Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là tội danh đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất phức tạp trong việc nhận diện dấu hiệu cấu thành và áp dụng khung hình phạt. Bên cạnh quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, thực tiễn xét xử đòi hỏi phải vận dụng đồng thời nhiều văn bản hướng dẫn và án lệ liên quan. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.
1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ ngày 19/4/1989 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự
II- VỀ KHOẢN 2 VÀ KHOẢN 3 ĐIỀU 18 BLHS
A- Về khoản 2 điều 38 BLHS.
Khoản 2 điều 38 BLHS quy định là “khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi trong bản án”.
Thực tiễn xét xử trong những năm qua cho thấy những tình tiết sau đây thường được nhiều Tòa án coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
[…]
3- Những tình tiết đã là yếu tố định tội (Thí dụ: giết người do vượt quá thời hạn phòng vệ chính đáng quy định tại điều 102 BLHS) hoặc khung hình phạt (Thí dụ: tình tiết tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân quy định tại khoản 3 điều 101 hoặc khoản 4 điều 109 BLHS), thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ của chính tội đó nữa.
V- VỀ THƯƠNG TÍCH NẶNG HOẶC TỔN HẠI NẶNG CHO SỨC KHỎE (ĐIỀU 109 VÀ ĐIỀU 110 BLHS)
Trong Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã sơ bộ hướng dẫn về sự phân biệt giữa thương tích nặng hoặc tổn hại nặng cho sức khỏe với các loại thương tích khác. Nay cần hướng dẫn rõ thêm về thương tích hoặc tổn hại nặng cho sức khỏe (Dưới đây gọi chung là thương tích nặng) như sau:
Thực tiễn xét xử cho thấy rằng thương tích nặng là các thương tích nguy hiểm cho tính mạng, gây mù mắt, điếc tai, làm mất một cơ quan nào đó của cơ thể hoặc làm mất chức năng của cơ quan đó, gây bệnh tâm thần, gây trụy thai, gây xấu xí diện mạo, gây thương tích với tỷ lệ trên 30%.
1- Thương tích gây nguy hiểm cho tính mạng: Đây là các loại thương tích đe dọa làm nạn nhân bị thiệt mạng ngay khi gây thương tích hoặc nếu không được cứu chữa kịp thời thì thông thường là nạn nhân phải bị thiệt mạng. Nếu do được cứu chữa kịp thởi mà nạn nhân không bị thiệt mạng, thậm chí không bị tổn hai nặng đáng kể đến sức khỏe, thì thương tích vẫn được coi là nguy hiểm cho tính mạng vào lúc mới gây thương tích.
Thực tiễn xét xử cho thấy các loại thương tích sau đây được coi là thương tích nguy hiểm cho tính mạng:
a) Thương tích thủng, dập, vỡ xương sọ, kể cả trường hợp không gây tổn thương cho não.
b) Chấn động não nặng với các triệu chứng nguy hiểm cho tính mạng.
c) Thương tích thủng lớn lồng ngực, ổ bụng kể cả trường hợp không gây tổn thương cho các cơ quan bên trong.
d) Thương tích thủng, dập, vỡ cột sống, kể cả trường hợp không gây tổn hại đến tủy sống.
đ) Gãy xương lớn như xương đùi, vai, hông, hố chậu…
e) Tổn thương các mạch máu lớn như động mạch chủ, động mạch cổ, tĩnh mạch vai, tỉnh mạch hông, tỉnh mạch quai xanh…
g) Thương tích thủng, vỡ thực quản, thanh quản.
h) Thương tích dập, vỡ, thủng các cơ quan trong lồng ngực, trong ổ bụng với các triệu chứng đe dọa tính mạng (xuất huyết, choáng nặng..).
i) Các thương tích gây choáng nặng, mất nhiều máu do bị tắc mạch máu.
k) Nhiễm độc nặng.
l) Bỏng nặng.
2- Thương tích làm mù mắt: Mù mắt có nghĩa là khi nạn nhân hoàn toàn không trông thấy gì hoặc không phân biệt được hình dáng của một vật khác ở cự ly rất gần. Người bị mù một mắt được xác định tỷ lệ thương tật 41%, cho nên bị mù một mắt đã được coi là bị thương tích nặng.
3- Thương tích làm điếc tai: Điếc tai nghĩa là hoàn toàn không nghe thấy gì hoặc khi nạn nhân không nghe tiếng nói to ở khoảng cách rất gần (từ 3 đến 5cm). Người điếc 1 tai được xác định tỷ lệ thương tật khoảng 21-25%, cho nên bị điếc một tai thì chưa phải là bị thương thích nặng.
4- Thương tích làm mất một cơ quan của cơ thể hoặc làm mất chức năng của cơ quan đó như các trường hợp:
– Cụt chân, tay hoặc liệt chân, tay.
– Mất khả năng sinh đẻ (khả năng giao hợp, khả năng thụ thai, khả năng mang thai và sinh con).
– Mất tiếng nói…
5- Thương tích gây bệnh tâm thần.
6- Thương tích gây trụy thai.
7- Thương tích gây xấu xí diện mạo.
8- Các thương tích khác, tổn hại khác cho sức khỏe mà nạn nhân được xác định tỷ lệ thuơng tật trên 30%.
VI- VỀ THƯƠNG TÍCH DẪN ĐẾN CHẾT NGƯỜI
Cần hiểu nội dung điều 109 BLHS như sau:
– Kẻ gây thương tích nặng bị kết án theo khoản 2 điều 109 BLHS.
– Kẻ gây cố tật nặng bị kết án theo khoản 3 điều 109 BLHS.
– Kẻ gây thương tích dẫn đến chết người bị kết án theo khoản 3 điều 109 BLHS.
– Kẻ gây thương tích không nặng, không gây cố tật nặng, không dẫn đến chết người, thì bị kết án theo khoản 1 điều 109 BLHS.
Thương tích dẫn đến chết người trước hết là thương tích nặng làm cho nạn nhân chết vì thương tích nặng này, nghĩa là giữa thương tích và cái chết của nạn nhân có mối quan hệ nhân quả. Thí dụ: đâm vào hông nạn nhân làm nạn nhân bị đứt tỉnh mạch hông và do bị mất nhiều máu nên nạn nhân bị chết.
Cũng coi là cố ý gây thương tích dẫn đến chết người trường hợp gây thương tích không phải là thương tích nặng, nhưng vì nạn nhân là người quá già yếu, có bệnh nặng, việc gây thương tích làm cho bị chết sớm hơn, nếu không bị gây thương tích thì nạn nhân chưa chết.
VII– VỀ VIỆC CHUYỂN HÓA TỪ MỘT SỐ HÌNH THỨC CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THÀNH CƯỚP TÀI SẢN
c) Nếu việc dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) là nhằm để tẩu thoát (kể cả khi tẩu thoát cùng với tài sản đã chiếm đoạt được), thì không kết án kẻ phạm tội về cướp tài sản…, và tùy trường hợp mà kết án họ về tội phạm xảy ra trước khi dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) và coi việc dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) là tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (tình tiết định khung hình phạt cao hơn theo các điều 131, 132, 154, 155 BLHS). Nếu việc dùng vũ lực dẫn tới hậu quả làm chết người thì kẻ phạm tội bị kết án thêm về tội giết người. Nếu hậu quả của việc dùng vũ lực là gây cố tật nặng hoặc gây thương tích dẫn đến chết người thì kẻ phạm tội bị kết án thêm về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 điều 109 BLHS.
3. Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự
1. Về tình tiết “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự.
“Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” là hậu quả của hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân để lại trạng thái bất thường, không thể chữa được cho một bộ phận cơ thể của nạn nhân với tỷ lệ thương tật dưới 11% khi thuộc một trong các trường hợp: làm mất một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm mất chức năng một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm giảm chức năng hoạt động của một bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của nạn nhân.
Có thể lấy một số trường hợp sau đây trong Bản quy định tiêu chuẩn thương tật (ban hành kèm theo Thông tư số 12/TTLB ngày 26/7/1995 của Liên Bộ Y tế, Lao động – Thương binh và Xã hội “quy định về tiêu chuẩn thương tật và tiêu chuẩn bệnh tật mới”) để làm ví dụ:
a. Về trường hợp làm mất một bộ phận cơ thể của nạn nhân
Ví dụ: gây thương tích làm mất đốt ngoài (đốt 2) của ngón tay cái hoặc làm mất hai đốt ngoài (2+3) của ngón tay trỏ có tỷ lệ thương tật từ 8% đến 10% (các điểm a và b mục 5, phần IV, Chương I);
b. Về trường hợp làm mất chức năng một bộ phận cơ thể của nạn nhân
Ví dụ: gây thương tích làm cứng khớp các khớp liên đốt ngón tay giữa (III) ở tư thế bất lợi có tỷ lệ thương tật từ 7% đến 9% (điểm c mục 5, phần IV, Chương I);
c. Về trường hợp làm giảm chức năng một bộ phận cơ thể của nạn nhân
Ví dụ: gây thương tích làm một mắt giảm thì lực từ 4/10 đến 5/10, mắt kia bình thường có tỷ lệ thương tật từ 8% đến 10% (mục 7, phần II, Chương VIII);
d. Về trường hợp làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của nạn nhân
Ví dụ: gây thương tích để lại sẹo to, xấu ở vùng trán, thái dương có tỷ lệ thương tật từ 6% đến 10% (điểm b, mục 1, phần I, Chương IV).
4. Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự
3. Về một số tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 104 của BLHS
3.1. Tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS
“Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS là trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Ví dụ: Theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì dao nhọn là phương tiện nguy hiểm và đã được A sử dụng gây thương tích cho B thì thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm”.
3.2 Tình tiết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 của BLHS
a. “Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 của BLHS được hiểu là trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người từ hai lần trở lên hoặc của hai người trở lên (có thể một lần, có thể nhiều lần đối với mỗi người) và trong các lần đó chưa có lần nào bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu xử lý hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” để xét xử bị cáo theo khoản 1, khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 104 của BLHS được thực hiện theo hướng dẫn tại các điểm b, c và d tiểu mục 3.2 này.
b. Chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 của BLHS để xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 104 của BLHS trong các trường hợp sau đây:
b.1. Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người từ hai lần trở lên mà mỗi lần tỷ lệ thương tật dưới 11%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả lần từ 11% trở lên.
Trường hợp trong các lần đó chỉ có một lần tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%, còn các lần khác tỷ lệ thương tật đều dưới 11% thì bị cáo cũng chỉ bị xét xử theo khoản 1 Điều 104 của BLHS.
b.2. Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của hai người trở lên (có thể một lần, có thể nhiều lần đối với mỗi người) mà mỗi lần tỷ lệ thương tật dưới 11%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả các lần từ 11% trở lên.
Trường hợp trong các lần đó chỉ có một người một lần tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%, còn các lần khác tỷ lệ thương tật đều dưới 11% thì bị cáo cũng chỉ bị xét xử theo khoản 1 Điều 104 của BLHS.
c. Chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 của BLHS để xét xử bị cáo theo khoản 2 Điều 104 của BLHS trong các trường hợp sau đây:
c.1. Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người từ hai lần trở lên mà có ít nhất hai lần tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%.
Trường hợp trong các lần đó chỉ có một lần tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%, còn các lần khác tỷ lệ thương tật đều dưới 31% thì bị cáo cũng chỉ bị xét xử theo khoản 2 Điều 104 của BLHS.
c.2. Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của hai người trở lên (có thể một lần, có thể nhiều lần đối với mỗi người) mà trong đó có ít nhất hai người và mỗi người một lần tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%.
Trường hợp trong các lần đó chỉ có một người một lần tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%, còn các lần khác tỷ lệ thương tật đều dưới 31% thì bị cáo cũng chị bị xét xử theo khoản 2 Điều 104 củ BLHS.
d. Chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 của BLHS để xét xử bị cáo cũng chỉ bị xét xử theo khoản 2 Điều 104 của BLHS.
d.1. Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người từ hai lần trở lên mà có ít nhất hai lần tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.
Trường hợp trong các lần đó chỉ có một lần tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên, còn các lần khác tỷ lệ thương tật đều dưới 61% thì bị cáo cũng chỉ bị xét xử theo khoản 3 Điều 104 của BLHS.
d.2. Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của hai người trở lên (có thể một lần, có thể nhiều lần đối với mỗi người) mà trong đó có ít nhất hai người và mỗi người một lần tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.
Trường hợp trong các lần đó chỉ có một người một lần tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên, còn các lần khác tỷ lệ thương tật đều dưới 61% thì bị cáo cũng chỉ bị xét xử theo khoản 3 Điều 104 của BLHS.
3.3. Tình tiết “đối với thầy giáo, cô giáo của mình” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 104 của BLHS
a. Chỉ áp dụng tình tiết “đối với thầy giáo, cô giáo của mình” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 104 của BLHS để xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 104 của BLHS khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
a.1. Nạn nhân phải là thầy giáo, cô giáo tức là người đã hoặc đang làm công tác giảng dạy theo biên chế hoặc theo hợp đồng tại cơ quan, tổ chức có chức năng giáo dục, đào tạo, dạy nghề được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;
a.2. Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân là vì lý do thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, dạy nghề của họ đối với bị cáo, không phân biệt nhiệm vụ đó đã được thực hiện hay đang được thực hiện và không kể thời gian dài hay ngắn;
a.3. Tỷ lệ thương tật của nạn nhân dưới 11%.
b. Chỉ áp dụng tình tiết “đối với thầy giáo, cô giáo của mình” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 104 của BLHS để xét xử bị cáo theo khoản 2 Điều 104 của BLHS khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
b.1. Các điều kiện được hướng dẫn tại các điểm a.1 và a.2 tiểu mục 3.3 này;
b.2. Tỷ lệ thương tật của nạn nhân từ 11% đến 30%.
c. Chỉ áp dụng tình tiết “đối với thầy giáo, cô giáo của mình” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 104 của BLHS để xét xử bị cáo theo khoản 3 Điều 104 của BLHS khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
c.1. Các điều kiện được hướng dẫn tại các điểm a.1 và a.2 tiểu mục 3.3 này;
c.2. Tỷ lệ thương tật của nạn nhân từ 31% đến 60%.
5. Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình
Điều 8. Vi phạm quy định về trật tự công cộng
[…]
5. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 37 Nghị định này;
[…]
13. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, d, đ và g khoản 2; các điểm a, b, c, d, đ, g và h khoản 4; các điểm a, b, c và g khoản 5; khoản 6; điểm a khoản 10 Điều này;
[…]
14. Biện pháp khắc phục hậu quả:
[…]
đ) Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 1, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 và điểm a khoản 5 Điều này.
6. Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải đáp các vấn đề nghiệp vụ
I. HÌNH SỰ
2. Khi áp dụng Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999, việc so sánh Bộ luật hình sự năm 1999 với Bộ luật hình sự năm 1985 để xác định trường hợp nào thuộc quy định tại Khoản 2 hoặc Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 được thực hiện như thế nào? So sánh các Điều luật tương ứng quy định trong hai Bộ luật hình sự hay so sánh các Khoản cụ thể trong các Điều luật tương ứng quy định trong hai Bộ luật hình sự này?
Trong các Khoản 1, 2 và 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Điều luật được áp dụng…”, “Điều luật quy định một tội phạm…”, “Điều luật xoá bỏ một tội phạm…”. Khác với Điều 7, trong Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định các loại tội phạm không dùng “Điều luật” mà dùng “khung hình phạt đối với tội ấy…”; do đó, việc so sánh Bộ luật hình sự năm 1999 với Bộ luật hình sự năm 1985 để xác định trường hợp nào thuộc quy định tại Khoản 2 hoặc Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 được thực hiện bằng việc so sánh các Điều luật tương ứng quy định trong hai Bộ luật hình sự. Vấn đề này đã được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số 02/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA ngày 5-7-2000 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an “Hướng dẫn thi hành Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 và Mục 2 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21-12-1999 của Quốc hội” (sau đây gọi tắt và viết tắt là TTLT số 02). Ngoài ra, việc so sánh phải bằng các Điều luật tương ứng quy định trong hai Bộ luật hình sự, chứ không phải bằng các Khoản cụ thể trong các Điều luật tương ứng, bởi vì trong nhiều Điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định nhiều Khoản hơn trong Điều luật tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1985. Ví dụ: “Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” Điều 102 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định 1 Khoản, còn Điều 96 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hai Khoản hoặc “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác” (không thuộc trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, không thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng) Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định 3 Khoản, còn Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định 4 Khoản. Nếu so sánh theo Khoản thì trong các trường hợp này không thể so sánh được.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy bằng việc so sánh các Điều luật tương ứng thì Điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 nhẹ hơn, nhưng Điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 có quy định khác có lợi hơn hoặc ngược lại; do đó, tại Điểm b7 Mục 2 và tại Điểm d7 Mục 3 TTLT số 02 đã hướng dẫn cụ thể việc áp dụng pháp luật trong các trường hợp này.
Hai ví dụ sau đây minh hoạ việc so sánh trên:
[…]
b. Về tội cố ý gây thương tích: So sánh Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 với Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 nếu theo Điều luật, rõ ràng Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 nhẹ hơn; do đó, đối với hành vi cố ý gây thương tích cho người khác được thực hiện trước ngày 1-7-2000 mà tỷ lệ thương tật dưới 11% nhưng thuộc trường hợp có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm thì phải áp dụng Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 để xét xử. Tuy nhiên, trước khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành thì phải áp dụng Khoản 2 Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 để xét xử, nhưng nay theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 trường hợp này thuộc quy định tại Khoản 1; do đó, cần áp dụng tinh thần quy định này có lợi cho người phạm tội, cho nên chỉ được áp dụng Khoản 1 Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 để xét xử.
6. Khi xét xử vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích, trong đó bị cáo là chồng (hoặc là vợ), người bị hại là vợ (hoặc là chồng) thì có buộc người chồng (hoặc người vợ) phải bồi thường thiệt hại cho người vợ (hoặc người chồng) do sức khoẻ bị xâm phạm hay không?
Về nguyên tắc theo quy định tại Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999, các Điều 609, 610 và 613 Bộ luật dân sự thì người chồng (hoặc người vợ) phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng hình sự thì việc Toà án có buộc người chồng (hoặc người vợ) phải bồi thường thiệt hại cho người vợ (hoặc người chồng) do sức khoẻ bị xâm phạm hay không là phụ thuộc vào người bị hại có yêu cầu hay không. Trong trường hợp người bị hại là người vợ (hoặc người chồng) có yêu cầu thì Toà án cần buộc người chồng (hoặc người vợ) có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người vợ (hoặc người chồng) do sức khoẻ bị xâm phạm. Tuy nhiên, trong trường hợp này cần chú ý là quan hệ giữa bị cáo và người bị hại là vợ chồng cho nên còn bị Điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình; do đó, khi quyết định việc bồi thường thiệt hại cần chú ý đến các quy định của Luật hôn nhân và gia đình về trách nhiệm, nghĩa vụ của vợ, chồng; về chế độ tài sản riêng, tài sản chung của vợ, chồng…
7. Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử
14. Do có mâu thuẫn từ trước nên một nhóm đối tượng bàn bạc chuẩn bị các loại hung khí như búa đinh, dao phay, kiếm, tuýt sắt dài nhằm mục đích tấn công gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác. Khi đang trên đường đi gây án thì bị phát hiện và được ngăn chặn kịp thời. Trường hợp này nhóm đối tượng trên có bị xử lý hình sự về tội cố ý gây thương tích không?
Khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.
Quy định này không bắt buộc người phạm tội phải hoàn thành hành vi khách quan là gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của người khác và cũng không bắt buộc phải có hậu quả xảy ra. Người có hành vi chuẩn bị một trong các loại công cụ, phương tiện phạm tội như: vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì đã đủ dấu hiệu về mặt hành vi khách quan để xử lý hình sự người phạm tội.
Do đó, đối với trường hợp nêu trên thì các đối tượng mặc dù chưa thực hiện hành vi gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng đã có sự bàn bạc thống nhất, câu kết chặt chẽ với nhau và đã hoàn thành việc chuẩn bị các loại hung khí nguy hiểm nhằm mục đích tấn công gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Do đó, các đối tượng này có đủ dấu hiệu về mặt hành vi khách quan theo quy định tại khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
8. Công văn số 485/TANDTC-PC ngày 31/12/2021 của Tòa án nhân dân tối cao về việc trả lời kiến nghị cử tri gửi tới Quốc hội trước kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV
3. Đề nghị hướng dẫn trường hợp trong vụ án hình sự cố ý gây thương tích, bị hại từ chối không đi giám định thương tích thì không có căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Bên cạnh đó, trường hợp giám định lại nhưng Kết luận của Trung tâm giám định pháp y là khác nhau; sau khi giám định thì căn cứ vào thương tích tạm thời hay thương tích để xác định tỷ lệ thương tật giữa các khung hình phạt cũng chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể.
Trường hợp bị hại từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không có lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể áp dụng biện pháp dẫn giải (khoản 2 Điều 127 của Bộ luật Tố tụng hình sự); trường hợp có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do người trưng cầu giám định quyết định theo quy định tại khoản 3 Điều 211 của Bộ luật Tố tụng hình sự; trường hợp đặc biệt thì giải quyết theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
4. Đề nghị hướng dẫn định tội danh giữa tội “Giết người” với tội “Cố ý gây thương tích nhiều trường hợp tỷ lệ thương tật thấp nhưng dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào những khu vực nguy hiểm trên cơ thể con người; giữa các địa phương có quan điểm khác nhau, có nơi xử lý về tội Giết người, có nơi xử lý về tội Cố ý gây thương tích. Hiện nay, việc phân biệt chủ yếu dựa trên cơ sở mặt chủ quan của người thực hiện hành vi phạm tội (đây là yếu tố rất khó xác định và sẽ tạo kẽ hở dẫn đến tình trạng xử lý không đúng tính chất mức độ của hành vi phạm tội).
Hiện nay, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành 04 Án lệ có liên quan đến nội dung này (Án lệ số 01/2016/AL, Án lệ số 17/2018/AL, Án lệ số 18/2018/AL và Án lệ số 19/2018/AL). Trong thời gian tới, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, giám đốc việc xét xử, Tòa án nhân dân tối cao sẽ tiếp tục nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng Điều 123 và Điều 134 của Bộ luật Hình sự nếu xét thấy cần thiết.
9. Công văn số 4962/VKSTC-V14 ngày 15/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải đáp khó khăn, vướng mắc, kiến nghị, đề xuất của các đơn vị, VKS các cấp qua sơ kết, giao ban công tác 9 tháng đầu năm 2023
A. VỀ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC
7. Đề nghị hướng dẫn áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” trong việc định tội Giết người và tội cố ý gây thương tích.
Trả lời:
Tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” là tình tiết “định tính”. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, để áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định, đánh giá toàn diện về nguyên nhân, động cơ, mục đích, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội; tính chất, mức độ, phương thức, hành động thực hiện hành vi phạm tội; thái độ, ý thức chủ quan của người phạm tội…
Theo quy định của pháp luật, liên ngành trung ương không có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn các quy định của BLHS năm 2015. Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã lựa chọn và ban hành Án lệ số 17/2018/AL ngày 17/10/2018 trong đó giải thích về tình tiết “có tính chất côn đồ”; VKS các địa phương cần nghiên cứu, áp dụng thực hiện; ngoài ra, đối với các trường hợp chưa được hướng dẫn thì chủ động phối hợp với Tòa án cùng cấp thực hiện quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ để gửi đề xuất bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án chứa đựng lập luận, phán quyết về việc áp dụng tình tiết này để TAND tối cao xem xét, phát triển thành án lệ.
B. VỀ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT CỦA CÁC ĐƠN VỊ, VIỆN KIỂM SÁT CẤP DƯỚI
3. Đề nghị liên ngành Trung ương ban hành văn bản hướng dẫn việc áp dụng pháp luật trong công tác đấu tranh, xử lý các vụ án, vụ việc, như: Việc áp dụng Án lệ số 47 về tội Giết người, Án lệ số 57 về áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” và “phạm tội 02 lần trở lên”; làm giả tài liệu cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả thực hiện hành vi trái pháp luật; việc xác định đồng phạm trong vụ án Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Giết người, cố ý gây thương tích; hành vi tàng trữ ma túy thu giữ được khi đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; trong giải quyết án về tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc; hành vi tham ô, đưa hoặc nhận hối lộ xảy ra trong các tổ chức, doanh nghiệp tư nhân; truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân thương mại; công tác giám định tư pháp.
Trả lời:
– Việc đề nghị liên ngành có văn bản hướng dẫn áp dụng các án lệ và hầu hết các vướng mắc về pháp luật nội dung nêu trên là không hợp lý, việc ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng các án lệ và các vướng mắc về pháp luật nội dung thuộc thẩm quyền của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.
– Đối với nội dung đề nghị hướng dẫn về hành vi tham ô, đưa hoặc nhận hối lộ xảy ra trong các tổ chức, doanh nghiệp tư nhân: VKSND tối cao cũng đã có Công văn số 4115/VKSTC-V14 ngày 28/9/2023 gửi TAND tối cao đề nghị hướng dẫn xử lý đối với các tội phạm tham nhũng trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước. Ngày 03/10/2023, TAND tối cao đã có Công văn số 196/TANDTC-PC thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử, trong đó, có giải đáp về nội dung này.
– Đối với các nội dung khác: đã trả lời ở các tiểu mục 7, 8, 10,12, 14 Mục I Phần A Công văn này.
10. Công văn 01/TANDTC-PC ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự
1.2. Về hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
a) Người thực hiện hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới 11% và không có tình tiết định tội khác quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sựthì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự quy định tại Điều 304 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp này, xác định tư cách tham gia tố tụng của người bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe là nguyên đơn dân sự. Nếu người thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả thì được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
b) Người thực hiện hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên 11% thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về 02 tội; Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự(Điều 304) và Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác(Điều 134) của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Trường hợp này, không xác định hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao là tình tiết dùng vũ khí để định khung hình phạt đối với trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2, điểm c và d khoản 3, điểm d và đ khoản 4, điểm b khoản 5 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
c) Người thực hiện hành vi chuẩn bị dao có tính sát thương cao nhằm mục đích gây thương tích, tổn hại sức khỏe của người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự quy định tại Điều 304 của Bộ luật Hình sự, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
11. Công văn số 113/TANDTC-PC ngày 31/12/2025 của Tòa án nhân dân tối cao về việc trả lời kiến nghị của cử tri gửi tới Quốc hội trước kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV
2. Nội dung kiến nghị của cử tri tỉnh Vĩnh Long nêu “Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định “có tính chất côn đồ”, “hung khí nguy hiểm”, “thủ đoạn có khả năng gây hại cho nhiều người”. Hiện nay, chưa có hướng dẫn cụ thể thế nào là tình tiết “có tính chất côn đồ”, “hung khí nguy hiểm”, “thủ đoạn có khả năng gây hại cho nhiều người”. Đề nghị hướng dẫn cụ thể để thống nhất thực hiện.” Về nội dung kiến nghị nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao xin trả lời như sau:
– Đối với tình tiết “có tính chất côn đồ”: tại khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự đã có hướng dẫn là: “trường hợp người phạm tội có thái độ coi thường pháp luật, thường xuyên gây rối an ninh trật tự, sẵn sàng dùng vũ lực, có hành vi hung hãn coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác một cách vô cớ hoặc do bực phát hoặc vì lý do nhỏ nhặt sẵn sàng dùng vũ lực hoặc thường xuyên thực hiện hành vi uy hiếp người khác phải khuất phục mình.”
Trong thời gian tới, Tòa án nhân dân tối cao sẽ tiếp tục rà soát thực tiễn thi hành Điều 134 của Bộ luật Hình sự để ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng, thống nhất pháp luật, nếu xét thấy cần thiết.
– Đối với tình tiết “hung khí nguy hiểm”: tại mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự đã có hướng dẫn như sau: “Dùng hung khí nguy hiểm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS là trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần 1 Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”.
Trong thời gian tới, liên quan đến tình tiết này, Tòa án nhân dân tối cao sẽ tiếp tục rà soát để ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng, thống nhất pháp luật, nếu xét thấy cần thiết.
– Đối với tình tiết “thủ đoạn có khả năng gây hại cho nhiều người”, trong thời gian tới, thông qua công tác tổng kết thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân tối cao sẽ tiếp tục nghiên cứu, ban hành văn bản hướng dẫn, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử đối với Điều 134 của Bộ luật Hình sự, nếu xét thấy cần thiết.
12. Án lệ số 01/2016 ngày 16/4/2016 về vụ án “Giết người”
Khái quát nội dung của án lệ:
Trong vụ án có đồng phạm, nếu chứng minh được ý thức chủ quan của người chủ mưu là chỉ thuê người khác gây thương tích cho người bị hại mà không có ý định tước đoạt tính mạng của họ (người chủ mưu chỉ yêu cầu gây thương tích ở chân, tay của người bị hại mà không yêu cầu tấn công vào các phần trọng yếu của cơ thể có khả năng dẫn đến chết người); người thực hành cũng đã thực hiện theo đúng yêu cầu của người chủ mưu; việc nạn nhân bị chết nằm ngoài ý thức chủ quan của người chủ mưu thì người chủ mưu phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung là “gây thương tích dẫn đến chết người”.
13. Thông báo số 72/TB-VC2-V1 ngày 20/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Nguyễn Văn Bảo, phạm tội “Cố ý gây thương tích” bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung: Bị cáo Nguyễn Văn Bảo đã có hành vi dùng dao đâm, chém nhiều nhát vào nhiều vùng trọng yếu trên cơ thể của anh Lê Viết Tuấn, hậu quả người bị hại không chết mà chỉ bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 55% là ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi của Nguyễn Văn Bảo là cố ý nhằm tước đoạt mạng sống của anh Tuấn nên đã cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các cơ quan tiến hành tố tụng huyện N., tỉnh Q. truy tố, xét xử bị cáo Bảo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đánh giá không đúng tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc xác định tội danh và áp dụng pháp luật.
Tải về
14. Thông báo số 73/TB-VC2-V1 ngày 20/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Trần Quyết Thắng, phạm tội “Cố ý gây thương tích” bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung: Bị cáo Trần Quyết Thắng đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là con dao Thái Lan đâm hai nhát vào người anh Diệp Hải Toàn, hậu quả bị hại không chết mà chỉ bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 57% là ngoài ý muốn của bị cáo. Trần Quyết Thắng và người bị hại Diệp Hải Toàn vốn không quen biết và cũng không có mâu thuẫn từ trước, nhưng chỉ vì anh Toàn có hành vì dùng tay chỉ vào mặt Thắng hỏi “mày mới đánh Vương, thằng nào đánh anh Vương” mà Thắng đã ngay lập tức rút dao để đâm anh Toàn, đã thể hiện sự manh động, côn đồ của bị cáo. Do đó, hành vi trên cần được điều tra, truy tố, xét xử về tội “Giết người” với tình tiết định khung có “Có tính chất cồn đồ” theo Khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015 mới phù hợp.
Tải về
15. Thông báo số 89/TB-VC2-V1 ngày 08/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà rút kinh nghiệm đối với Nẵng vụ án Nguyễn Bá Sửu bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung: Bị cáo Sửu đã dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào vùng đầu là nơi trọng yếu trên cơ thể đã thể hiện rõ ý thức, mong muốn tước đoạt tính mạng của người khác. Các bị hại không chết là do được cấp cứu kịp thời, nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Hành vi của bị cáo Nguyễn Bá Sửu đã cấu thành tội “Giết người”, bản án sơ thẩm và phúc thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là không đúng tội danh bị cáo đã thực hiện. Do việc truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Bá Sửu không đúng tội danh nên dẫn đến việc áp dụng hình phạt đối với bị cáo là quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện.
Tải về
16. Thông báo số 92/TB-VC2-V1 ngày 09/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Nguyễn Hoài Châu, phạm tội “Cố ý gây thương tích” bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung: Hành vi dùng hung khí nguy hiểm chém vào vị trí xung yếu (đầu) của anh Thất, buộc bị cáo phải biết có khả năng dẫn đến chết người, đã thỏa mãn dấu hiệu của tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự.Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm và phúc thẩm xét xử Nguyễn Hoài Châu về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 Bộ luật hình sự là không đúng tội danh. Vì vậy phải hủy Bản án hình sự phúc thẩm và Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để điều tra lại đối với Nguyễn Hoài Châu theo quy định của pháp luật.
Tải về
17. Thông báo số 05/TB-VC2-V1 ngày 16/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Đoàn Văn Nhựt cùng các đồng phạm, phạm tội “Cố ý gây thương tích” bị hủy án điều tra lại
Sơ lược nội dung: Hành vi của Đoàn Văn Nhựt là rất nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc tổ chức sinh nhật, bị cáo đã dùng hung khí là con dao rựa chém vào vùng đỉnh đầu của anh Sơn. Bị hại không chết là do may mắn vì đã kịp thời đưa tay lên che đầu cản lực chém của bị cáo nhưng vẫn bị vết thương đỉnh chẩm 12cm với tỷ lệ thương tích 07% và đút gần lìa cổ tay trái 35%. Do đó, hành vi của bị cáo Nhựt đã cấu thành tội “Giết người”.
Tải về
18. Thông báo số 15/TB-VC2-V1 ngày 09/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Nguyễn Xuân Thi, phạm tội “Cố ý gây thương tích” bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung: Vụ án đã từng bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tuyên hủy án để điều tra lại với cùng những lý do tương tự thể hiện tại Quyết định giám đốc thẩm số 01/2017/HS-GĐT, ngày 11/12/2017 nhưng sau khi vụ án được điều tra, xét xử lại, Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm lại không khắc phục những vi phạm đã được nêu ra trong quyết định trên dẫn đến việc bị cấp giám đốc thẩm tiếp tục hủy án lần hai.
Tải về
19. Thông báo số 61/TB-VC2-V1 ngày 17/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Y Yô Han phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Sơ lược nội dung: Xét thấy, bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm là cây gỗ chắc, cứng, có cạnh với kích thước tương đối lớn (dài 133 cm, đầu lớn KT 7,5×4,5×3 cm, đầu nhỏ KT 4,5x3x3cm) đánh vào vùng đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại. Với vết thương như trên hoàn toàn có thể gây tử vong cho bị hại nếu không được cứu chữa kịp thời. Sau khi gây án bị cáo thấy rõ bị hại gục xuống tại chỗ bất tỉnh nhưng vẫn bỏ về không tham gia cứu chữa. Hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội “Giết người”, cấp sơ thẩm và phúc thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là không đúng tội danh bị cáo đã thực hiện.
Tải về
20. Thông báo số 72/TB-VC2-V1 ngày 01/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Trần Duy Trí và đồng phạm, về tội “Cố ý gây thương tích” bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung: Mặc dù Trí và Minh không trực tiếp dùng hung khí nguy hiểm đánh, chém các bị hại, nhưng các bị cáo đã tiếp nhận ý chí lẫn nhau khi đồng ý tham gia và đã cùng đi đến khu vực hẹn nhau, tạo điều kiện giúp sức về mặt tỉnh thần cho Nguyễn Minh Duy, Trần Bình Tuấn và Trương Quang Khánh thực hiện hành vi phạm tội, nên hành vi phạm tội của Trần Duy Trí và Mai Văn Minh đã cấu thành tội “Giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự, với vai trò đồng phạm giúp sức.
Tải về
21. Thông báo số 73/TB-VC2-V1 ngày 01/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án hình sự phúc thẩm bị hủy do áp dụng không đúng pháp luật
Sơ lược nội dung: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ”, được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa cấp phúc thẩm chỉ áp dụng tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm”, mà không xem xét tỉnh tiết định khung “Có tính chất côn đồ” đối với bị cáo là không đúng pháp luật. Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, xử phạt Phùng Minh Hiệp 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo là áp dụng không đúng pháp luật.
Tải về
22. Thông báo số 58/TB-VC2-V1 ngày 14/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Nguyễn Hồng Tiến bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung: Với tỷ lệ thương tích này và với việc dùng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho bị hại thì Tiến phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 134 BLHS. Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm chỉ xác định Tiến gây thương tích cho Trường 15%, từ đó truy tố, xét xử Tiến theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự và xử phạt Tiến 02 năm 6 tháng tù là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Sau khi gây án, Nguyễn Hồng Tiến bỏ trốn, gây khó khăn cho quá trình điều tra, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cho Tiến hưởng án treo là vi phạm Nghị quyết 02/2018/HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.
Tải về
23. Thông báo số 103/TB-VC2-V1 ngày 10/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kinh nghiệm đối với vụ án Nguyễn Đình Sang cùng đồng phạm, phạm tội “Cố ý gây thương tích” bị hủy án để điều tra lại
Sơ lược nội dung: Các bị cáo Trọng và Tuấn khai chỉ dùng sống dao đánh vào lưng, vai và hông của bị hại Trinh và không biết Sang đánh vào vị trí nào của Trinh, có thể gây cho Trinh tử vong hay không. Tuy nhiên, hành động của Trọng, Nghiệp, Tuấn đã thể hiện sự thống nhất ý chí với Sang về việc cùng đi đánh nhau và trực tiếp cùng với Sang dùng hung khí tấn công bị hại nên các bị cáo Trọng, Tuấn, Nghiệp phải cùng chịu chung hậu quả và đồng phạm với tội danh bị cáo Sang đã thực hiện với vai trò cùng là người thực hành.
Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Đình Sang về tội “Giết người” nhưng lại xét xử các bị cáo Trọng, Tuấn, Nghiệp và Việt về tội “Cố ý gây thương tích” là đánh giá không đúng vai trò đồng phạm, không đúng tội phạm các bị cáo Trọng, Tuấn, Nghiệp và Việt đã thực hiện.
Tải về
24. Bản án hình sự phúc thẩm số 04/2023/HSPTNCTN ngày 24/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
Sơ lược nội dung: Bị cáo N là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế, là người chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, chưa có tài liệu nào xác định bị cáo là người hung hăng, hay gây sự, hay sử dụng vũ lực tấn công người khác ở địa phương. Chỉ vì lý do, L nhờ N giải hòa, không thuê, không nhờ N đánh U hoặc người nào khác, quá trình cháu L và U nói chuyện N thấy M chỉ tay về phía mình, chỉ do hiểu lầm cháu M nói xấu mình nên N mới bực tức cầm 01 chiếc mũ bảo hiểm đánh My. Hậu quả xảy ra làm cháu M mất tỷ lệ phần trăm sức khỏe nêu trên là do N gián tiếp gây ra chứ không phải do sử dụng hung khí gây thiệt hại trực tiếp. Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết “Có tính chất côn đồ” theo điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là chưa có cơ sở, cần sửa án sơ thẩm không áp dụng tình tiết này đối với bị cáo Vũ Vi N.
Tải về
25. Bản án hình sự phúc thẩm số 335/2024/HS-PT ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
Sơ lược nội dung: Khi H và T gặp nhau thì giai đoạn chuẩn bị phạm tội theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự không còn nữa. Trong vụ việc xảy ra H là bị hại trong vụ án mà Tòa án Quân sự khu vực Quân khu 7 đã xử Nguyễn Phước Nam T và Trương Ngọc Hoàng H2, mỗi bị cáo 02 (H3) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự là để ngăn chặn sớm hành vi chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích, tức là chưa có bị hại và chưa có hậu quả xảy ra nhưng không thể lường trước được mức độ nguy hiểm sẽ xảy ra như thế nào nếu không ngăn chặn, phòng ngừa sớm. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử Nguyễn Quốc H theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự là chưa đủ cơ sở.
Tải về
26. Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2025/HSST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình
Sơ lược nội dung: Hành vì cầm 01 con dao làm bằng kim loại màu đen dài khoảng 60cm. đầu bằng, phần lưỡi dao sắc dài khoảng 45cm, rộng khoảng 6.5cm, phần cán có chiều dài 15cm (con dao số 1) là hung khi nguy hiểm, chém 01 phát theo hưởng từ trên xuống dưới, chếch chéo từ phái sang trái trúng vào vùng vai bên phải của anh B gây thương tích rách da, chảy máu với tỷ lệ thương tích là 4% của bị cáo Trần Văn T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Áp dụng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 2 Luật số 42/2024/QH13 ngày 29/6/2024 của Quốc hội về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, bị cáo phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Tải về
Các tổng hợp nội dung có liên quan:
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội giết người
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội
Tổng hợp nội dung hướng dẫn Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
—————————
CÔNG TY LUẬT TNHH MỘT THÀNH VIÊN AMI (AMI LAW FIRM)
– Địa chỉ: 28 Trần Quý Cáp, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
– Điện thoại: 0941.767.076
– Email: amilawfirmdn@gmail.com
– Website: https://amilawfirm.com/
– Fanpage: https://www.facebook.com/AMILawFirm








