộc khoản 2 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu và theo BLHS 1985 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân.

Ví dụ: Tháng 5-1999 H phạm tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 80 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 132 BLHS 1985. Tháng 8-1999 H lại phạm tội trộm cắp tài sản của công dân trị giá 100 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 155 BLHS 1985. Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 180 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 138 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 7 BLHS, thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 BLHS.

 

3.4. Theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân của BLHS 1985, nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thuộc khoản 3 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với từng tội, cần chú ý để khi tổng hợp hình phạt thì hình phạt chung không vượt quá mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 3 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu.

Ví dụ: Tháng 3-1999, T phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 120 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 134 BLHS 1985. Tháng 7-1999, T lại phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân trị giá 100 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 157 BLHS 1985. Trong trường hợp này, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 220 triệu đồng thuộc điểm a khoản 3 Điều 139 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 7 BLHS, thì vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T theo khoản 2 Điều 134 và theo khoản 2 Điều 157 BLHS 1985.

 

3.5. Theo khoản 2 của điều luật tương ứng của BLHS, nếu tính tổng giá trị tài sản chiếm đoạt thuộc khoản 2 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu và theo BLHS 1985 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân hoặc ngược lại.

Ví dụ : Tháng 1-1999, D trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 10 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 132 BLHS 1985. Tháng 9-1999, D lại trộm cắp tài sản của công dân trị giá 90 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 155 BLHS 1985. Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 100 triệu đồng thuộc điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 7 BLHS, thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 BLHS.

 

3.6. Theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân của BLHS 1985 (hoặc ngược lại) nếu tổng giá trị tài sản chiếm đoạt thuộc khoản 3 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với từng tội, cần chú ý để khi tổng hợp hình phạt thì hình phạt chung không vượt quá mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 3 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu.

Ví dụ : Tháng 12- 1998 V phạm tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 30 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 132 BLHS 1985. Tháng 3-1999 V lại phạm tội trộm cắp tài sản của công dân trị giá 220 triệu đồng. Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 250 triệu đồng thuộc điểm a khoản 3 Điều 138 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 7 BLHS thì vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với V theo khoản 1 Điều 132 và khoản 2 Điều 155 BLHS 1985.

 

3.7. Theo khoản 4 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp các hành vi phạm tội theo quy định của BLHS 1985 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 và khoản 3 hoặc khoản 1 và khoản 3 của hai điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và tội xâm phạm sở hữu của công dân, nếu không thuộc trường hợp được hướng dẫn tại tiểu mục 3.8 Mục 3 này.

Trong trường hợp này khi quyết định hình phạt cần chú ý:

 

a) Chỉ xử phạt người phạm tội mức án tù có thời hạn nếu truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội của hai điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và tội xâm phạm sở hữu của công dân, thì theo giá trị tài sản bị chiếm đoạt chỉ có thể xử phạt người phạm tội mức án cao nhất là tù có thời hạn, nhưng nếu truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm sở hữu theo khoản 4 của điều luật tương ứng của BLHS, thì theo tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải xử phạt người phạm tội mức án tù chung thân.

 

b) Chỉ xử phạt người phạm tội mức án tù chung thân nếu truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội của hai điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và tội xâm phạm sở hữu của công dân, thì theo giá trị tài sản bị chiếm đoạt chỉ có thể xử phạt người phạm tội mức án cao nhất là tù chung thân, nhưng nếu truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm sở hữu theo khoản 4 của điều luật tương ứng của BLHS, thì theo tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải xử phạt người phạm tội mức án tử hình.

 

3.8. Trường hợp các hành vi phạm tội mà theo quy định của BLHS 1985 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 và khoản 3 hoặc khoản 1 và khoản 3 của hai điều luật tương ứng quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa và tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội được thực hiện tương tự như hướng dẫn tại các tiểu mục 3.5 và 3.6 Mục 3 này.


3. Án lệ số 57/2023/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào các ngày 01, 02, 03 tháng 02 năm 2023 và được công bố theo Quyết định số 39/QĐ-CA ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Khái quát nội dung của án lệ:

– Tình huống án lệ:

Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để người quản lý tài sản chuyển giao tài sản cho bị cáo, sau đó lợi dụng sơ hở để nhanh chóng tẩu thoát.

– Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cướp giật tài sản”.

Tải về

Án lệ số 57/2023/AL


4. Thông báo rút kinh nghiệm số 11/TB-VC1-HS ngày 24/04/2023 về việc áp dụng pháp luật không đúng gây bất lợi cho bị cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội

Sơ lược nội dung:

– Không đủ căn cứ áp dụng tình tiết định khung tăng nặng: Việc cộng giá trị tài sản của các lần cướp giật chỉ dựa vào lời khai của bị hại, trong khi không thu giữ được tang vật, không có hóa đơn chứng từ, không định giá được tài sản, để áp dụng điểm c khoản 2 Điều 171 BLHS là không có cơ sở pháp lý, gây bất lợi cho bị cáo.

– Vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc áp dụng quy định có lợi cho bị cáo: Khi chứng cứ chưa được chứng minh đầy đủ, rõ ràng nhưng vẫn xác định giá trị tài sản theo hướng bất lợi cho bị cáo là trái Điều 13 BLTTHS và nguyên tắc áp dụng pháp luật hình sự có lợi cho người phạm tội.

– Bỏ sót tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối với 02 hành vi cướp giật do bị cáo tự khai nhận, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không áp dụng tình tiết “người phạm tội tự thú” theo điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS là thiếu sót.

– Bài học nghiệp vụ: Khi định tội, định khung hình phạt phải bám sát chứng cứ hợp pháp, kết luận định giá, không suy đoán bất lợi cho bị cáo; đồng thời đánh giá đầy đủ cả tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ để bảo đảm xét xử đúng pháp luật.

Tải về

Thông báo số 11/TB-VC1-HS


5. Thông báo rút kinh nghiệm số 39/TB-VC1-V1 ngày 15/08/2023 về xác định tội danh và hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội

Sơ lược nội dung:

– Xác định đúng bản chất hành vi phạm tội: Phải đánh giá đầy đủ hành vi, lời nói đe dọa của bị cáo làm người bị hại sợ hãi, tê liệt ý chí, không thể chống cự để xác định đúng là dùng đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, không đơn thuần là cướp giật.

– Phân biệt rõ tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản”: Trường hợp có hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần người bị hại trong khi chiếm đoạt tài sản thì phải xác định là tội Cướp tài sản, không được áp dụng sai sang tội Cướp giật tài sản.

– Áp dụng đúng tình tiết định khung hình phạt: Hành vi phạm tội đối với người dưới 16 tuổi là tình tiết định khung tăng nặng theo điểm e khoản 2 Điều 168 BLHS, cần được áp dụng chính xác.

– Tránh sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật: Việc định sai tội danh dẫn đến quyết định hình phạt không tương xứng, buộc phải hủy án để xét xử lại, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả công tác tố tụng.

– Nâng cao trách nhiệm kiểm sát xét xử: Viện kiểm sát các cấp cần nghiên cứu kỹ hồ sơ, chứng cứ, diễn biến hành vi phạm tội để kịp thời phát hiện sai sót trong định tội, định khung và kiến nghị, kháng nghị đúng pháp luật.

Tải về

Thông báo số 39/TB-VC1-V1


6. Bản án số 10/2019/HS-ST ngày 27/02/2019 về Tội cướp giật tài sản tại Tòa án nhân dân quận 10, thành phố H

Sơ lược nội dung: Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 12/8/2018, trước nhà số 33/1 Sư Vạn Hạnh, Phường 12, Quận 10, Huỳnh Thanh P và Nguyễn Xuân V điều khiển xe mô tô biển số 59T1-95106 đi tìm tài sản để cướp giật. Khi thấy bà Nguyễn Thị Như C đang sử dụng điện thoại Samsung J7 Pro, V điều khiển xe áp sát để P dùng tay giật điện thoại. Tuy nhiên, P chỉ giật trúng tay bị hại nên không chiếm đoạt được tài sản. Cả hai bị bắt quả tang ngay sau đó. Hành vi của các bị cáo cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.

Tải về

Bản án số 10/2019/HS-ST


7. Bản án số 91/2025/HS-ST ngày 20/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh

Sơ lược nội dung: Ngày 17/3/2025, Lê Vũ L lợi dụng sơ hở của chủ tiệm cầm đồ “Anh P”, giả vờ mượn điện thoại Samsung Galaxy A15 5G để liên lạc rồi nhanh chóng bỏ chạy chiếm đoạt tài sản trị giá 2.267.000 đồng. Bị cáo bị bắt giữ ngay sau đó cùng tang vật.

Xử phạt: Xử phạt 02 năm tù về tội Cướp giật tài sản (khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017), thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2025; buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vật chứng đã được trả lại cho bị hại; trách nhiệm dân sự đã bồi thường xong, không có yêu cầu thêm.

Tải về

Bản án số 91/2025/HS-ST


8. Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 về Tội cướp giật tài sản tại Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng 

Sơ lược nội dung: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 18/6/2023, tại đường 353, tổ dân phố Q, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng, Đỗ Thành Đ, Đào Trọng T, Phạm Minh T1 đã điều khiển xe mô tô BKS 15F1-234.15 áp sát xe mô tô của chị Nguyễn Thị H để Đ trực tiếp giật 02 điện thoại di động (Iphone XR và Vsmart Joy 2+) trị giá 4.500.000 đồng rồi tăng ga bỏ chạy. Sau khi cướp giật, các bị cáo sử dụng tiền trong ốp điện thoại, bán điện thoại Iphone XR cho Hoàng Đại P với giá 1.000.000 đồng; P biết rõ là tài sản do cướp giật mà có nhưng vẫn mua và mang đi mở khóa. Hành vi của Đ, T, T1 cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Hành vi của P cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tải về

Bản án số 01/2024/HS-ST


Các tổng hợp nội dung có liên quan:

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội cướp tài sản

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội trộm cắp tài sản

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

—————————————————–

CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)

– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

– Điện thoại: 0941.767.076

– Email: amilawfirmdn@gmail.com

– Website: https://amilawfirm.com/

– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm

Bài viết liên quan