Tội tham ô tài sản là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng nhiệm vụ được giao để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và uy tín của bộ máy nhà nước. Đây là một trong những tội phạm tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về tài sản và làm suy giảm niềm tin của xã hội. Việc áp dụng pháp luật đối với tội danh này đòi hỏi xác định rõ chủ thể đặc biệt, yếu tố lợi dụng chức vụ, quyền hạn và mục đích chiếm đoạt. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.
1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025
Điều 353. Tội tham ô tài sản
1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
đ) Chiếm đoạt tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiền, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn;
e) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng;
g) Ảnh hưởng xấu đến đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, tổ chức.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này.
2. Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình
Điều 26. Hành vi cản trở, chống lại việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ; đưa, môi giới, nhận hối lộ
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với hành vi môi giới, giúp sức cho cá nhân, tổ chức vi phạm trốn tránh việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ.
2. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát hoặc nhiệm vụ khác của người thi hành công vụ theo quy định của pháp luật;
b) Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ;
c) Tổ chức, xúi giục, giúp sức, lôi kéo hoặc kích động người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ.
3. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Gây thiệt hại về tài sản, phương tiện của cơ quan nhà nước, của người thi hành công vụ;
b) Đưa, môi giới, nhận hối lộ nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc xin lỗi công khai tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều này, trừ trường hợp nạn nhân có đơn không yêu cầu.
3. Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 về hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành
… …
Điều 3. Về một số tình tiết là dấu hiệu định tội
1. “Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm” quy định tại điểm a khoản 1 các điều 353, 354, 355 và 358 của Bộ luật Hình sự là trường hợp trước đó người phạm tội đã bị xử lý kỷ luật về hành vi tương ứng nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật.
Ví dụ: Nguyễn Văn A đã kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo về hành vi tham ô số tiền 500.000 đồng nhưng 06 tháng sau, A lại thực hiện hành vi tham ô số tiền 1.500.000 đồng.
Trường hợp người có hành vi vi phạm đã bị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý kỷ luật, sau đó lại bị cơ quan tiến hành tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự về chính hành vi này thì việc bị xử lý kỷ luật trước đó không bị coi là “đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm”.
Ví dụ: Nguyễn Văn A đã bị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật về hành vi tham ô tài sản, sau đó A lại bị xem xét khởi tố về chính hành vi tham ô này thì không được áp dụng tình tiết “đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm” đối với A.
2. “Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” quy định tại khoản 1 các điều 353, 354 và 355 của Bộ luật Hình sự là trước đó người phạm tội đã bị kết án trong 01 lần về một hoặc nhiều tội quy định tại Mục 1 Chương XXIII của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện một trong những hành vi được liệt kê tại khoản 1 của một trong các điều 353, 354 và 355 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp ngoài tiền án nêu trên, người phạm tội còn có tiền án khác thì tiền án này được sử dụng để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm, trừ trường hợp các tiền án đều đã được sử dụng để xác định dấu hiệu định tội trong các lần kết án trước đó.
Ví dụ: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội nhận hối lộ số tiền là 1.500.000 đồng, A đã có 02 tiền án, trong đó tiền án thứ nhất, A bị kết án về tội tham ô tài sản với số tiền chiếm đoạt là 5.000.000 đồng; tiền án thứ hai, A bị kết án về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản với số tiền chiếm đoạt là 1.000.000 đồng. Trường hợp này, tiền án thứ hai được sử dụng để xác định dấu hiệu định tội đối với tội tham ô tài sản. Đối với tiền án thứ nhất, do trước đó đã được sử dụng để xác định dấu hiệu định tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (với số tiền chiếm đoạt là 1.000.000 đồng) nên không được tiếp tục sử dụng để xác định tái phạm.
Điều 4. Về một số tình tiết định khung hình phạt
Tình tiết “dùng thủ đoạn xảo quyệt” hoặc “dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại khoản 2 các điều 353, 354, 355, 364 và 365 của Bộ luật Hình sự:
a) “Dùng thủ đoạn xảo quyệt” là trường hợp người phạm tội sử dụng thủ đoạn dối trá một cách tinh vi, sử dụng công nghệ cao để thực hiện hành vi phạm tội, che giấu tội phạm, đổ tội cho người khác hoặc người phạm tội có hành vi tiêu hủy chứng cứ, gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm.
b) “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” là trường hợp người phạm tội sử dụng thủ đoạn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác hoặc có thể gây hậu quả nghiêm trọng khác để chiếm đoạt tài sản hoặc che giấu tội phạm.
Tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”quy định tại khoản 2 các điều 353, 354, 355, 356, 357, 358, 361, 364, 365 và 366 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điều này từ 02 lần trở lên và mỗi hành vi đều cấu thành tội phạm, nhưng đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ví dụ: Ngày 15-8-2018, Nguyễn Văn A có hành vi tham ô số tiền 10.000.000 đồng. Ngày 25-9-2019, A lại có hành vi tham ô số tiền 20.000.000 đồng. Các hành vi phạm tội của A đều chưa bị xử lý hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tham ô tài sản và bị áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự.
Điều 5. Nguyên tắc xử lý đối với tội phạm tham nhũng, tội phạm khác về chức vụ
1. Việc xử lý tội phạm tham nhũng, tội phạm khác về chức vụ phải bảo đảm nghiêm khắc và tuân thủ triệt để các nguyên tắc của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự.
2. Trong quá trình tố tụng, người phạm tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và đã hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì không áp dụng mức cao nhất của khung hình phạt mà người phạm tội bị truy tố, xét xử.
… …
Điều 7. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp người sử dụng tài sản do tham nhũng mà có để thực hiện một trong các hành vi rửa tiền
Trường hợp người sử dụng tài sản do tham nhũng mà có để thực hiện một trong các hành vi rửa tiền quy định tại Điều 324 của Bộ luật Hình sự thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm tương ứng quy định tại Chương XXIII của Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội rửa tiền theo quy định tại Điều 324 của Bộ luật Hình sự.
Ví dụ: Nguyễn Văn A có hành vi tham ô số tiền 5.000.000.000 đồng, sau đó A dùng số tiền này đầu tư, kinh doanh bất động sản để che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của số tiền đã tham ô. Trường hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tham ô tài sản quy định tại Điều 353 và tội rửa tiền quy định tại Điều 324 của Bộ luật Hình sự.
4. Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định tại khoản 3 điều 7 Bộ Luật hình sự 100/2015/QH13 đối với các tội danh đã bỏ hỉnh tử hình, chuyển sang tù chung thân, không xử lý hình sự, đình chỉ vụ án, miễn chấp hành hình phạt
Điều 2. Về việc chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các Điều kiện quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 40 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13
1. Kể từ ngày 09 tháng 12 năm 2015, người đã bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ và bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa thi hành án tử hình mà thuộc một trong các trường hợp sau đây thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân:
a) Sau khi bị kết án, người bị kết án tử hình đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, Điều tra, xử lý tội phạm;
b) Sau khi bị kết án, người bị kết án tử hình đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và lập công lớn.
2. “Chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ” là sau khi bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, người bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ hoặc người bị kết án đã tích cực tác động để cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em và những người khác khắc phục hậu quả và những người này đã thực hiện việc nộp lại ít nhất ba phần tư giá trị tài sản mà người bị kết án đã tham ô, nhận hối lộ.
3. “Hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, Điều tra, xử lý tội phạm” là sau khi bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, người bị kết án chủ động cung cấp những tin tức, tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho việc phát hiện, Điều tra, xử lý tội phạm liên quan đến tội phạm mà họ bị kết án (như: chỉ đúng nơi cất giấu vật chứng quan trọng giúp cơ quan chức năng thu hồi được vật chứng đó; khai báo và chỉ đúng nơi đồng phạm khác đang bỏ trốn; khai báo về tội phạm và người phạm tội mới liên quan đến tội phạm mà họ bị kết án…). Ngoài những trường hợp nêu trên, có thể xác định những trường hợp khác là “hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, Điều tra, xử lý tội phạm” nhưng phải được các cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất áp dụng.
4. “Lập công lớn” là sau khi bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, người bị kết án đã giúp cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, truy bắt, Điều tra, xử lý tội phạm không liên quan đến tội phạm mà họ bị kết án; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác; có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị lớn được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận. Ngoài những trường hợp nêu trên, có thể xác định những trường hợp khác là “lập công lớn” nhưng phải được các cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất áp dụng.
5. Đối với người bị kết án tử hình thuộc trường hợp hướng dẫn tại Điểm a, Điểm b Khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm chủ trì, phối hợp với Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp rà soát, báo cáo ngay Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
5. Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP ngày 24/5/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 324 của Bộ luật Hình sự về tội rửa tiền
1. Tội phạm nguồn là tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự và tài sản có được từ tội phạm đó trở thành đối tượng của tội rửa tiền (ví dụ: Tội giết người; Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Tội mua bán người; Tội mua bán người dưới 16 tuổi; Tội cướp tài sản; Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; Tội trộm cắp tài sản; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Tội buôn lậu; Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm; Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Tội trốn thuế; Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả; Tội thao túng thị trường chứng khoán; Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan; Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã; Tội gây ô nhiễm môi trường; Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Tội vận chuyển trái phép chất ma túy; Tội mua bán trái phép chất ma túy; Tội chiếm đoạt chất ma túy; Tội khủng bố; Tội tài trợ khủng bố; Tội bắt cóc con tin; Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; Tội đánh bạc; Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc; Tội tham ô tài sản; Tội nhận hối lộ; Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản…). Hành vi phạm tội nguồn có thể do công dân Việt Nam, pháp nhân thương mại Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam thực hiện trong hoặc ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cũng được coi là tội phạm nguồn đối với hành vi phạm tội thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do công dân nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài thực hiện mà theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam, pháp luật của quốc gia, vùng lãnh thổ sở tại quy định là tội phạm.
2. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội rửa tiền có thể được tiến hành đồng thời với việc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm nguồn và không loại trừ việc truy cứu trách nhiệm hình sự tội phạm nguồn.
6. Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến vướng mắt trong công tác xét xử
I. Hình sự, tố tụng Hình sự
[…]
5. Bị cáo là nhân viên thu tiền điện thoại, tiền cước viễn thông thực hiện việc thu tiền của khách hàng cho Công ty, nhưng sau khi thu được tiền của khách hàng, bị cáo đã chiếm đoạt số tiền này, không nộp về cho Công ty. Hành vi của bị cáo phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” hay tội “Tham ô tài sản”?
Bị cáo là người được giao thực hiện nhiệm vụ thu tiền của khách, có trách nhiệm và trực tiếp quản lý tiền cước điện thoại, tiền cước viễn thông thu được. Bị cáo đã lợi dụng nhiệm vụ được giao, sau khi thu được tiền của khách hàng, bị cáo không nộp về công ty mà chiếm đoạt số tiền này. Như vậy, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 352, Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hướng dẫn tại khoản 5 Điều 2 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi của bị cáo phạm tội “Tham ô tài sản”.
7. Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 09-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắt về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính
I. Về hình sự
1. Tình tiết “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” quy định tạikhoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự được hiểu như thế nào?
Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự thì không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ nếu sau khi bị kết án đã nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn. Tuy nhiên, đối với trường hợp bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn hoặc tù chung thân là loại hình phạt nhẹ hơn so với hình phạt tử hình, nên “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự được hiểu là đã bồi thường được ít nhất một phần hai nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp, người bị kết án bồi thường được ít hơn một phần hai nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án nhưng có văn bản miễn giảm một phần nghĩa vụ dân sự hoặc có thỏa thuận khác của phía bị hại (có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền) thể hiện người bị kết án đã bồi thường được một phần hai nghĩa vụ dân sự thì cũng được coi là “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự”.
[…]
8. Trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội trước không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì “người tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có” có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hay không?
Theo quy định tại Điều 323 của Bộ luật Hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì: “1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC ngày 30-11-2011 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì: “1. “Tài sản do người khác phạm tội mà có” là tài sản do người phạm tội có được trực tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: tài sản chiếm đoạt được, tham ô, nhận hối lộ…) hoặc do người phạm tội có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ việc họ thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: xe máy có được từ việc dùng tiền tham ô để mua); 2. “Biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có ” là có cần cứ chứng minh biết được tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội”.
Như vậy, theo quy định tại Điều 323 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn nêu trên thì mặt chủ quan của tội phạm này chỉ bắt buộc người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết tài sản đó do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có, mà không buộc người tiêu thụ, chứa chấp phải biết rõ ai là người đã trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội để có được tài sản đó và họ đã bị xử lý hình sự hay chưa. Do vậy, trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội trước không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nhưng có đủ chứng cứ chứng minh được ý thức chủ quan của người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ biết rõ các tài sản mà họ chứa chấp, tiêu thụ là do người khác phạm tội mà có thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
8. Án lệ số 19/2018/AL ngày 17/10/2018 về về xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong tội “Tham ô tài sản” được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Khái quát nội dung của án lệ:
– Tình huống án lệ:
Bị cáo lợi dụng sơ hở trong quản lý của ngân hàng, nhiều lần trực tiếp làm thủ tục rút và chi tiền tiết kiệm từ quỹ của chi nhánh ngân hàng do bị cáo quản lý nhưng thực tế không chi trả cho bất kỳ ai mà bị cáo đã sử dụng số tiền này.
Quá trình điều tra bị cáo đã khắc phục được một phần số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt.
– Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tham ô tài sản”.
Giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt phải xác định là toàn bộ số tiền mà bị cáo đã làm thủ tục rút và chi tiền tiết kiệm khống từ quỹ của chi nhánh ngân hàng (bao gồm cả số tiền bị cáo đã khắc phục trong quá trình điều tra).
9. Thông báo rút kinh nghiệm số 237/TB-VKSTC ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Những nội dung cần rút kinh nghiệm sau:
– Chưa xác định và tuyên buộc đầy đủ nghĩa vụ hoàn trả tài sản bị chiếm đoạt: Toà án hai cấp không buộc ông Hà Hoàng Huy hoàn trả số tiền 14.714.839.000 đồng đã nhận từ bị cáo, mặc dù đây là tài sản do phạm tội mà có, là không đúng quy định pháp luật.
– Áp dụng chưa đúng quy định về xử lý vật chứng và tài sản bị chiếm đoạt: Việc không buộc người nhận tiền do phạm tội mà có hoàn trả cho chủ sở hữu hợp pháp vi phạm khoản 2 Điều 47 BLHS và điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
– Đánh giá, sử dụng chứng cứ chưa triệt để: Đối với số tiền chuyển khoản cho ông Hà Hoàng Huy đã được ngân hàng xác minh và người nhận thừa nhận nhưng chưa được sử dụng làm căn cứ để giải quyết trách nhiệm dân sự.
– Vai trò của Viện kiểm sát trong tranh tụng và kháng nghị còn hạn chế: Viện kiểm sát cấp sơ thẩm chưa làm rõ quan điểm về nghĩa vụ hoàn trả của người nhận tiền; Viện kiểm sát cấp phúc thẩm chưa kịp thời phát hiện và khắc phục sai sót, dẫn đến phải kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tải về
Thông báo rút kinh nghiệm số 237/TB-VKSTC
10. Thông báo rút kinh nghiệm số 7857/TB-VKSTC ngày 15/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Những nội dung cần rút kinh nghiệm sau:
– Cần phân tích, tách bạch rõ từng hành vi cụ thể của bị can để xác định đúng tội danh. Trong vụ án này, hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 1,5 tỷ đồng là tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt 250 triệu đồng tiền bán hàng là tội Tham ô tài sản. Việc đánh giá không đúng từng hành vi dẫn đến xác định sai tội danh.
– Khi áp dụng pháp luật hình sự, phải đối chiếu đầy đủ các dấu hiệu cấu thành của từng tội phạm, nhất là yếu tố chủ thể, hành vi khách quan và mục đích chiếm đoạt, tránh việc áp dụng điều luật không phù hợp với bản chất hành vi.
– Việc truy tố ban đầu chỉ về tội Tham ô tài sản với toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt đã dẫn đến bỏ lọt tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ảnh hưởng đến việc xử lý toàn diện, đúng pháp luật đối với người phạm tội.
– Viện kiểm sát các cấp cần tăng cường kiểm tra, rà soát chặt chẽ Cáo trạng, hồ sơ vụ án, kịp thời phát hiện sai sót trong việc định tội, định khung hình phạt để yêu cầu điều tra bổ sung khi cần thiết.
– Việc xác định không đúng tội danh ngay từ đầu dẫn đến phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác tố tụng và quyền lợi của các bên liên quan.
Tải về
Thông báo rút kinh nghiệm số 7857/TB-VKSTC
11. Thông báo rút kinh nghiệm số 509/TB-VKSTC-VPT1 ngày 12/08/2014 của viện kiểm sát nhân dân tối cao
Những nội dung cần rút kinh nghiệm sau:
– Rút kinh nghiệm trong việc áp dụng pháp luật tố tụng hình sự: Khi xét xử, nếu nhận định hành vi của bị cáo có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án phải xét xử về tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn, hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung nếu có dấu hiệu tội phạm nặng hơn; không được tuyên bị cáo không phạm tội trái Điều 196 BLTTHS.
– Rút kinh nghiệm trong việc xác định chủ thể của tội phạm về chức vụ: Cần xác định đúng người có chức vụ, quyền hạn theo Điều 277 BLHS; không được nhận định sai rằng bị cáo không phải là người thi hành công vụ khi thực tế được giao nhiệm vụ, quyền hạn nhất định.
– Rút kinh nghiệm trong đánh giá chứng cứ: Phải đánh giá toàn diện, khách quan các chứng cứ, nhất là khi lời khai của bị cáo có mâu thuẫn, thay đổi; không chỉ căn cứ vào lời khai có lợi cho bị cáo để tuyên không phạm tội.
– Rút kinh nghiệm trong việc xử lý hồ sơ còn nhiều mâu thuẫn: Khi hồ sơ vụ án còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ, Hội đồng xét xử phải trả hồ sơ điều tra bổ sung theo đúng quy định của BLTTHS và văn bản hướng dẫn.
– Rút kinh nghiệm để tránh bỏ lọt tội phạm: Việc tuyên bị cáo không phạm tội khi chưa làm rõ đầy đủ hành vi, bản chất vụ án đã dẫn đến bỏ lọt tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về tham nhũng, chức vụ.
Tải về
Thông báo rút kinh nghiệm số 509/TB-VKSTC-VPT1
12. Bản án số 06/2023/HS-ST ngày 10/02/2023 về Tội tham ô tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
Tóm tắt trích yếu
Hành vi: Bị cáo Phạm Hữu T, là nhân viên giao hàng kiêm thủ kho của Công ty cổ phần Đầu tư thương mại phát triển NT, đã lợi dụng chức vụ, nhiệm vụ được giao để chiếm đoạt 05 điện thoại di động iPhone trị giá 106.500.000 đồng và số tiền 27.831.800 đồng, tổng cộng 134.331.800 đồng, nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội nhiều lần, chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên.
Xử phạt: Tòa án tuyên bố bị cáo phạm tội “Tham ô tài sản”, xử phạt 07 năm tù; buộc bồi thường cho bị hại số tiền 134.331.800 đồng; miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) và miễn án phí theo quy định pháp luật.
Tải về
13. Bản án số 527/2025/HS-PT ngày 13/06/2025 về Tội tham ô tài sản tại Tòa án nhân dân TP Hà Nội
Tóm tắt trích yếu
Hành vi: Bị cáo Nguyễn Đức N, là cán bộ kỹ thuật của Công ty Cổ phần T4, được giao nhiệm vụ quản lý, giám sát và giao nhận vật liệu tại công trình đường trục phát triển kinh tế P – V. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, bị cáo lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thỏa thuận với các lái xe bán trái phép 08 xe cát thuộc trách nhiệm quản lý cho người khác, ghi khống phiếu nhập vật tư để hợp thức hóa chứng từ. Qua đó, bị cáo chiếm đoạt tài sản của Công ty T4 số tiền 17.400.000 đồng, hưởng lợi cá nhân 8.000.000 đồng. Hành vi phạm tội nhiều lần, đủ yếu tố cấu thành tội Tham ô tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 353 BLHS.
Xử phạt: Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm; tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đức N 03 năm tù về tội “Tham ô tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ 22/01/2024 đến 02/02/2024); buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Tải về
14. Bản án số 143/2024/HS-ST ngày 07/03/2024 về Tội tham ô tài sản tại Tòa án nhân dân TP Hà Nội
Tóm tắt trích yếu
Hành vi: Từ năm 2019 đến tháng 9/2022, bị cáo Nguyễn Trường A, là nhân viên quản lý kho hàng, kiêm nhân viên kinh doanh của Công ty TNHH Công nghệ MPT VN, đã lợi dụng chức vụ, nhiệm vụ được giao để nhiều lần chiếm đoạt các thiết bị thu lôi, chống sét của công ty. Sau khi chiếm đoạt, bị cáo A chuyển số hàng này cho Ngô Thị D mang đi bán cho nhiều cá nhân, lấy tiền sử dụng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân, chi tiêu chung.
Bị cáo Ngô Thị D biết rõ số hàng hóa do bị cáo A chiếm đoạt từ công ty nhưng vẫn giúp sức tiêu thụ tài sản phạm tội mà có, cùng thống nhất việc bán hàng và phân chia tiền thu được.
Tổng số tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt là 1.859 thiết bị thu lôi, chống sét các loại, trị giá 2.112.550.000 đồng. Hành vi của các bị cáo cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Tòa án tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trường A và Ngô Thị D phạm tội “Tham ô tài sản”.
Xử phạt Nguyễn Trường A 13 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2022.
Xử phạt Ngô Thị D 05 năm tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2022 đến ngày 06/10/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Bị hại đã nhận 150.000.000 đồng khắc phục hậu quả và không yêu cầu bồi thường thêm.
Tải về
Các tổng hợp nội dung có liên quan:
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Nhận hối lộ
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Đưa hối lộ
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
—————————————————–
CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)
– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
– Điện thoại: 0941.767.076
– Email: amilawfirmdn@gmail.com
– Website: https://amilawfirm.com/
– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm










