Trang chủ / Tin tức / TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, phát sinh từ quan hệ dân sự, kinh tế, tín dụng hợp pháp. Các văn bản hướng dẫn có vai trò làm rõ dấu hiệu chiếm đoạt, thời điểm tội phạm hoàn thành và căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.

 

MỤC LỤC

1. Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

 

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

 

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

 

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.


2. Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt hành vi hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình

Điều 18. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác

1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xâm nhập vào khu vực nhà ở, kho bãi hoặc địa điểm khác thuộc quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản;

b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc đến thời điểm trả lại tài sản do vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

d) Không trả lại tài sản cho người khác do vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng nhưng sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản;

đ) Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

e) Tổ chức, thuê, giúp sức, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, kích động người khác trộm cắp tài sản, chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

g) Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật hoặc phương tiện giao thông các loại công cụ, phương tiện nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản.

 

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, tổ chức khác hoặc tài sản đồng sở hữu của bản thân với cá nhân, tổ chức khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 44, điểm b khoản 2 Điều 46 Nghị định này;

b) Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản trái quy định của pháp luật;

c) Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc gian lận, lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác;

d) Mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có;

đ) Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc sử dụng, mua, bán, thế chấp, cầm cố trái phép tài sản của người khác;

e) Cưỡng đoạt tài sản nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, c và g khoản 1; các điểm a, b và c khoản 2 Điều này;

b) Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 2 Điều này.

 

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm c, d và đ khoản 2 Điều này;

b) Buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tài sản có được do chiếm giữ trái phép đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật cho chủ sở hữu hợp pháp đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, b và c khoản 1; các điểm b, đ và e khoản 2 Điều này;

c) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này, trừ trường hợp tài sản không thể khôi phục được tình trạng ban đầu.


3. Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Bộ Công an – Bộ Tư pháp – Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao 

 I. VỀ MỘT SỐ TÌNH TIẾT LÀ YẾU TỐ ĐỊNH TỘI HOẶC ĐỊNH KHUNG HÌNH PHẠT

1. Khi áp dụng tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt” quy định tại khoản 1 của các điều 137, 138, 139 và 140 BLHS cần chú ý:

1.1. Bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt”, nếu trước đó đã bị xử lý bằng một trong các hình thức sau đây về hành vi chiếm đoạt, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý mà lại thực hiện một trong các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính;

b) Đã bị xử lý kỷ luật theo đúng quy định của Điều lệnh, Điều lệ của lực lượng vũ trang nhân dân;

c) Đã bị xử lý kỷ luật theo đúng quy định của cơ quan có thẩm quyền (Ví dụ 1: Một sinh viên trộm cắp của bạn 150.000 đồng và bị phát hiện. Hội đồng kỷ luật của Nhà trường đã xét và người có thẩm quyền đã ra quyết định cảnh cáo toàn trường hoặc đuổi học. Ví dụ 2: Một cán bộ (công chức) trộm cắp tài sản của cơ quan và bị phát hiện. Hội đồng kỷ luật của cơ quan đã xét và người có thẩm quyền đã ra quyết định kỷ luật hạ một bậc lương theo quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức…).

 

1.2. Hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý là hết thời hạn do pháp luật, Điều lệnh hoặc Điều lệ quy định (Theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, trong trường hợp “cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu quá một năm, kể từ ngày thi hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết hiệu lực thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm, thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính”). Đối với các trường hợp bị xử lý mà chưa có quy định về thời hạn để hết thời hạn đó, người bị xử lý được coi là chưa bị xử lý, thì thời hạn đó là một năm, kể từ ngày bị xử lý.

 

1.3. Bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt” nếu trước đó đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi sau đây:

a) Hành vi cướp tài sản;

b) Hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản;

c) Hành vi cưỡng đoạt tài sản;

d) Hành vi cướp giật tài sản;

đ) Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản:

e) Hành vi trộm cắp tài sản:

g) Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; .

h) Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản;

i) Hành vi tham ô tài sản;

k) Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

 

2. Bị coi là “đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản” nếu trước đó đã bị kết án về một trong các tội sau dây:

a) Tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS);

b) Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134 BLHS);

c) Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 BLHS);

d) Tội cướp giật tài sản (Điều 136 BLHS);

đ) Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137 BLHS);

e) Tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS);

g) Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS);

h) Tội lạm đụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS);

i) Tội tham ô tài sản (Điều 278 BLHS);

k) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280 BLHS);

 

Đối với các trường hợp bị kết án nhưng chưa được xoá án về một trong các tội phạm khác có tính chất chiếm đoạt tài sản (như tội chiếm đoạt vật liệu nổ (Điều 232 BLHS); tội chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ (Điều 233 BLHS)…) có bị coi là tình tiết định tội hay không sẽ được hướng dẫn sau.


4. Công văn số 360/TANDTC-PC ngày 12/10/2016 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc áp dụng tình tiết “b trốn đ chiếm đoạt tài sn” khi giải quyết vụ án ldụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Trong thời gian vừa qua, Tòa án nhân dân tối cao nhận được ý kiến phản ánh của một số Tòa án nhân dân về việc áp dụng tình tiết “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” khi giải quyết vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Về vấn đề này, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

 

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 thì “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” là một trong những yếu tố cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 không quy định cụ thể “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” là một trong những yếu tố cấu thành tội phạm này; tuy nhiên, có thể hiểu “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” cũng là một dạng hành vi khách quan phản ánh ý thức chủ quan của người phạm tội là “gian dối để chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 175. Bên cạnh đó, quá trình rà soát, sửa đổi Bộ luật hình sự năm 2015, các cơ quan có thẩm quyền cũng đã thống nhất bổ sung lại dấu hiệu này vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 để làm rõ hơn cấu thành tội phạm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Như vậy, việc khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 không quy định cụ thể dấu hiệu “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” không phải là quy định có lợi cho người phạm tội để áp dụng từ ngày 01-7-2016.


5. Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính

I. Về hình sự

6. Trường hợp người vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích vay vốn, tức là dùng vốn vay với mục đích ban đầu là đầu tư, kinh doanh, sản xuất nhưng sau đó tiêu xài, xây nhà cửa, mua sắm đồ dùng, phương tiện đi lại dẫn đến không trả được nợ thì có được coi là “sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản” và có bị xử lý trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 không?

 

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: “Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù cỏ điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”. So với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 của Bộ luật Hình sự năm 1999, điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm tình tiết “đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”. Như vậy, người vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích xin vay vốn nhưng không sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp (buôn lậu, rửa tiền, sản xuất, buôn bán ma túy…) mà dùng vốn vay để tiêu xài, xây nhà cửa, mua sắm đồ dùng, phương tiện đi lại…) dẫn đến khi đến hạn họ không có điều kiện, khả năng trả nợ thì không coi là sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản để xử lý trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trường hợp đến thời hạn trả lại tài sản mà họ có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả (có nhà, đất đai, tài sản nhưng chây ì, tẩu tán hoặc có hành vi chống đối lại việc kê biên, thu hồi tài sản…) thì bị xử lí trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015.


6. Thông báo số 07/TB-VC2-V1 ngày 29/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Nguyễn Thành Long, Nguyễn Thị Trang về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, bị hủy án để điều tra, xét xử sơ thẩm lại

Sơ lược nội dung: Từ năm 2012 cho đến ngày 31/3/2015, Công ty có vốn góp nhà nước 57,43%. Trong thời điểm từ tháng 11/2013 đến ngày 31/3/2015, bị cáo Nguyễn Thành Long đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty. Bị cáo Long đã phạm tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại Điều 278 Bộ luật Hình sự, còn giai đoạn từ tháng 4/2015 đến tháng 12/2015, Công ty đã thoái hết vốn nhà nước, do đó hành vi chiếm đoạt của bị cáo Long đã phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nhưng cấp sơ thẩm chỉ xét xử bị cáo Long về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là bỏ lọt tội danh và không xem xét tình tiết tăng nặng “Lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội” (điểm c khoản 1 Điều 48 BLHS) đối với bị cáo là thiếu sót.

Tải về

Thông báo số 07/TB-VC2-V1


7. Thông báo số 64/TB-VC2-V1 ngày 15/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Đỗ Thị Kiều Trang và đồng phạm, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” bị hủy án điều tra lại do bỏ lọt tội phạm

Sơ lược nội dung: Hành vi phạm tội của các bị cáo Đỗ Thị Huyền Trang, Phạm Thị Dần, Nguyễn Việt Hà, Võ Xuân Bình được thực hiện từ năm 2015 đến 2020 là thời điểm Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành; trong đó hành vi phạm tội và số tiền các bị cáo chiếm đoạt vào thời điểm Bộ luật Hình sự 1999 có hiệu lực thi hành. Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 thì hành vi bỏ ngoài số tiền kế toán của các bị cáo để chiếm đoạt số tiền của Công ty TNHH Trung Nghĩa là phạm tội “Tham ô tài sản”. Tòa án cấp sơ thẩm quy kết toàn bộ số tiền các bị cáo chiếm đoạt vào tội “Lmaj dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là chưa chính xác, bỏ lọt tội phạm đối với các bị cáo về tội “Tham ô tài sản”.

Tải về

Thông báo số 64/TB-VC2-V1


8. Thông báo số 28/TB-VC2-V1 ngày 29/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Phạm Lê Duy Hưng và đồng phạm, phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, bị hủy án để điều tra lại

Sơ lược nội dung: Bị cáo Hưng giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu và trực tiếp thực hiện tội phạm; còn Huy, Tuấn và Tú giữ vai trò người thực hiện và giúp sức. Hành vi của bị cáo Hưng và các bị cáo khác có 02 tình tiết định khung là “Có tổ chức” và “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng”. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa cấp phúc thẩm không áp dụng tình tiết định khung này đối với các bị cáo là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Ngoài ra, việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Phạm Lê Duy Hưng 18 tháng tù là quá nhẹ, Tòa án cấp phúc thẩm không những không khắc phục sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm mà còn sửa bản án sơ thẩm và tuyên phạt bị cáo Hưng 15 tháng tù là không có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.

Tải về

Thông báo số 28/TB-VC2-V1


9. Thông báo số 73/TB-VC2 ngày 02/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Nguyễn Thị Hồng Thắm, phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, bị hủy án để điều tra lại

Sơ lược nội dung: Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm, phúc thẩm truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Thị Hồng Thắm trong cả 06 lần phạm tội về cùng tội danh: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” mà không tách hành vi chiếm đoạt số tiền 100.000.000đ của Công ty Thu Hương vào ngày 12/4/2018 để truy tố, xét xử bị cáo Thắm thêm về tội: “Tham ô tài sản” là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, chưa đánh giá đúng hậu quả mà hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Tải về

Thông báo số 73/TB-VC2


10. Thông báo số 45/TB-VC2-V1 ngày 30/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Trương Đình Xuân, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng sửa một phần về trách nhiệm dân sự

Sơ lược nội dung: Sau khi nhận được tiền đến ngày 16/02/2019 là thời hạn trả nợ nhưng bị cáo không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản tiền của bà Hương, đây chính là thời điểm phạm tội. Đến ngày 16/7/2020, bị cáo Xuân bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Như vậy, bị cáo phải trả lãi cho bà Hương đối với số tiền 6.000.000.000đ kể từ ngày 16/02/2019 đến ngày 16/7/2020 (ngày có quyết định khởi tố vụ án) là 17 tháng, lãi suất 10%/năm = 0,83% tháng (6.000.000.000đ x 0,83%)/30 ngày x 17 tháng = 846.600.000đ.

Bản án sơ thẩm tính lãi suất trên số tiền chiếm đoạt đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/11/2021, tức là tính lãi suất trong thời gian khởi tố, truy tố, xét xử là không đúng, đã gây bất lợi cho bị cáo Xuân về phần bồi thường cho bị hại.

Tải về

Thông báo số 45/TB-VC2-V1


11. Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2019/HSST ngày 21/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

Sơ lược nội dung: Sau khi nhờ chị Lưu Đê L thuê hộ xe một chiếc xe ô tô tự lái hạng sang và nhận được chiếc Mercedes – Benz, BKS 30A-775, bị cáo đã sử dụng một thời gian sau đó mang đi cầm cố cho người khác lấy tiền sử dụng vào mục đích cá nhân rồi bỏ trốn. Hành vi của bị cáo thể hiện sự táo bạo, liều lĩnh, coi thường pháp luật, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đẩy người bị hại vào tình trạng không chỉ tổn hại về kinh tế mà còn hoang mang lo lắng về tinh thần và gây mất trật tự trị an chung cho xã hội, vì vậy cần phải bị xử phạt nghiêm khắc.

Tải về

Bản án số 27/2019/HSST


12. Bản án hình sự phúc thẩm số 301/2024/HSPT ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân ân cấp cao tại Hà Nội

Sơ lược nội dung: Đỗ Tiến P là nhân viên quản lý bán hàng của H1 kinh doanh Kamifarm – chợ N (Cửa hàng K1). Quá trình làm việc, P được giao phụ trách quản lý việc thu, chi và báo cáo theo định kỳ hoạt động kinh doanh, doanh số của cửa hàng. Từ tháng 11 năm 2021 đến tháng 5 năm 2022, lợi dụng sự tin tưởng và quản lý không chặt chẽ của chủ cửa hàng, P đã có hành vi báo cáco gian dối về thu chi của cửa hàng K1 để chiếm đoạt tổng số tiền 775.769.879 đồng. Số tiền này P đã sử dụng chi tiêu hết và chưa bồi thường cho cửa hàng K1. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tải về

Bản án số 301/2024/HSPT


13. Quyết định giám đốc thẩm số 21/2024/HS-GĐT ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân tối cao

Sơ lược nội dung: Đối với số tiền 28.000.000 đồng mà ngày 26/01/2018 Trương Thị Mỹ L nộp cho Cơ quan điều tra để trả cho bà Vũ Thị P, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là tiền khắc phục hậu quả nên đã trừ số tiền này trong phần trách nhiệm dân sự của L phải bồi thường cho bà P, trong khi Tòa án cấp phúc thẩm lại xác định đây là tiền thanh toán khoản nợ còn lại của giai đoạn 2. Việc làm rõ số tiền này là căn cứ để xác định phần trách nhiệm dân sự mà Trương Thị Mỹ L còn phải trả cho bà P.

Như vậy, cần phải hủy Bản án hình sự phúc thẩm về phần trách nhiệm dân sự để làm rõ số tiền mà Trương Thị Mỹ L đã chiếm đoạt của bà Vũ Thị P, làm rõ số tiền 28.000.000 đồng là tiền thanh toán nợ còn lại của giai đoạn 2 hay tiền khắc phục hậu quả, nhằm xác định chính xác trách nhiệm dân sự trả tiền mua hàng của L đối với bà P, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bà P.

Tải về

Quyết định giám đốc thẩm số 21/2024/HS-GĐT


Các tổng hợp nội dung có liên quan:

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Cướp tài sản

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Trộm cắp tài sản

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Cưỡng đoạt tài sản

 

Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội Tham ô tài sản

—————————————————–

CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)
– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
– Điện thoại: 0941.767.076
– Email: amilawfirmdn@gmail.com
– Website: https://amilawfirm.com/
– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm

 

Bài viết liên quan